ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Các bà mẹ có con dưới 5 tuổi được chẩn đoán bịtay chân miệng nằm điều trị tại khoa Y học nhiệt đới, bệnh viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng
- Bà mẹ tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu
- Bà mẹ có thể giao tiếp bình thường để trả lời các câu hỏi
- Bà mẹ không có rối loạn về khả năng nhận thức
- Bà mẹ không tham gia giáo dục sức khỏe
- Bà mẹ không tham gia đủ cả 3 lần đánh giá.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 01/2018 đến tháng 06/2018
- Địa điểm: tại khoa Y học nhiệt đới, bệnh viện Phụ sản- Nhi Đà Nẵng,402
Lê Văn Hiến, Quận Ngũ Hành Sơn, Thành phố Đà Nẵng.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp “nghiên cứu can thiệp trước
- sau” Đối tượng tham gia nghiên cứu Đánh giá trước can thiệp (T1)
Can thiệp giáo dục sức khỏe Đánh giá ngay sau can thiệp (T2)
So sánh, bàn luận và kết luận Đánh giá sau can thiệp 1 tháng (T3)
Cỡ mẫu
Nghiên cứu được thực hiện với cỡ mẫu gồm 68 bà mẹ có con dưới 5 tuổi đang điều trị tay chân miệng tại khoa Y học nhiệt đới, bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng.
Công thức tính cỡ mẫu được áp dụng như sau:
- n là số bà mẹ tham gia nghiên cứu
- Z(1- α) là giá trị Z thu được từ bảng Z tương ứng với giá trị α Với lực mẫu là 90% (β = 0,2), mức ý nghĩa 95% (α = 0,05), tương đương với Z(1 - α) = 1,65 và
Tỷ lệ mẹ có kiến thức tốt trước can thiệp, được xác định qua nghiên cứu của Huỳnh Kiều Chinh năm 2014, đạt 32% Vì vậy, p0 được lấy là 0,32.
- p1 là tỷ lệ mẹ có kiến thức tốt sau can thiệp Ước tính p1= 0,5.
Thay vào công thức trên tính được n = 62 Để tránh trường hợp sai sót, mất số liệu chúng tôi lấy thêm 10% và thực tế chúng tôi chọn 68 bà mẹ.
Phương pháp chọn mẫu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chọn mẫu thuận tiện từ tất cả các bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc bệnh tay chân miệng, điều trị tại khoa Y học nhiệt đới, bệnh viện Phụ sản - Nhi Đà Nẵng Thời gian thu thập dữ liệu diễn ra từ tháng 01/2018 đến tháng 06/2018, và những bà mẹ đáp ứng các tiêu chí chọn mẫu sẽ được tham gia vào nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu
Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu và đáp ứng các tiêu chí đánh giá, chúng tôi đã xây dựng bộ công cụ thu thập số liệu dựa trên nghiên cứu của Hồ Thị Sương năm 2014, cùng với tài liệu Hướng dẫn giám sát và phòng bệnh tay chân miệng của Bộ Y tế (2012) và Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay chân miệng (2012) Sau khi tham khảo các tài liệu này, chúng tôi tiến hành thực hiện quy trình xây dựng bộ công cụ nghiên cứu.
Quá trình xây dựng bộ công cụ được thực hiện theo 3 bước:
Bước đầu tiên trong nghiên cứu là thảo luận với giáo viên hướng dẫn và các chuyên gia về việc sử dụng tài liệu hướng dẫn phòng ngừa và điều trị bệnh TCM Chúng tôi điều chỉnh và đơn giản hóa các câu hỏi để phù hợp với ngữ cảnh nghiên cứu, từ đó thiết kế bản thảo đầu tiên của bộ công cụ khảo sát kiến thức về bệnh tay chân miệng dành cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi.
Trình độ chuyên môn của các thành viên nhóm chuyên gia:
Các thành viên trong nhóm chuyên gia đều có kiến thức sâu rộng về lĩnh vực nghiên cứu, sở hữu bằng Thạc sĩ và có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm việc thực tiễn.
Bản thảo 1 sẽ được gửi đến các chuyên gia để đánh giá và nhận xét về sự phù hợp của nội dung với định nghĩa và mục tiêu nghiên cứu của các mục trong bộ công cụ Các chuyên gia sẽ sử dụng thang điểm Likert 4 điểm để chấm điểm, phản ánh 4 mức độ khác nhau.
