Trong nhiều năm nay khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam khá lớn nhưng kim ngạch thu về lại không tương xứng. Giá gạo Việt Nam trên thị trường thế giới luôn luôn thấp hơn các nước xuất khẩu gạo chính khác nhất là so với Thái Lan. Giá gạo xuất khẩu thì do nhiều yếu tố cấu thành nên, vậy để nâng cao giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường quốc tế thì ta cần xem xét và đề ra biện pháp cho từng yếu tố:
Giá gạo và chất lượng gạo có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, chất lượng gạo xuất khẩu quyết định giá gạo xuất khẩu. Gạo có chất lượng càng cao thì bán được giá càng cao, do đó để tăng giá gạo thì cần quan tâm đến khâu chất lượng gạo. Trước hết cần khẩn trương hoàn thành quy hoạch vùng lúa xuất khẩu cả nước và kế hoạch cụ thể ưu tiên, đầu tư vốn và khoa học kỹ thuật để phát triển lúa trong từng thời kỳ phù hợp với quy hoạch và kế hoạch xuất khẩu gạo của cả nước. Bên cạnh đó cần thâm canh tăng năng suất lúa gạo chọn giống lúa xuất khẩu có chất lượng cao cộng với công nghệ chế biến hiện đại, hệ thống kho tàng bến bãi bảo quản gạo xuất khẩu đúng tiêu chuẩn quốc tế. Khi chất lượng gạo xuất khẩu được nâng cao sẽ dẫn đến giá gạo của Việt Nam cũng cao hơn.
Những năm qua thị trường nhập khẩu gạo Việt Nam chủ yếu là nước đang và kém phát triển, do đó gạo phẩm cấp thấp, cụ thể là tỷ lệ gạo gãy 2 – 2,5%, vẫn chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng lượng gạo xuất khẩu, tuy nhiên để giá gạo cao hơn Việt Nam cần sản xuất nhiều gạo chất lượng cao phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của các thị trường khó tính. Đặc biệt các loại gạo đặc sản truyền thống cần được phát triển sản xuất trên quy mô lớn hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của một số nước như Nhật Bản, Mỹ ưa chuộng gạo thơm của Việt Nam.Thực tế cho thấy giá các loại gạo đặc sản thường cao gấp đôi những loại gạo khác, chẳng hạn như gạo đặc sản Hoa nhài của Thái Lan luôn xuất đi với mức giá từ 740-800 USD/tấn trong khi đó loại gạo 5% tấm chỉ bán được với giá vào khoảng 280-320 USD/tấn.
Giá gạo xuất khẩu còn chịu ảnh hưởng của giá thóc gạo trong nước. Vì vậy muốn ổn định và nâng cao giá gạo xuất khẩu thì cần quan tâm ổn định giá gạo trong nước. Hiện nay Nhà nước đã thực hiện chính sách thu mua tạm trữ và quy định giá sàn. Trước hết nhằm giảm bớt thiệt hại cho nông dân trồng lúa, Chính Phủ đã áp dụng quy định giá sàn đối với hoạt động thu mua thóc, đồng thời năm 2000 và đầu năm 2001 thực hiện mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo với mục tiêu quan trọng là nhằm xuất khẩu gạo đạt được giá cao ở mức có thể đạt được chứ không phải là để xuất khẩu ồ ạt vào thời điểm mất giá nhiều nhất như thực tế đã xảy ra. Nhà Nước còn hỗ trợ chi phí vay vốn và những khoản lỗ phát sinh cho các DN thực hiện mua tạm trữ và xuất khẩu lượng gạo dự trữ. Nhà nước rất quan tâm đến
việc bình ổn giá cả và thu mua lúa gạo. Chính sách này nhằm hạn chế tình trạng tranh mua - tranh bán và làm cho người nông dân có lợi ích thoả đáng. Tránh tình trạng như vụ Đông Xuân năm 1997, vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long được mùa, các công ty quốc doanh tổ chức các điểm mua bán lúa tận dân với giá sàn 1500 -1600 đ/kg. Tuy nhiên khi bước vào vụ thu hoạch lại để cho tư thương thao túng thị trường mua ép với giá khoảng 1000đ/kg. Do vậy, Nhà nước cần quan tâm, chỉ đạo thu mua nông sản nói chung và lúa gạo nói riêng một cách thống nhất và đồng bộ nhằm khuyến khích người dân sản xuất cũng như tăng hiệu quả xuất khẩu gạo. Trong chính sách này Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ nông dân khi giá lúa xuống thấp hơn giá sàn, cần phát huy vai trò quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân các tỉnh trong vùng trong vấn đề vốn và tổ chức thu mua, cuối cùng nên có những chính sách điều tiết lợi nhuận cho người trồng lúa.
