Trong những năm qua, gạo luôn là mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam được các nhà hoạch định chính sách xếp vào nhóm có sức cạnh tranh cao. Sự phát triển lúa gạo là một trong những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong công cuộc đổi mới kinh tế.
Năm 1986, diện tích gieo trồng lúa chỉ có 5688,6 nghìn ha, năng suất bình quân 28,1 tạ/ha/vụ và sản lượng là 16,9 triệu tấn thì đến năm 2006 con số tương ứng là: 7320 nghìn ha, 48,9ta/ha và 35,83 triệu tấn. Xu hướng này còn tiếp tục tăng trong những năm tới vì tiềm năng tăng năng suất vẫn còn. Tốc độ tăng sản lượng lương thực luôn luôn cao hơn tốc độ tăng dân số, nên lương thực bình quân đầu người của Việt Nam tăng dần. Nếu như năm 1990 lương thực bình quân đầu người mỗi năm là 324,4 kg thì đến năm 1995 là 372 kg và đến năm 2006 là
420 kg. Đã giúp nước ta khắc phục một cách cơ bản tình trạng thiếu đói giảm nghèo kéo dài nhiều thập kỷ trước đổi mới, tạo đà cho việc ổn định an ninh lương thực quốc gia, đẩy mạnh được hoạt động xuất khẩu gạo với vị trí nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới (chỉ sau Thái Lan) và dẫn đầu thế giới về tăng sản lượng lương thực. Điều này được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.7: Sản lượng xuất khẩu gạo chính của một số nước trên thế giới.
( Đơn vị tính: 1000 tấn)
Năm 2003-2004 2004-2005 2005-2006 2006-2007
Việt Nam 3.800 5.100 5.300 4.800
Thái Lan 10.137 7.250 7.700 7.500
ấn Độ 3.172 4.500 4.000 3.500
Pakistan 1.986 2.650 2.850 3.500
Mỹ 3.090 3.900 3.750 3.700
Ai Cập 820 1.100 1.100 1.000
Myanmar 130 175 200 100
(Nguồn: số 232 tạp chí thị trường giá cả 7-2006)
Nhìn vào bảng số liệi trên ta có thể thấy rằng Việt Nam là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thê giới. Sản lượng gạo xuất khẩu của Viêt Nam là ổn định.
Năm 1989, Việt Nam xuất hiện trên thị trường thế giới với tư cách là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới sau Thái Lan và Mỹ và trong 15 năm liên tục, hạt gạo Việt Nam luôn có mặt trên thị trường thế giới với số lượng và chất lượng ngày càng cao. Năm 1999, năm thứ 11 Việt Nam đã xuất khẩu 4,5 triệu tấn gạo, vượt kế hoạch 55 vạn tấn; thu về cho đất nước 1,025 tỷ USD với giá bình quân 227 USD/tấn, đạt kỉ lục về số lượng và giá trị kể từ năm
Mỹ và ấn Độ, Việt Nam trở thành cường quốc xuất khẩu gạo với thị trường mở rộng trên 50 nước và vùng lãnh thổ, trong đó có cả thị trường khó tính ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Nhật Bản.
Trong bối cảnh, thị trường gạo thế giới năm 1999 cung vượt cầu kéo theo giá gạo giảm mạnh (giá gạo 100% Thái Lan từ 290 USD/tấn quí I xuống 232 USD/tấn quí IV-99) thì những kết quả đạt được của nước ta như trên là một thành công đáng ghi nhận. Thành công đó bắt nguồn từ kết quả về sản lượng lương thực mà năm 1999 đạt được trên 34,2 triệu tấn, trong đó riêng lúa là 31,4 triệu tấn, lúa hàng hoá khoảng 12 triệu tấn, trong đó có gần 10 tấn lúa chất lượng cao đủ tiêu chuẩn xuất khẩu với giá cạnh tranh. Chính yếu tố này đã tạo nguồn hàng phong phú và ổn định đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu thường xuyên và đột xuất của thị trường thế giới trong năm này.