Các chuyên gia cũng đã đưa ra các góp ý sửa đổi ở những mục chưa phù hợp hoặc cần lược bỏ
Nghiên cứu viên đã tổng hợp và đánh giá tính giá trị của bộ công cụ thông qua chỉ số CVI (CVI: Content Validity Index) cho bản thảo 1
Chỉ số giá trị nội dung (CVI) là một phương pháp truyền thống dùng để đánh giá sự phù hợp của các câu hỏi khảo sát trong nghiên cứu Kỹ thuật này dựa trên phản hồi từ 5 đến 10 chuyên gia, đánh giá mức độ phù hợp, sự hiểu biết và rõ ràng của từng mục trong bộ công cụ, đồng thời đưa ra gợi ý cải tiến Chỉ số CVI dao động từ 0.8 đến 0.98; nếu một mục bị đánh giá không phù hợp bởi ít nhất 2 chuyên gia, nó sẽ được chỉnh sửa Những mục có điểm dưới 50% sẽ bị loại bỏ.
Sau nhiều lần thảo luận và điều chỉnh các mục trong bộ công cụ, nhóm nghiên cứu đã đưa ra bản thảo 2 (phụ lục 2)
Bản thảo 2 được gửi đến các chuyên gia để chấm điểm và đưa ra ý kiến về sự phù hợp của nội dung với định nghĩa và mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu viên đã tổng hợp và đánh giá giá trị của bộ công cụ, với chỉ số CVI đạt 0.9.
Sau khi hoàn thiện bộ câu hỏi, chúng tôi tiến hành khảo sát thử trên 30 bà mẹ theo tiêu chuẩn lựa chọn, đảm bảo rằng họ không thuộc đối tượng nghiên cứu chính Phân tích hệ số Cronbach’s alpha cho thấy các nhân tố có hệ số dao động từ 0,6 đến 0,9, đảm bảo độ tin cậy Cuối cùng, chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi đã hoàn chỉnh để thu thập dữ liệu nghiên cứu.
Bộ công cụ khảo sát gồm có 4 phần:
Phần 1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu từ câu A1 đến câu A11
Phần 2: Kiến thức chung của bà mẹ về bệnh tay chân miệng từ câu B1 đến câu B13
Phần 3: Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ bị bệnh tay chân miệng từ câu C1 đến câu C7
Phần 4: Kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh tay chân miệng từ câu D1 đến câu D7
Người thu thập số liệu đã sử dụng phiếu khảo sát để phỏng vấn trực tiếp các bà mẹ tại ba thời điểm khác nhau: trước can thiệp khi nhập viện, sau can thiệp trước khi ra viện, và một tháng sau can thiệp.
Tiến trình thu thập số liệu:
- Bước 1: lựa chọn được 68 bà mẹ đủ tiêu chuẩn vào nghiên cứu
Trong bước 2 của nghiên cứu, 68 bà mẹ được giới thiệu về mục đích, ý nghĩa, phương pháp và quyền lợi khi tham gia Sau khi ký vào bảng đồng thuận (phụ lục 1), các bà mẹ được hướng dẫn chi tiết về hình thức tham gia và cách trả lời các thông tin trong phiếu khảo sát.
Bước 3 trong nghiên cứu là khảo sát kiến thức của 68 bà mẹ về bệnh tay chân miệng ở trẻ em khi nhập viện Phương pháp thực hiện là phỏng vấn trực tiếp thông qua phiếu khảo sát, mất khoảng 15 - 20 phút cho mỗi bà mẹ để hoàn thành Sau khi hoàn tất, toàn bộ thông tin trên phiếu khảo sát sẽ được kiểm tra kỹ lưỡng để đảm bảo không bỏ sót dữ liệu quan trọng.
- Bước 4: can thiệp giáo dục sức khỏe thông qua cung cấp nội dung kiến thức về bệnh tay chân miệng ở trẻ em và phát tờ rơi
Bước 5 trong quy trình chăm sóc trẻ em mắc bệnh tay chân miệng là đánh giá kiến thức của bà mẹ về bệnh này sau khi đã được giáo dục sức khỏe, thông qua việc sử dụng phiếu khảo sát (phụ lục 2) trước khi trẻ ra viện.
- Bước 6: đánh giá kiến thức của bà mẹ về bệnh tay chân miệng ở trẻ em sau giáo dục sức khỏe 1 tháng bằng phiếu khảo sát (phụ lục 2)
Sau 1 tháng kể từ ngày kết thúc chương trình can thiệp, tiến hành đánh giá kiến thức của các bà mẹ lần 3 Chúng tôi liên lạc bằng điện thoại trước khi đến từng nhà các bà mẹ (thông tin về số điện thoại và địa chỉ cụ thể đã được nghiên cứu viên lưu lại sau lần đánh giá thứ nhất) Sau đó chúng tôi tiếp cận các bà mẹ có trong danh sách chọn và tiến hành thu thập thông tin bằng phiếu khảo sát như 2 lần trước.
Chương trình can thiệp
Nội dung can thiệp trong bài viết này tập trung vào giáo dục sức khỏe, được phát triển dựa trên Tài liệu hướng dẫn giám sát và phòng bệnh tay chân miệng của Bộ Y tế.