Phân tích và dự báo thị trường thế giới để có các biện pháp phù hợp nhằm giảm thiểu sự xuống giá của gạo xuất khẩu Việt Nam.
Tỷ giá hối đoái cũng ảnh hưởng tới giá gạo xuất khẩu của Việt Nam. Chính phủ có thể quản lý và điều khiển hoạt động xuất khẩu gạo qua tỷ giá hối đoái, nhằm ổn định giá gạo của Việt Nam so với giá gạo quốc tế. Tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả xuất khẩu gạo vì nó biểu hiện mối quan hệ tương đối về giá (giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ USD). Nếu giá trị đồng đôla lên cao hơn so với tiền Việt Nam thì xuất khẩu là có lợi do thu mua bằng tiền Việt Nam và bán bằng đôla, nhưng điều này lại có hại đến các nhà xuất khẩu hàng hoá khác. Vì tỷ giá luôn có sự biến động nên các Doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đều bị ảnh hưởng nhất định theo hướng có lợi và bất lợi. Nhưng tỷ giá nào là phù hợp ? Đó là cả quá trình điều chỉnh có tính nghệ thuật xuất phát từ lợi ích của nền kinh tế xã hội. Do vậy cần có sự linh hoạt cần thiết. Đối với Việt Nam trước cạnh tranh ưu thế về chất lượng kỹ thuật, giá thành và trợ giá hàng nông phẩm so với các nước xuất khẩu khác thì nới rộng tỷ giá hối đoái là một trong những biện pháp khắc phục tình thế để tăng khả năng cạnh tranh đối đầu, giữ thị trường cho hàng hoá xuất khẩu của mình. Theo dự đoán tốc độ tăng tỷ giá hối đoái của các nước trong khu vực ở mức 1 - 2%, giá trị đồng đôla vẫn tiếp tục tăng cùng nhịp tăng
trưởng của nền kinh tế Mỹ. Vì vậy để đảm bảo khả năng cạnh tranh trong thanh toán giao dịch của đồng bản tệ cho xuất khẩu gạo so với các nước xung quanh, tỷ giá hối đoái của đồng tiền Việt Nam cần được nới lỏng xung quanh mức bình quân 3 - 4% năm trong thời kỳ tới. Hiện nay chúng ta đang áp dụng chính sách tỷ giá cố định có linh hoạt, xét ở góc độ nào đó nó thể hiện sự ổn định của một nền kinh tế, nhưng chúng ta duy trì quá lâu, lạc hậu so với thị trường tự do nên phần nào ảnh hưởng tới xuất khẩu và hầu hết các Doanh nghiệp xuất khẩu rơi vào tình trạng khó khăn, thiếu vốn và không có lãi. Từ tháng 3 năm 1997 chính phủ đã áp dụng chính sách phá giá đồng tiền, gần đây nhất là năm 1998 (tháng 7 - 8) theo các cách thức khác nhau bằng: hạ thấp tỷ giá chính thức (VNĐ/USD) hoặc thông qua điều chỉnh phạm vi giá thương mại. Đến nay thời gian hoạt động chính thức VNĐ/USD đã được hai lần điều chỉnh, tăng lên 16,3%. Những tiến bộ này cho thấy sự phản ứng với các điều kiện của thị trường, tạo lợi thế về giá tương dối cho hàng xuất khẩu nói chung và củng cố khả năng cạnh tranh quốc tế của sản phẩm gạo nói riêng.
