Những thành tựu đạt được

Một phần của tài liệu Tác động của việc gia nhập WTO đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam (Trang 47 - 50)

Thứ nhất, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà Nước, kinh tế nông nghiệp và nông thôn nước ta đã có những bước phát triển đáng kể. Sản xuất nông nghiệp tăng trưởng với nhịp độ cao và khá ổn định (tăng bình quân 4,5% một năm). sản xuất lúa, gạo là ngành chủ lực, giữ vị trí then chốt trong nền nông nghiệp. Nếu như năm 1989, Việt Nam chính thức tham gia thị trường gạo quốc tế với vai trò khiêm tốn, thì nay quy mô và chất lượng gạo xuất khẩu Việt Nam đã tăng cao. Từ năm 1989 đến nay, sản xuất lúa gạo tăng trưởng không ngừng với tốc độ bình quân 5%/năm. Kim ngạch xuất khẩu gạo thường chiếm khoảng 30%

kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản và chiếm khoảng 15-17% thị phần gạo thế giới. Tính ưu việt của Việt Nam trong xuất khẩu gạo những năm qua là sự ổn định cao so với các nước trong khu vực. Theo đánh giá của FAO, khu vực Châu á - Thái Bình Dương, ngoài cường quốc xuất khẩu gạo Thái Lan, còn có 3 nước khác có khả năng cạnh tranh với Việt Nam trong xuất khẩu gạo là ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc. Song 19 năm qua, sản lượng gạo xuất khẩu của cả 3 nước này đều không ổn định. Còn Việt Nam phát triển ổn định và tăng trưởng nhanh, tốc độ tăng sản lượng (5%) luôn luôn cao hơn tốc độ tăng dân số (1,9%), nên lương thực bình quân đầu người tăng dần, năm sau cao hơn năm trước. Phải thừa nhận rằng, xu hướng này ít thấy trong lịch sử sản xuất lúa gạo ở các nước Châu á, và lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam.

Cũng theo FAO, trong 18 năm qua sản lượng lúa gạo thế giới tăng thêm khoảng 70 triệu tấn,

thì Việt Nam đã đóng góp 10 triệu tấn. Và chính sự tăng nhanh và ổn định của sản lượng lúa gạo Việt Nam đã góp phần tích cực giảm sự căng thẳng về thiếu lương thực trên thế giới, và xu hướng này cũng khắc phục cơ bản tình trạng thiếu đói giáp hạt ở Việt Nam kéo dài nhiều thập kỷ trước đổi mới, biến một nước nhập khẩu gạo trở thành nước xuất khẩu gạo với sản lượng liên tục ở mức cao năm liền. Ngay cả những năm thiên tai dồn dập, hạn hán và bão lụt gây hậu quả hết sức nặng nề trên phạm vi cả nước thì an ninh lương thực quốc gia vẫn giữ vững, xuất khẩu gạo vẫn tăng cả về số lượng và chất lượng, thị trường, giá cả ổn định. Nhìn lại 19 năm xuất khẩu gạo, bên cạnh sự tăng tiến về số lượng, sự tiến bộ về chất lượng là thực tế rất đáng tự hào.

Bảng 2.16: Thị phần xuất khẩu gạo của Việt Nam Năm Xuất khẩu

(nghìn tấn)

Tổng lượng xuất khẩu gạo của thế giới (nghìn tấn)

Thị phần xuất khẩu gạo của Việt Nam (%)