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh tay chân miệng (2012) cung cấp thông tin cần thiết cho các bà mẹ có con dưới 5 tuổi về bệnh này Bài viết đề cập đến nguyên nhân, triệu chứng, biến chứng, cách điều trị, chăm sóc và các biện pháp phòng ngừa bệnh tay chân miệng, giúp nâng cao kiến thức và ý thức bảo vệ sức khỏe cho trẻ nhỏ.
Trong nghiên cứu này, 68 bà mẹ đã được can thiệp giáo dục sức khỏe trực tiếp tại bệnh viện Phương pháp can thiệp được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định, tập trung vào các chủ đề liên quan đến sức khỏe.
Bước đầu tiên trong nghiên cứu là khảo sát kiến thức của 68 bà mẹ về bệnh tay chân miệng (TCM) ở trẻ em thông qua phương pháp phỏng vấn trực tiếp Việc này được thực hiện tại buồng bệnh vào ngày đầu tiên nhập viện, với thời gian phỏng vấn kéo dài 15 phút và sử dụng phiếu khảo sát đã chuẩn bị sẵn.
Bước 2 trong quá trình nghiên cứu là đánh giá kiến thức của 68 bà mẹ về bệnh tay chân miệng Dựa trên những thiếu sót trong kiến thức được phát hiện từ kết quả điều tra ban đầu, nội dung can thiệp giáo dục đã được xây dựng một cách phù hợp với từng bà mẹ.
Vào bước 3 của quá trình can thiệp giáo dục, các buổi tư vấn giáo dục được thực hiện bởi nghiên cứu viên với các bà mẹ từ 16h00 đến 17h00 vào ngày thứ 2 tại phòng giao ban khoa Y học nhiệt đới Mỗi buổi tư vấn kéo dài 30 phút và bao gồm các bước cụ thể nhằm hỗ trợ và nâng cao nhận thức cho các bà mẹ.
Các bà mẹ nên dành 5 phút để đọc tài liệu tư vấn và xem các tờ rơi được cung cấp Những tờ rơi này được lấy mẫu từ Trung tâm truyền thông GGSK Trung ương và Bộ Y tế, nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho sức khỏe cộng đồng.
+ Nghiên cứu viên thuyết trình rồi cho các bà mẹ thảo luận nhóm 20 phút
+ Nghiên cứu viên tổng kết, cung cấp những thông tin quan trọng về kiến thức bệnh tay chân miệng cho các bà mẹ 05 phút
Trước khi ra viện, bước 4 là đánh giá lại kiến thức của các bà mẹ về bệnh tay chân miệng ở trẻ em thông qua phiếu khảo sát chuẩn bị sẵn giống như lần 1 Địa điểm thực hiện đánh giá là tại buồng bệnh và thời gian phỏng vấn dự kiến là 15 phút, diễn ra trước ngày ra viện.
Bước 5 trong quá trình đánh giá kiến thức của các bà mẹ về bệnh tay chân miệng ở trẻ em là thực hiện khảo sát lần 3 Khảo sát này sẽ được tiến hành 1 tháng sau khi can thiệp, tại nhà của các bà mẹ, với thời gian phỏng vấn khoảng 15 phút.
Các biến số nghiên cứu
STT Tên biến Định nghĩa Loại biến số Phương pháp thu thập
1 Họ và tên Biến định danh Phỏng vấn
2 Tuổi Tính từ ngày sinh đến năm
Biến liên tục Phỏng vấn
3 Địa chỉ Nơi sinh sống của bà mẹ
Biến định danh Phỏng vấn
Cấp học cao nhất của bà mẹ đã hoàn thành tại các cơ sở đào tạo được nhà nước công nhận
Biến định lượng thứ bậc
5 Nghề nghiệp Công việc đang làm có thu nhập cao nhất
Biến định danh Phỏng vấn
6 Số con trong gia đình
Số trẻ hiện sống cùng bà mẹ
Biến định lượng thứ bậc
Bệnh tay chân miệng ở trẻ em là một bệnh truyền nhiễm phổ biến, nguyên nhân chủ yếu do virus Coxsackie Các yếu tố nguy cơ bao gồm trẻ nhỏ dưới 5 tuổi, môi trường đông người và vệ sinh kém Bệnh lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, họng hoặc từ bọng nước trên da Triệu chứng thường gặp bao gồm sốt, đau họng, và phát ban ở tay, chân và miệng Biến chứng có thể xảy ra nhưng hiếm, bao gồm viêm não hoặc viêm màng não Việc phân biệt bệnh tay chân miệng với các bệnh khác như sốt phát ban hoặc thủy đậu là rất quan trọng để có hướng điều trị kịp thời.
Chăm sóc trẻ bị tay chân miệng đòi hỏi sự chú ý đặc biệt đến chế độ ăn uống hợp lý, đảm bảo vệ sinh cá nhân và môi trường xung quanh Bố mẹ cần nắm vững các dấu hiệu cảnh báo để kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế, nhằm ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm Việc duy trì thói quen vệ sinh sạch sẽ và cung cấp dinh dưỡng đầy đủ sẽ giúp trẻ phục hồi nhanh chóng và khỏe mạnh hơn.