Nhà Nước cần thiết phải tham gia vào quá trình kinh doanh xuất khẩu gạo. Chính Phủ cần tăng cường tìm kiếm các hợp đồng xuất khẩu gạo dạng G - G (hợp đồng ký kết giữa 2 chính phủ) để phân bổ lại cho Doanh nghiệp thực hiện. Chính phủ cần có những chuyên gia dự báo thị trường gạo thế giới dày dạn kinh nghiệm để Việt Nam không bị thiệt thòi lớn khi giá gạo thế giới tăng lên.
Kết luận
Ngày 7/11/2006,Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO là một sự kiện vô cùng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế Việt Nam. Chắc chắn nó sẽ tạo ra những động lực giúp Việt Nam khắc phục có hiệu quả tình trạng kém phát triển hiện nay, có kiều kiện thu hẹp dần khoảng cách với các nước trên thế giới về trình độ phát triển. Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, được hưởng quy chế tối huệ quốc, đặc biệt sẽ tạo điều kiện cho một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong đó có xuất khẩu gạo dễ dàng thâm nhập vào thị trường thế giới, tham gia vào nhịp sống chung của nền kinh tế toàn cầu. Nhưng với sức cạnh tranh còn yếu, lại chua có được thương hiệu mạnh về gạo nên Việt Nam cũng sẽ gặp phải rất nhiều thách thức trong môi trường cạnh tranh quốc tế khốc liệt. Song lâu dài việc gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu gạo Việt Nam phát triển thuận lợi, mặc dù trước mắt còn nhiều khó khăn.
Thấy được tầm quan trọng của vấn đề hội nhập, tại đại hội Đảng IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận định: “Hội nhập quốc tế là xu thế thời đại, là con đường tất yếu để du nhập thị trường quốc tế, để tạo vốn, tiếp thu kỹ thuật mới, nhằm rút ngắn thời gian tiến hành CNH, HĐH”, đồng thời khẳng định Việt Nam cần phải: “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm được độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc và an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường”. Việc Việt Nam trở thành thành viên của WTO, một lần nữa khẳng định quyết tâm thực hiện chính sách đẩy mạnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của Chính phủ Việt Nam, một lần nữa khẳng định quyết tâm của Việt Nam trong việc hoà mình vào
“triều sóng phát triển của thế giới”.
Tài liệu tham khảo Tạp chí ngoại thương số 8/2005 Thời báo kinh tế Việt Nam 2004-2005 Tạp chí ngoại thương 1- 2002
Thời báo kinh tế Việt Nam 2004-2005
Lúa gạo Việt Nam trước thềm thiên niên kỉ mới hướng xuất khẩu - TS. Nguyễn Trung Văn- Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội – 2001
Thời báo Sài Gòn, Trung tâm kinh tế Châu á - Thái Bình Dương, 2001 Công văn số 3774TC/TCDN ngày 18/04/2002
Báo Thương mại: số 17-2001. Số 1,2,3,4,5-2002.
Báo thông tin- kinh tế - xã hội : số 2-2002
Nguyễn Trung Vân: Lúa gạo Việt Nam trước thiên niên kỷ mới- Hướng xuất khẩu.
NXB Chính Trị Quốc Gia 2001
Số liệu thống kê năm 2006- 2007, NXB Thống Kê.
Tạp chí kinh tế và dự báo : số 4-2001
tạp chí thị trường giá cả số231, 232 tháng 6, 7 năm 2006.
tạp chí thương mại số 45 năm 2006
tạp chí kinh tế và phát triển số 110 tháng 8 năm 2006
tạp chí kinh tế thương mại ngoại thương số 02 tháng1 năm 2007
Đại học Kinh tế quốc dân - Nông nghiệp nông thôn Việt Nam buớc vào thế kỉ XXI - Nhà xuất bản nông nghiệp – 2006
GS.,TS. Bùi Xuân Lưu - Bảo hộ hợp lý nông nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế - NXB Thống kê Hà Nội – 2004