Biểu đồ 2.8: Tình hình xuất khẩu gạo của Việt Nam giai đoạn 1989-1999
Đơn vị:
Sản lượng (1000 tấn);
Kim ngạch
xuất khẩu (Triệu
USD) S ang năm 2000, thời tiết diễn biến phức tạp, thiên tai lũ lụt xảy ra ở nhiều nơi trên phạm vi cả nước, đặc biệt là
1420 1624
1033 1946
1722
1983 1988 3003
3575 3730 4508
290 374 234
418 362 424 530
855 870 1024 1025
0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000 4500 5000
1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 Sản lư ợ ng K im ngạ ch xuất khẩu
ĐBSCL nhưng nhờ có sự chỉ đạo và điều hành sát sao của Chính Phủ, của các cấp, các ngành cùng với sự nỗ lực của nhân dân các địa phương nên nhìn chung sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất lương thực nói riêng nhanh chóng được khôi phục và đạt kết quả khá, đời sống nhân dân sớm đi vào ổn định. Theo đánh giá của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, tổng sản lượng lúa cả nước năm 2000 vẫn đạt 32,6 triệu tấn, tăng gần 1,2 triệu tấn so với năm 1999, điều này đưa nguồn cung gạo cho xuất khẩu vẫn duy trì ở mức cao 3,5 triệu tấn. Hơn nữa cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực và cuộc khủng hoảng dầu lửa trong năm 2000 đã ảnh hưởng phần nào đến nhịp độ buôn bán các mặt hầng nguyên liệu thô trong đó có gạo. Các tác động này đã làm giá gạo trên thị trường thế giới bắt đầu giảm xuống từ đầu năm, cho đến cuối năm xuất khẩu gạo của Việt Nam so với năm 1999 đã bị giảm đi 16% về g năm 1999). Tuy nhiên cũng cần phải kể đến một nguyên nhân nữa làm giảm giá gạo trên thế giới đó chính là ngành gạo của các nước nhập khẩu gạo lớn như: Inđônêsia, Philippin, Trung Quốc… đang dần dần phục hồi sau 2 năm mất mùa vì biến động thời tiết, các nước này đều tuyên bố có khả năng tự cung cấp tự cấp gạo.
Năm 2001 xuất khẩu gạo đạt trên 3,7 triệu tấn, trợ giá hơn 600 triệu USD, măc dù tăng khoảng 7% về lượng song cũng là thành công vì đã hoàn thành được những nhiệm vụ cơ bản:
xuất khẩu vượt chỉ tiêu 3,5 triệu tấn do chính phủ đề ra, tiêu thụ hết thóc hàng hoá, chặn đà giảm sút giảm sút của giá thóc, gạo trong nước. Tuy vậy xét về kim ngạch thì vẫn giảm 6%.
Nguyên nhân là trong những tháng đầu năm 2001 giá gạo vẫn giảm mạnh do ảnh hưởng từ năm 2000, các Doanh nghiệp của Việt Nam vẫn ký hợp đồng bán gạo với giá thấp, nhưng bắt đầu từ tháng 6-2001 giá gạo tăng cao dần thì ta lại không có gạo để xuất vì phải xuất gạo theo hợp đồng đã ký. Đó chính là lý do làm cho lượng gạo xuất khẩu tăng mà gía trị xuất khẩu gạo lại giảm trong năm 2001.
Sản xuất nông nghiệp trong năm 2002 gặp nhiều khó khăn to lớn, có mặt gay gắt hơn 2001 đó là thiên tai diễn ra trên diện rộng, kéo dài từ đầu năm dến cuối năm: hạn hán gay gắt ở Đông Nam Bộ,Tây Nguyên và Miền Trung, lũ lớn kéo dài và ngập sâu ở vùng ĐBSCL, mưa lớn, lốc xoáy và lũ quét xảy ra gây thiệt hại nặng nề về tài sản, mùa màng và sinh mạng ở nhiều vùng và địa phương.Tuy vậy sản xuất nông nghiệp vẫn đạt mức tăng trưởng khá, năng xuất lúa cả năm đạt 45,1 tạ/hecta, sản lượng đạt 35,9 triệu tấn. Nhờ đó mà khối
lượng gạo xuất khẩu đạt 3,24 triệu tấn (giảm 13%) và đạt kim ngạch trên 700 triệu USD (tăng 16%) so với năm 2001. Đó là vì chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong năm 2002 đã được nâng cao rõ rệt, do đó giá thành cũng cao hơn những năm trước.
Năm 2003, mặc dù diện tích đất trồng lúa bị giảm do chuyển sang nuôi trồng các cây con khác, nhưng vẫn đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu đồng thời đảm bảo an ninh lương thực. Trong năm này sản lượng gạo xuất khẩu Việt Nam đạt khoảng 3,8 triệu tấn, thu về trên 750 triệu USD. Sang năm 2004, theo Tổng cục thống kê, xuất khẩu gạo đạt 4,055 triệu tấn, tăng 6% so với năm trước, trong đó số lượng gạo thơm là 100000 tấn, trong đó 90% là gạo Jasmin với mức giá khá cao, phổ biến từ 280-340 USD/tấn, loại gạo KDM có mức giá lên tới 380- 420 USD/tấn. Tuy nhiên, theo đánh giá của Hiệp hội lương thực Việt Nam, việc mở rộng thị trường gạo thơm Việt Nam hiện đang gặp không ít khó khăn do sản lượng hàng hoá không lớn, không đáp ứng yêu cầu cung cấp thường xuyên và liên tục cho khách hàng. Nhờ giá xuất khẩu gạo bình quân năm 2004 đã tăng tới 22,8% (43,16 USD/tấn) so với năm 2003, đạt 232,06 USD/tấn, nên kim ngạch xuất khẩu gạo năm 2004 đã tăng 30,6% so với năm trước, đạt 941 triệu USD, chỉ thấp hơn mức kỉ lục năm 1999.