Để phòng bệnh tay chân miệng hiệu quả, cần nắm vững một số kiến thức quan trọng như: rửa tay thường xuyên bằng xà phòng, thực hiện vệ sinh an toàn thực phẩm, lau sạch đồ chơi và vật dụng, vệ sinh sàn nhà, cũng như xử lý phân và chất thải một cách triệt để.
Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
Bà mẹ tham gia phỏng vấn và mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm, tổng điểm tối đa là 59 Theo nghiên cứu của Đặng Quang Ánh, bà mẹ được đánh giá có kiến thức đúng nếu trả lời đúng từ 75% tổng điểm trở lên (≥ 44 điểm), trong khi nếu trả lời dưới 75% tổng điểm (dưới 44 điểm) thì được xem là chưa có kiến thức đúng.
Để xác định đúng/sai về bệnh tay chân miệng ở trẻ em, cần tham khảo các tài liệu chính thống như Tài liệu hướng dẫn giám sát và phòng bệnh tay chân miệng của Bộ Y tế (2012), Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay chân miệng (2012), và Hướng dẫn quản lý lâm sàng và đáp ứng sức khoẻ cộng đồng đối với bệnh tay chân miệng (2011) Việc đánh giá sự thay đổi sau can thiệp giáo dục so với trước can thiệp được thực hiện thông qua mức chênh điểm trung bình trong các câu trả lời và sự khác biệt về tỷ lệ trả lời đúng cho từng nội dung đánh giá.
Phương pháp phân tích số liệu
Nhập liệu: toàn bộ số liệu thu thập được nhập liệu bằng phần mềm EPIDATA 3.1
Số liệu thu thập được bảo quản trong một môi trường an toàn để tránh mất mát và vi phạm bí mật
Sau khi hoàn tất quá trình nhập liệu, việc làm sạch số liệu là rất quan trọng Các số liệu sẽ được kiểm tra thông qua bảng tần số để phát hiện những giá trị bất thường Tiếp theo, sử dụng lệnh lọc và tìm kiếm để điều chỉnh và đảm bảo tính chính xác của dữ liệu.
Số liệu trong nghiên cứu được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0, với thông tin chung về bà mẹ được phân tích thông qua phương pháp thống kê mô tả như tần suất và tỷ lệ Để đánh giá sự khác biệt có ý nghĩa về điểm kiến thức của bà mẹ trước và sau khi tham gia giáo dục sức khỏe, phương pháp thống kê Paired - Samples T-test đã được áp dụng.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được Hội đồng bảo vệ đề cương Trường Đại học Điều dưỡng
Nam Định đồng ý thông qua và được sự chấp thuận cho phép của Ban lãnh đạo bệnh viện Phụ sản-Nhi Đà Nẵng
Nghiên cứu viên giải thích rõ ràng mục đích nghiên cứu và mời các bà mẹ tham gia Một mẫu đồng ý tham gia nghiên cứu đã được chuẩn bị sẵn để các bà mẹ ký xác nhận Họ có quyền từ chối tham gia nếu không đồng ý Nghiên cứu viên cam kết giữ bí mật thông tin và danh tính của người tham gia, với tên được mã hóa bằng số.
Tất cả thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không nhằm vào bất kỳ mục đích nào khác Nghiên cứu này là một can thiệp giáo dục sức khỏe, do đó, quá trình nghiên cứu không ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường Kết quả nghiên cứu nhằm nâng cao kiến thức cho bà mẹ về bệnh tay chân miệng.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Hạn chế của nghiên cứu: do thời gian nghiên cứu ngắn và lấy mẫu thuận tiện nên kết quả thu được ít có giá trị ngoại suy
Để đảm bảo chất lượng thông tin thu thập được, việc kiểm soát sai số là rất quan trọng Phiếu khảo sát cần được thiết kế một cách logic và sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, giúp đối tượng nghiên cứu dễ dàng trả lời câu hỏi.
