Giá cả xuất khẩu

Một phần của tài liệu Tác động của việc gia nhập WTO đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam (Trang 36 - 40)

Giá cả do chất lượng, điều kiện thương mại, quan hệ cung cầu quyết định. Hiện nay trên thị trường thế giới có rất nhiều loại gạo, với mỗi loại gạo, sự biến động về giá cũng khác nhau, giá cả biến động còn phụ thuộc vào thời vụ. Giá gạo của thế giới trong những năm qua thường xuyên biến động. Gạo Việt Nam chưa có được thị trường tiêu thu ổn định để đảm bảo sản xuất và giữ giá ở mức độ khuyến khích người sản xuất gạo. Do vậy, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam so với giá thế giới còn cách biệt. Song sự chênh lệch đó ngày càng giảm. Nếu khoảng cách giữa giá gạo Việt Nam với giá gạo Thái Lan là 40-55 USD/tấn những năm 1989- 1994, thì đến những năm 1995-2000 giảm xuống còn 20-25 USD/tấn. . Như vậy giá gạo của Thái Lan luôn cao hơn giá gạo của Việt Nam 10-13%, nhưng không phải do Việt Nam tự động hạ giá mà buộc phải chấp nhận mức giá thấp, cách biệt khá xa so với mặt hàng gạo quốc tế vì chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của thị trường như: chất lượng sản phẩm còn thấp và không đồng đều, cơ sở hạ tầng phụcvụ xuất khẩu gạo vừa thiếu vừa kém, năng lực bốc xếp thấp, chi phí cao, thiếu ổn định trong việc cung ứng hàng.

Bảng dưới đây cho thấy sự thua thiệt về gía gạo xuất khẩu của Việt Nam so với Thái Lan:

Bảng2.12: Giá gạo của Việt Nam và Thái Lan trên thị trường thế giới.

(Đơn vị: USD/tấn).

Năm Giá FOB Thái Lan- loại 5% tấm

Giá FOB Việt Nam- loại 5% tấm

Chênh lệch

1989 311 236 - 75

1997 265 245 - 20

1998 285 270 -15

1999 240 232 - 8

2000 190 174 -16

2001 181 198 +17

2002 200 197 - 3

(Nguồn: Ngoại thương 1 – 2002)

Từ thập kỷ 60 trở lại đây người ta thường dựa vào giá xuất khẩu gạo của Thái Lan (điều kiện giao hàng FOB - Băngkok) làm giá quốc tế mặt hàng gạo, giá này được xem là giá chuẩn mực, phản ánh được thực chất quan hệ cung -cầu và quy luật vận động của giá cả trên thị trường gạo thế giới. Giá gạo thế giới trong những năm qua thường xuyên thay đổi và có xu hướng giảm. Trong thập kỷ 90, cuộc khủng hoảng tài chính Đông á và yếu tố thời tiết đã làm giảm nhu cầu gạo trên thị trường, gây ra việc giảm giá gạo quốc tế. Có thể dẫn ra đây giá gạo FOB - Bangkok, loại gạo 5% tấm: năm 1989 là 311 USD/tấn, thì đến năm 1999 là 240 USD/tấn. Tuy nhiên từ năm 2000 trở lại đây, giá gạo trên thị trường thế giới đã “khởi sắc”

hơn do các nước Đông á nền kinh tế đang đi vào giai đoạn phục hồi nên nhu cầu nhập khẩu gạo tăng lên, cộng với tốc độ tăng thu nhập bình quân trên đầu người cao ở một số nước Châu á dẫn đến nhu cầu gạo tăng đặc biệt là gạo phẩm cấp cao.

Cho đến nay Việt Nam hầu như chỉ xuất khẩu gạo theo điều kiện FOB là chính, thêm vào đó xuất khẩu gạo của Việt Nam còn mang tính chất từng chuyến, từng đợt nên khó tìm được bạn hàng và thị trường ổn định. Phần lớn gạo xuất khẩu của Việt Nam phải xuất sang Singapore để tái xuất khẩu vì không tìm được thị trường trực tiếp. Đây cũng là nguyên nhân làm cho giá gạo Việt Nam thua thiệt rất nhiều. Mặt khác, nước ta nằm trong khu vực Châu á, nơi có nhiều nước cũng xuất khẩu gạo nên thường bị cạnh tranh, chèn ép giá trên thị trường xuất khẩu. Việc thiếu hụt thông tin thị trường và kinh nghiệm kinh doanh đã làm cho giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn các nước láng giềng.