1997 3575 21.046 16,98

1998 3730 28.796 12,84

1999 4508 25.986 17,70

2000 3476 23.500 14,80

2001 3729 23.000 16,20

2002 3240 27.900 11,61

2003 4295 27.116 15,84

2004 5100 28.291 18,03

2005 5000 26.790 18,66

2006 4800 28600 16,78

Thứ hai, trong những năm gần đây để phù hợp với yêu cầu thị trường, cùng với sự tăng tiến về số lượng, chủng loại, chất lượng gạo của Việt Nam đã đạt được cải thiện một bước đáng kể dần dần được thị trường thế giới chấp nhận. Trong những năm đầu xuất khẩu gạo, tỉ lệ gạo chất lượng cao 5% tấm gần như không có, chỉ chiếm 0,3% tổng lượng gạo xuất khẩu, trong khi gạo cấp loại xấu, tỷ lệ tấm cao (35% và 45%) chiếm tới 92,4% tổng lượng gạo xuất khẩu. Đến năm 2006, loại gạo xuất khẩu chất lượng cao 5% tấm đã tăng lên chiếm tới 35%, loại gạo 15% tấm chiếm 40%, ngược lại, cấp loại gạo xấu, phẩm chất thấp (35 - 40% tấm) đã giảm xuống còn 11%. Nhờ cải thiện chất lượng gạo, trong những năm gần đây, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam đã tương đương với giá gạo Thái Lan (khi Việt Nam mới tham gia vào thị trường xuất khẩu gạo thế giới, giá gạo Việt Nam luôn thấp hơn 40-55 USD/tấn so với giá gạo của Thái Lan những năm 1989-1994, hiện giá gạo của Việt Nam chỉ còn thấp hơnbình quân 5-10 USD/tấn). Và đến 2006, giá gạo 5% tấm đã tăng lên đến 310-310 USD/tấn. Không chỉ có vậy, thu nhập về xuất khẩu gạo nước ta cũng tăng nhanh qua các năm đóng góp một phần không nhỏ vào ngân sách của đất nước đặc biệt là 2 năm 1998 và 1999 xuất khẩu gạo thu về cho đất nước hơn 1 tỷ USD, và sau một thời gian xuất khẩu giảm sút, từ năm 2004 cho đến nay kim ngạch xuất khẩu gạo đã tăng trên 1 tỷ USD, thu về cho ngân sách nhà nước một lượng ngoại tệ.

Thứ ba, thị trường cũng ngày càng được mở rộng, nếu trong những năm đầu thập kỉ 90, gạo Việt Nam mới chỉ xuất khẩu sang các nước Liên Xô, Đông Âu, và chủ yếu là các nước trong khu vực, trong khi các nước Châu Phi, và Châu Mỹ Latinh thì chiếm tỉ lệ nhỏ, thì những năm gần đây, thị trường chính của xuất khẩu gạo Việt Nam đã chuyển sang các nước TBCN thuộc Châu á- Thái Bình Dương, trong đó có cả những thị trường khó tính như Nhật Bản, Hong Kong, Singapore, ngoài ra còn mở rộng sang Châu Phi, Tây Âu, và một số nước Trung Đông. Như vậy, rõ ràng xuất khẩu gạo là một lợi thế của Việt Nam và lợi thế này nếu biết khai thác hợp lý sẽ tồn tại lâu dài và là một hướng làm giàu cho đất nước ít có sản phẩm nào sánh kịp.

Thứ tư, tỷ trọng gạo cao cấp của Việt Nam ngày một tăng, chủng loại gạo cũng được mở rộng. Trước đây, Việt Nam xuất khẩu phần lớn gạo trắng thường hạt trung bình và hạt dài (độ dài hạt từ 6,2- 7 mm), tỷ lệ tấm từ 5% đến 45%, chưa đa dạng về quy cách sản

phẩm, không có loại gạo nào nổi bật về phẩm chất khả dĩ biểu hiện được nét độc đáo riêng của sản phẩm gạo Việt Nam trên thị trường thế giới. Thêm vào đó, các nhà xuất khẩu thường không đảm bảo đồng bộ, đồng nhất về qui cách chất lượng ngay trong từng lô gạo, càng khẳng định thêm tính đúng đắn của ý kiến đánh giá gạo xuất khẩu chưa đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng của thị trường thế giới. Nhưng trong thời gian gần đây, chất lượng gạo Việt Nam qua mỗi năm được nâng cao một bước phần nào đã đáp ứng nhu cầu của thị trường thế giới. Từ năm 1994, Việt Nam còn sản xuất hai mặt hàng gạo mới có chất lượng thơm ngon phù hợp với thị trường thế giới như: siêu cao cấp thơm super, gạo đồ, tuy với số lượng còn khiêm tốn song cũng đã góp phần thúc đẩy việc mở rộng thị trường với các chủng loại gạo phong phú hơn, đa dạng hơn, phù hợp với yêu cầu mà khách hàng đòi hỏi. Riêng loại gạo đồ đòi hỏi thị trường chọn lọc mà chủ yếu là các nước thuộc khu vực Trung Đông.

Một phần của tài liệu Tác động của việc gia nhập WTO đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam (Trang 47 - 50)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(91 trang)