- Bộ công cụ sử dụng phỏng vấn được điều tra thử để kiểm tra độ tin cậy trước khi tiến hành nghiên cứu
- Nghiên cứu viên tiến hành tập huấn kỹ cho 2 điều tra viên khác
- Nghiên cứu viên giải thích những thông tin trong phiếu điều tra nếu người bệnh không hiểu rõ
- Toàn bộ phiếu điều tra sẽ được kiểm tra trong ngày, những phiếu thiếu thông tin sẽ được bổ sung hoặc loại bỏ.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng kiến thức về bệnh TCM của các bà mẹ
3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Phân bố nhóm tuổi và nơi cư trú của bà mẹ
Nội dung Tần số Tỷ lệ (%)
Tại thời điểm nghiên cứu có 68 bà mẹ tham gia, trong đó có 50% bà mẹ thuộc nhóm tuổi từ 18 – 30 tuổi, 39,7% bà mẹ từ 31 – 35 tuổi và nhóm tuổi trên
Về nơi cư trú, đa s lệ 60,3% và ở nông thôn là 39,
Biểu đồ Trình độ học vấn c vấn từ Trung cấp đến Đ có 17,6% trình độ trung h
Phân bố nghề nghi cán bộ công chức 27,9%, n
Trung học cơ sở Trung cấp, cao đẳng, đại học
Trong nghiên cứu về buôn bán, có 39,7% các bà mẹ tham gia đến từ khu vực nông thôn Đặc biệt, trình độ học vấn của các bà mẹ khá cao, với 52,9% có bằng đại học, 23,5% có trình độ trung học cơ sở, và một tỷ lệ đáng kể chiếm lĩnh trình độ sau đại học.
3.2: Phân bố nghề nghiệp của các bà mẹ (nh) nghiệp của các bà mẹ có tỷ lệ bà mẹ là buôn bán 22, 9%, nội trợ 16,2%, công nhân 33,8%
Trung học cơ sở Trung học phổ thông
Trung cấp, cao đẳng, đại học Sau đại học
Buôn bán Cán bộ công chức
33.8 thành thị, chiếm tỷ có trình độ học trung học phổ thông, m tỷ lệ 5,9%
(nh) là buôn bán 22,1%, Trung học phổ thông
Bảng 3.2: Đặc điểm trẻ bị tay chân miệng
Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%)
Số lần trẻ bị TCM
Tình trạng tiêm chủng Đầy đủ 51 75
Tại thời điểm nghiên cứu, tỷ lệ trẻ mắc bệnh tay chân miệng lần đầu cao đạt 85,3%, trong khi tỷ lệ trẻ mắc từ 2 lần trở lên là 14,7% Về tình hình tiêm chủng, có 75% trẻ được tiêm chủng đầy đủ, tuy nhiên vẫn còn 25% trẻ chưa được tiêm chủng đầy đủ.
Bảng 3.3: Phân bố số con trong gia đình
Số con Số lượng Tỷ lệ (%)
Các bà mẹ tham gia nghiên cứu có 1 con chiếm tỷ lệ 55,9%, bà mẹ có 2 con chiếm tỷ lệ 39,7% và bà mẹ trên 2 con chiếm tỷ lệ 4,4%
Bảng 3.4: Nguồn thông tin về bệnh TCM mà bà mẹ nhận được
Nguồn thông tin Số lượng Tỷ lệ (%)
Nguồn thông tin tư vấn giáo dục sức khỏe mà các bà mẹ tin tưởng nhất đến từ cán bộ y tế, chiếm 80,9% Theo sau là thông tin từ người thân và gia đình, cùng với thông tin đại chúng, mỗi nguồn chiếm 7,4% Cuối cùng, thông tin từ sách báo và tờ rơi chỉ chiếm 4,4%.
3.1.2 Thực trạng kiến thức về bệnh tay chân miệngcủa các bà mẹ
3.1.2.1 Kiến thức chung của các bà mẹ về bệnh tay chân miệng ở trẻ em
Bảng 3.5: Bà mẹ đã từng nghe nói về bệnh TCM trước đây Đặc điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
Tổng 68 100 Đa số các bà mẹ trước đây đã từng nghe nói về bệnh tay chân miệng chiếm tỷ lệ 92,6%
Bảng 3.6: Kiến thức về nguyên nhân gây bệnh TCM ở trẻ em
Nguyên nhân Số lượng Tỷ lệ (%)
Theo nghiên cứu, chỉ có 19,1% bà mẹ nhận thức được rằng nguyên nhân gây bệnh TCM là do virus Trong khi đó, 38,2% bà mẹ cho rằng bệnh do vi khuẩn, 2,9% nghĩ rằng nguyên nhân là do ký sinh trùng, và 39,8% bà mẹ không biết rõ nguyên nhân gây bệnh.
Bảng 3.7: Kiến thức về tính chất lây nhiễm của bệnh TCM
Lây nhiễm Số lượng Tỷ lệ (%)
Nhìn chung các bà mẹ đều biết bệnh tay chân miệng có tính chất lây nhiễm chiếm tỷ lệ 94,1%
Bảng 3.8: Kiến thức về đường lây truyền bệnh TCM Đường lây truyền Số lượng Tỷ lệ (%) Đường tiêu hóa 13 19,1 Đường da, niêm mạc 9 13,2 Đường hô hấp 31 45,6 Đường máu 2 2,9
Theo bảng 3.8, 45,6% bà mẹ cho rằng bệnh tay chân miệng (TCM) lây truyền qua đường hô hấp, trong khi 19,1% cho rằng qua đường tiêu hóa, 13,2% qua da và niêm mạc, 2,9% qua đường máu, và 19,1% bà mẹ không biết cách lây truyền bệnh Bảng 3.9 cho thấy kiến thức đúng về các yếu tố nguy cơ khiến trẻ dễ mắc bệnh TCM.