Biểu đồ 2.9: Lượng gạo xuất khẩu và giá gạo xuất khẩu bình quân giai đoạn 2000- 2004
Nguồ n:
Thời báo kinh tế Việt Nam 2004-
2005
Theo Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, năm 2005 xuất khẩu gạo đạt 5.2 triệu tấn, đạt kinh ngạch 1.4 tỷ USD các doanh nghiệp xuất khẩu gạo của Việt Nam đã kí thêm
3240
672 619 726 734 941
4055
3476 3729 3815
192 232
165
224
189
2000 2001 2002 2003 2004
Lư ợ ng gạ o xuất khẩu (triệu tấn) Kim ngạ ch xuất khẩu (triệu USD) Giá gạ o xuất khẩu (USD/tấn)
nhiều hợp đồng xuất khẩu gạo vào các thị trường Philippin, Trung Đông, và Nam Mỹ. Sang năm 2006, các hợp đồng xuất khẩu gạo dừng lại ở mức 4,8 triệu tấn. So với kế hoạch (5 triệu tấn) thỡ chưa đạt, nhưng điều quan trọng hơn không phải ở chỗ chúng ta xuất khẩu được bao nhiêu tấn, mà là được bao nhiêu tiền. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, năm 2006, xuất khẩu gạo được giỏ, bỡnh quõn 259 USD/ tấn, tăng 8 USD/tấn so với những năm trước, đạt kim ngạch 1,38 tỷ USD.
Bảng 2.10: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam từ 1989- 2006.
Năm Sản lượng xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu Sản lượng
( 1000 tấn)
Thay đổi so với năm trước( %) .
Kim ngạch (triệu USD)
Thay đổi so vối năm trước(%),
1989 1.420 __ 290,0 __
1996 3.003 +51,05 868,4 +63,82
1999 4.550 +19,74 1.012,0 - 1,84
2000 3.500 - 23,08 668,0 - 33,99
2001 3.729 +6,54 624,4 - 6,48
2002 3.240 - 13,11 725,5 +16,12
2003 3.800 +17,3 715,16 -1,5
2004 5.100 +1628,8 1.183,2 +2031,12
2005 5.000 -0,02 1.375 +16,21
2006 4.800 -0,04 1.305 -0,05
( Nguồn: Tổng cục thống kê - Bộ Thương mại)
Theo như bảng trên cho ta thấy những năm qua, kim ngạch xuất khẩu gạo đã đóng một vai trò quan trọng trong sản lượng tích luỹ vốn cho quá trình phát triển đất nước. Từ năm 1989 dến năm 2006, Việt Nam đã xuất khẩu trên 53,7 triệu tấn gạo đạt kim ngạch xuất khẩu gần 11.918,72 triệu USD. Gạo đã trở thành 1 trong 8 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, và kim ngạch xuất khẩu gạo chiếm một tỷ trọng đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Dưới đây là bảng tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam :
Bảng 2.11: Kim ngạch xuất khẩu gạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu.
NNăăm m KNKNXXKK (t(trriiệệuu UUSSDD))
KKNNXXKK GGạạoo ((ttrriiệuệu UUSSDD))
TỷTỷ ttrrọọnng g ((%%))
1990 2.2.440044 303044,,66 1313 19199797 9.9.118855 909000,,00 99,8,8 19199898 9.9.336600 1.1.003131,0,0 1111 19199999 1111..554400 1.1.001212,0,0 88,8,8 20200000 1144..330088 666688,,00 44,6,6 20200101 1155..002277 626244,,44 44,2,2 2
2000202 1166..553300 727255,,55 44,4,4 20200303 2206066262,5,5 715,16 33,4,466 2
2000404 2727.8.8116,6,22 1183,2 44,3,3 20200505 3388..332200 1375 33,6,6 20200606 3399..660000 1305 33,3,3
( ( nngguuồồn:n: bbộộ TThhưươnơngg mmạại i ))