Một trong những nguyên nhân chính của sự chênh lệch giữa giá gạo Thái Lan và giá gạoViệt Nam vẫn là yếu tố chất lượng. Giá gạo Việt Nam cũng tăng dần cùng xu hướng tăng của chất lượng gạo và quan hệ cung cầu với thị trường lúa gạo thế giới. Khoảng cách giữa giá gạo Việt Nam với giá gạo Thái Lan đã giảm dần: từ 40 - 55 USD/tấn những năm 1989 - 1994

xuống còn 20 - 25 USD/tấn những năm 1995 - 2000. Năm 1998 do đồng Batt Thái Lan mất giá, nên giá gạo Việt Nam đã tiếp cận giá gạo Thái Lan. Do nhu cầu giảm so với cùng kỳ năm 1998 giá thị trường thế giới năm 1999 luôn ở mức thấp, vì vậy nên giá gạo xuất khẩu của Việt Nam không cao, giá xuất khẩu cả năm trung bình chỉ ở mức xấp xỉ 221 USD/tấn. Đây là mức giá thấp nhất so với giá trung bình từ năm 1995 trở lại đây.

Sang năm 2000 tổng lượng xuất khẩu đạt 3,5 triệu tấn, tổng kim ngạch đạt 668 triệu USD, so với năm 1999 thì lượng giảm 1,17 triệu tấn và giá trị giảm 360 triệu USD. Với kết quả xuất khẩu như trên, tính toán cho thấy giá xuất khẩu bình quân năm 2000 đạt 188 USD/tấn, thấp hơn mức giá bình quân năm 1999 là 3USD/tấn và năm 1998 tới trên 87 USD/tấn. Nguyên nhân là do lượng gạo giao dịch trên thị trường thế giới giảm liên tục từ 25 triệu tấn năm 1999, xuống còn 22,3 triệu tấn năm 2000. Sự sút giảm liên tục như vậy đã làm cho giá thị trường gạo thế giới giảm mạnh và cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn.

Cuối năm 2000 và đầu năm 2001, giá gạo thế giới liên tục giả nhưng bắt đầu tăng từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2001. Cụ thể, giá gạo FOB tại Việt Nam vào tháng 5/2001, loại 5% tấm là 158 USD/tấn, loại 25% tấm là 137 USD/tấn. Song từ tháng 8/2001giá gạo Việt Nam đột ngột tăng, lần đầu tiên kể từ nhiều năm nay giá gạo Việt Nam đắt hơn giá gạo Thái Lan trên thị trường quốc tế, giá gạo 5% tấm của Việt Nam giá 175 USD/tấn trong khi đó giá gạo Thái Lan cùng loại là 169 USD/tấn. Tính đến cuối tháng 12/2001 giá gạo Việt Nam cao hơn trên 20 USD/tấn so với giá gạo xuất khẩu cùng loại của Thái Lan, trong khi thông thường giá gạo Việt Nam rẻ hơn 15 - 25 USD/tấn. Nguyên nhân là do trong năm 2001 lũ lụt lại xảy ra ở ĐBSCL, mặc dù không gây thiệt hại nhiều tới sản lượng nhưng việc thu gom, phơi sấy và vận chuyển gạo gặp nhiều khó khăn, đẩy chi phí lên cao. Cùng với chi phí cao là việc Việt Nam khan hiếm nguồn cung gạo xuất khẩu do các nhà xuất khẩu đã mua gạo bằng mọi giá để gấp rút hoàn thành những hợp đồng đã ký với Irăc, Châu Phi, Philippin và Cuba, trong khi đó nông dân lại không muốn bán thóc ra vì chưa biết tiến triển lũ lụt và sản lượng vụ thu hoạch sau thế nào.

Bước sang 2002, chất lượng gạo được nâng cao, các loại gạo cao cấp, gạo tám thơm, gạo đồ của DNTN khi đưa mẫu chào hàng đã được các công ty nước ngoài đặt mua ngay với giá cao. Năm 2002, Việt Nam tuy xuất khẩu gạo với khối lượng thấp hơn 2001 nhưng lại thu về

giá trị cao hơn. Trong năm 2003, gạo của Việt Nam không chỉ giữ giá, mà còn được chào bán tăng (giá FOB) 5-6 USD/tấn. Gạo 5% tấm chào bán với giá 186-187 USD/tấn và gạo 25%

tấm chào bán 168-170 USD/tấn.