Yếu tố nguy cơ Số lượng Tỷ lệ (%)
Do tiếp xúc với người mắc bệnh 17 25
Do vệ sinh cá nhân không đảm bảo 45 66,2
Do đồ dùng của trẻ không đảm bảo vệ sinh 22 32,4
Do sàn nhà không đảm bảo vệ sinh 19 27,9
Theo nghiên cứu, 66,2% bà mẹ nhận thức rõ rằng yếu tố vệ sinh cá nhân không đảm bảo là nguyên nhân chính Trong khi đó, chỉ có 25% cho rằng tiếp xúc với người bệnh là yếu tố nguy cơ, 27,9% nhận định sàn nhà không sạch sẽ và 32,4% cho rằng đồ dùng của trẻ không đảm bảo vệ sinh.
Bảng 3.10: Kiến thức đúng về dấu hiệu đặc trưng bệnh TCM
Dấu hiệu đặc trưng Số lượng Tỷ lệ (%)
Sốt nhẹ 40 58,8 Nổi bọng nước ở lòng bàn tay, bàn chân, đầu gối, mông
Qua bảng 3.10 cho thấychỉ có 38,2% bà mẹ biết đến dấu hiệu “nôn” là dấu hiệu đặc trưng của bệnh
Bảng 3.11: Kiến thức đúng về biến chứng nặng của bệnh TCM
Biến chứng Số lượng Tỷ lệ (%)
Viêm não, viêm màng não 32 47,1
Viêm cơ tim, suy tim 17 25
Nghiên cứu chỉ ra rằng kiến thức của các bà mẹ về các biến chứng nghiêm trọng của bệnh tay chân miệng còn hạn chế, với tỷ lệ nhận thức đúng về viêm cơ tim là 25%, suy tim 27,9%, tỷ lệ tử vong 33,8%, và viêm não, viêm màng não là 47,1%.
Bảng 3.12: Kiến thức về khả năng tái phát bệnh TCM
Khả năng tái phát bệnh Số lượng Tỷ lệ (%)
Tổng 68 100 Đa số các bà mẹ biết trẻ đã bị bệnh tay chân miệng một lần thì có khả năng tái phát bệnh chiếm 82,4% Tuy nhiên vẫn còn 11,7% bà mẹ không biết bệnh tay chân miệng có khả năng tái phát hay không
Bảng 3.13: Kiến thức về phân biệt bệnh TCM với bệnh viêm loét miệng, bệnh có phát ban
Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%)
Phân biệt bệnh viêm loét miệng
Phân biệt bệnh có phát ban
Kết quả từ bảng 3.13 cho thấy kiến thức của các bà mẹ về việc phân biệt bệnh tay chân miệng với các bệnh khác còn hạn chế Cụ thể, chỉ có 27,9% bà mẹ nhận biết đúng bệnh tay chân miệng so với bệnh viêm loét miệng, và 22,1% có khả năng phân biệt bệnh tay chân miệng với các bệnh có phát ban như thủy đậu, viêm da, và sốt phát ban.
3.1.2.2 Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ bịtay chân miệng
Bảng 3.14: Kiến thức về kiêng khi trẻ bị bệnh TCM
Kiêng cử khi trẻ bị bệnh Số lượng Tỷ lệ (%)
Kiêng ra gió và ánh sáng 3 4,4
Theo nghiên cứu, chỉ có 30,9% bà mẹ nhận thức đúng rằng không cần kiêng gì khi trẻ mắc bệnh tay chân miệng Đáng chú ý, 35,3% bà mẹ cho rằng cần kiêng tắm gội, 7,4% cho rằng nên kiêng ăn, 4,4% nghĩ rằng cần kiêng ra gió và ánh sáng, trong khi 22,1% bà mẹ không biết có cần kiêng gì hay không Bảng 3.15 cho thấy sự cần thiết phải nâng cao kiến thức về dấu hiệu trở nặng của bệnh tay chân miệng để kịp thời đưa trẻ đến cơ sở y tế.
Dấu hiệu trở nặng Số lượng Tỷ lệ (%)
Giật mình khi ngủ, quấy khóc 16 23,5
Trẻ vật vả, li bì, đi loạng 29 42,6 choạng
Khó thở, da tím tái, vã mồ hôi, chân tay lạnh
Theo nghiên cứu tại bảng 3.15, kiến thức của các bà mẹ về dấu hiệu trở nặng của bệnh tay chân miệng (TCM) còn hạn chế Cụ thể, chỉ có 25% bà mẹ nhận biết được dấu hiệu "nôn ói", 23,5% biết đến "giật mình khi ngủ, quấy khóc", và 42,6% nhận ra tình trạng "vật vả, li bì, đi loạng choạng".
“khó thở, da tím tái, vã mồ hôi, chân tay lạnh” 47,1%, “co giật, hôn mê” 45,6%
Bảng 3.16: Kiến thức về khi trẻ bị TCM có cần cách ly với trẻ khác
Cách ly trẻ khác Số lượng Tỷ lệ (%)
Tổng 68 100 Đa số các bà mẹ đều cho rằng khi phát hiện trẻ bị tay chân miệng thì cần cách ly với trẻ khác chiếm tỷ lệ 94,2% Chỉ có 2,9% bà mẹ cho rằng không cần cách ly với trẻ khác và 2,9% bà mẹ không biết có cần cách ly khi trẻ bị bệnh TCM hay không
Bảng 3.17: Kiến thức về thời gian cách ly trẻ bị bệnh TCM
Thời gian cách ly Số lượng Tỷ lệ (%)
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 27,9% bà mẹ nhận thức đúng về thời gian cách ly trẻ bị bệnh TCM là từ 10 đến 14 ngày Trong khi đó, 42,6% bà mẹ cách ly trẻ từ 5 đến 10 ngày, 7,4% chỉ cách ly trong 5 ngày đầu, và 22,1% còn lại không biết thời gian cách ly đúng.
Bảng 3.18: Kiến thức về biện pháp chăm sóc trẻ bị TCM
Biện pháp Số lượng Tỷ lệ (%)
Cho trẻ nghỉ học cho đến khi hết bệnh 13 19,1 Ăn đầy đủ chất dinh dưỡng, ăn chín uống sôi
Rửa tay bằng xà phòng khi chăm sóc trẻ
Rửa sạch đồ chơi, vật dụng, sàn nhà 17 25 Đến quầy thuốc mua thuốc bôi da cho trẻ
Qua bảng 3.18 cho thấy, chỉ có 25% bà mẹ biết đến biện pháp chăm sóc
Gần 19,1% bà mẹ lựa chọn biện pháp cho trẻ nghỉ học cho đến khi khỏi bệnh khi chăm sóc trẻ mắc bệnh tay chân miệng, trong khi 41,2% bà mẹ cho rằng việc đến quầy thuốc để mua thuốc bôi da cho trẻ là cần thiết Bên cạnh đó, việc rửa sạch đồ chơi, vật dụng và sàn nhà cũng được nhiều bà mẹ chú trọng để đảm bảo an toàn cho trẻ.
Bảng 3.19: Kiến thức về chế độ nuôi dưỡng khi trẻ bị bệnh TCM
Chế độ nuôi dưỡng Số lượng Tỷ lệ (%) Ăn nhiều hơn hằng ngày 11 16,2 Ăn ít hơn hằng ngày 31 45,6 Ăn như thường ngày 26 38,2
Theo nghiên cứu chỉ có 16,2% bà mẹ có kiến thức đúng về chế độ dinh dưỡng khi trẻ bị bệnh là cho trẻ ăn nhiều hơn hằng ngày
3.1.2.3 Kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh tay chân miệng
Bảng 3.20: Kiến thức của bà mẹ về cách phòng bệnh TCM
Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%)
Bệnh TCM có vắc xin phòng bệnh ở Việt Nam chưa
Bệnh TCM có phòng ngừa được không
Bệnh TCM có thuốc điều trị đặc hiệu chưa Đã có 29 42,6
Tổng 68 100 Đa số các bà mẹ biết được bệnh tay chân miệng có thể phòng ngừa được chiếm tỷ lệ 79,4% Tuy nhiên chỉ có 32,4% bà mẹ biết rằng bệnh tay chân miệng chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và có 58,8% bà mẹ biết rằng bệnh tay chân miệng chưa có vắc xin phòng bệnh ở Việt Nam
Bảng 3.21: Kiến thức đúng về thời điểm cần phải rửa tay cho bà mẹ
Thời điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
Trước khi chế biến thức ăn 36 52,9
Trước khi cho trẻ ăn 58 85,3
Trước khi bế ẵm trẻ 16 23,5
Sau khi đi vệ sinh 56 82,4
Sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ
54 79,4 Đa số các bà mẹ đ bà mẹ Tuy nhiên thời đi bà mẹ biết đến
Kết quả nghiên c cần phải rửa tay cho trẻ nhiều, chiếm tỷ lệ ngang nhau là 88, tay cho trẻ sau khi tiếp xúc đ
29,4% và khi thấy tay tr
Cách ly trẻ bị bệnh, cho tr
Không dùng chung đồ cá nhân
Vệ sinh cá nhân Ăn chín uống sôi
Rửa tay bằng xà phòng nhi
Lau sạch đồ chơi,vật dụ
Trước khi ăn Sau khi đi vệ
Hiệu quả can thiệp giáo dục đối với kiến thức của bà mẹ về bệnh TCM ở trẻ em
3.2.1 Thay đổi kiến thức của bà mẹ về bệnh TCM sau giáo dục sức khỏe
3.2.1.1 Kiến thức chung của các bà mẹ về bệnh tay chân miệng ở trẻ em sau can thiệp giáo dục
Bảng 3.23: Kiến thức đúng về yếu tố nguy cơgây bệnh TCM ở trẻ em sau can thiệp
Do tiếp xúc với người mắc bệnh
Do vệ sinh cá nhân không đảm bảo
Do đồ dùng của trẻ không đảm bảo vệ sinh
Do sàn nhà không đảm bảo vệ sinh
Trước khi can thiệp, bà mẹ chủ yếu nhận thức về yếu tố nguy cơ gây bệnh tay chân miệng (TCM) liên quan đến vệ sinh cá nhân không đảm bảo, chiếm tỷ lệ 66,2% Ngược lại, thông tin về việc tiếp xúc với ngư thức đúng của bà mẹ về vệ sinh sau can thiệp lại được biết đến ít hơn.