Năm 2004, theo Bộ Thương mại Việt Nam sau một tháng liên tục giảm, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tăng trở lại, đạt 205-230 USD/tấn (gạo 25% và 5% tấm), tăng 5-10 USD/tấn, cụ thể giá gạo loại 5%, 10%, 15%, và 25% tấm đã đạt mức 231, 229, 226 và 222 USD/tấn.

Mặc dù tăng nhưng giá chào bán gạo của Việt Nam những tháng cuối năm 2004 vẫn thấp hơn 22-27 USD/tấn so với giá chào bán gạo cùng loại của Thái Lan, đây là nguyên nhân đã thúc đẩy nhu cầu nhập khẩu đối với gạo Việt Nam tăng. Tại Thái Lan, giá chào bán gạo quý IV/2004 đã đạt 264,2 USD/tấn, FOB (100% B); 259 USD/tấn, FOB (25% tấm); 264 USD/tấn, FOB (5% tấm).

Biểu đồ 2.13: Giá gạo 5% tấm của Thái Lan, Việt Nam năm 2004

Đơn vị: USD/tấn

233 263

205 226 226

221 232 235

Quý I Quý I I Quý I I I Quý I V

Thá i Lan Việt Nam

Nguồn Thời báo kinh tế Việt Nam 2004-2005

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (Vietfood), giá gạo xuất khẩu trên thế giới sẽ tiếp tục đứng ở mức cao trong năm 2005 do cung vẫn thấp hơn cầu, đặc biệt là một số nứơc xuất khẩu gạo, như Trung Quốc, ấn Độ.. có khả năng giảm lượng gạo xuất khẩu.Bộ Thương mại cho biết năm 2005, giá chào bán gạo xuất khẩu của Việt Nam là 255 - 256 USD/tấn (gạo 5% tấm), và 234-244 USD/tấn (25% tấm).

Tính đến trung tuần tháng 8/2006, mặt hàng gạo trên thị trường Châu Á đó tăng giá

do nguồn gạo của một số nước xuất khẩu lớn như Ấn Độ, Pakistan... giảm mạnh đó làm cho giỏ chào gạo xuất khẩu của Việt Nam tăng 4 – 6 USD/tấn. Thời điểm giữa tháng 8, gạo 5%

tấm xuất khẩu của Việt Nam đó là 268 – 270 USD/tấn; 25% tấm là 244 - 248USD/tấn.

Nhưng đến thời điểm giữa tháng 9, gạo 5% tấm đó lờn tới 282USD/tấn, gạo 15% tấm đó tăng lên tới 265USD/tấn. Ngoài ra, sự kiện đảo chính ở Thái Lan diễn ra đêm 19/9 cũng là một nguyên nhân không nhỏ làm cho giá gạo tăng. Tính đến cuối tháng 9, cả nước đó xuất khẩu 4,105 triệu tấn gạo, với kim ngạch thu về trên 1 tỉ USD. Tuy nhiên, mức xuất khẩu này đó giảm 8,4% về lượng và 7,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2005.

Trong khi đó, giá gạo xuất khẩu của Thái Lan - đối thủ cạnh tranh lớn của gạo Việt Nam vẫn đứng ở mức cao do nguồn cung hạn chế mặc dù nhu cầu không nhiều.. Đến cuối tháng 9, giá gạo 100% loại B của Thái Lan đứng ở mức 316 – 325 USD/tấn, FOB ; gạo 5%

tấm ở mức 315 – 320 USD/tấn; gạo 100% sortexed ở mức 312 – 320 USD/tấn.

Dự báo giá gạo Việt Nam sẽ vẫn tăng lên do nhu cầu cao, trong khi gạo Thái Lan có thể giảm nhẹ trong tháng 5-6/2007 bởi nguồn cung dồi dào, sau đó sẽ đồng loạt tăng vỡ nhu cầu nhập khẩu trên thị trường thế giới sẽ tiếp tục mạnh và các nước sản xuất lớn (các chính phủ Thái Lan, Việt Nam và Campuchia) xác định sẽ đảm bảo duy tr ỡ giỏ ở mức hợp lý.

Bảng2.14: Diễn biến giá gạo, USD/tấn, FOB

Xuất xứ Loại Giá 11/5/2007 Giá 3/5/2007

Thái Lan 100% B 325-327 325

5% tấm 313-316 315

Việt Nam 5% tấm 297-300 298-300

25% tấm 285 284

Một phần của tài liệu Tác động của việc gia nhập WTO đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam (Trang 36 - 40)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(91 trang)