TCM là đường tiêu hóa Sau can thi thay đổi rõ rệt, tỷ lệ này tăng lên ngay sau can thi tốt sau can thiệp 1 tháng là 73,
Bảng 3.24: Kiến thức đúng v bệnh có phát ban da sau can thi
Trước can thiệp, tỷ lệ người mắc bệnh chiếm 25% Sau can thiệp, tỷ lệ này tăng lên đáng kể, với 89,7% người tham gia có sự cải thiện về nhận thức ngay sau can thiệp Bên cạnh đó, kiến thức về đường lây truyền bệnh TCM cũng được nâng cao rõ rệt sau can thiệp.
Chỉ có 19,1% bà mẹ biết rằng đường lây truyền tiêu hóa là nguyên nhân gây bệnh Sau khi can thiệp giáo dục, kiến thức đúng về vấn đề này đã tăng lên 79,4% ngay sau can thiệp và duy trì ở mức 73,5% sau một tháng Ngoài ra, việc phân biệt bệnh truyền nhiễm cấp tính với bệnh viêm loét miệng có phát ban da cũng được cải thiện sau can thiệp giáo dục.
Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ
(%) Tần s Đường tiêu hóa Đường da, niêm mạc Đường hô hấp Đường máu
Trước can thiệp Ngay sau can thiệp Sau can thiệp 1 tháng p, hầu hết kiến ồ dùng của trẻ
% và sau can thiệp 1 tháng là sau can thiệp giáo dục ng lây truyền bệnh c đúng của bà mẹ đã 4% và duy trì ở mức viêm loét miệng,
1 tháng sau can thiệp n số Tỷ lệ
Sau khi được giáo dục sức khỏe, tỷ lệ các bà mẹ nhận biết sự khác biệt giữa bệnh tay chân miệng, bệnh viêm loét miệng và bệnh có phát ban da đã đạt mức cao, lần lượt là 85,3% và 82,4% Đáng chú ý, tỷ lệ này vẫn duy trì ở mức tốt sau 1 tháng can thiệp.
Bảng 3.25: Kiến thức đúng về dấu hiệu đặc trưng bệnh TCM sau can thiệp giáo dục
Nổi bọng nước ở lòng bàn tay, bàn chân, đầu gối, mông
Theo kết quả nghiên cứu, trước can thiệp không nhiều bà mẹ biết đến
Nôn là triệu chứng đặc trưng của bệnh, với tỷ lệ 38,2% Sau khi can thiệp, tỷ lệ nôn ở bà mẹ đã tăng lên 60,3% ngay lập tức và giảm xuống còn 45,6% sau một tháng.
Bảng 3.26: Kiến thức đúng về biến chứng nặng của bệnh TCM sau can thiệp giáo dục
1 tháng sau can thiệp Tần Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ số (%) (%) (%)
Viêm não, viêm màng não
Viêm cơ tim, suy tim 17 25 61 89,7 52 76,5
Nghiên cứu cho thấy rằng trước khi can thiệp, kiến thức của các bà mẹ về các biến chứng nặng của bệnh tay chân miệng là rất hạn chế, với tỷ lệ viêm cơ tim 25%, suy tim 27,9%, tử vong 33,8% và viêm não, viêm màng não 47,1% Tuy nhiên, sau khi can thiệp giáo dục, kiến thức của các bà mẹ đã tăng đáng kể và duy trì ở mức độ tốt sau một tháng.
Bảng 3.27: Điểm trung bình kiến thức chung về bệnh tay chân miệng trước can thiệp, ngay sau can thiệp và sau can thiệp 1 tháng
Thời điểm đánh giá Điểm Điểm TB ± SD p(Paired T- test)
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm trung bình kiến thức chung về bệnh tay chân miệng của các bà mẹ, so sánh giữa ngay sau can thiệp và trước can thiệp, cũng như giữa sau can thiệp 1 tháng và trước can thiệp, với p