Các quy trình dẫn xuất APEO cho phân tích

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng phương pháp xác định và đánh giá hàm lượng các alkylphenol và alkylphenol ethoxylat trong sản phẩm dệt may (Trang 21 - 24)

Trong các APEO, chuỗi polyethoxylat có các mức độ ethoxy hóa khác nhau (có thể từ 1-40 nhóm EO). Do đó, việc phân tích các hợp chất này phải sử dụng đến thiết bị LC-MSMS. Tuy nhiên, đây là thiết bị hiện đại, tốn kém mà không nhiều phòng thí nghiệm đƣợc trang bị đặc biệt là ở Việt Nam. Để có thể phân tích các APEO bằng các thiết bị phổ biến hơn nhƣ HPLC-DAD; HPLC-FLD hoặc GC-MS thì có thể dẫn xuất các APEO thành các hợp chất phù hợp với các thiết bị này.

Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng nước (ISO/TC 147) đã nghiên cứu và công bố tiêu chuẩn ISO 18857-2:2009 (Chất lượng nước – Xác định một số alkylphenol chọn lọc – Phần 2: Sắc ký khí khối phổ xác định các alkylphenol, các ethoxylat của chúng và bisphenpl A (BPA) trong mẫu không lọc tiếp theo là chiết pha rắn và dẫn xuất). Theo tiêu chuẩn này các mẫu nước uống, nước bề mặt và nước thải đƣợc cho lên cột chiết pha rắn chứa đồng polymer của stryren-divinylbenzen, sau đó đƣợc rửa giải bằng axeton và dẫn xuất với 2,2,2-triflo-n-metyl-n- (trimetylsilyl)axetamit (C6H12F3NOSi) trong iso-octan. Các chất phân tích mục tiêu tạo thành các hợp chất dẫn xuất của trimetylsilyl với AP, AP1EO, AP2EO, BPA và đƣợc phân tích bằng GC-MS. Kết quả thử nghiệm liên phòng theo tiêu chuẩn này cho hệ số biến thiên của 26 phòng thí nghiệm thử nghiệm là từ 2,5-3,5% với OP; 2,0-2,5% với OP1EO; 3,4-4,1% với OP2EO; 5,5-7,8% với NP; 3,9-6,2% với NP1EO; 3,1-4,2% với NP2EO và 1,9-3,8% với BPA. Độ thu hồi từ cuộc thử nghiệm này lần lƣợt cho OP, OP1EO, OP2EO, NP, NP1EO, NP2EO, BPA lần lƣợt là 103,6-107,3%; 97,3-98%;

96,5-101,0%; 108,6-144,1&; 95,4-123,4%; 101,1-105,6%; 98,2-103,4%. Kết quả này

nhiên với các mẫu có chứa đồng đẳng có nhiều nhóm EO của các APEO thì sẽ làm tăng kết quả phân tích cho các AP, AP1EO, AP2EO [16].

Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế về chất lƣợng đất (ISO/TC 190) đã nghiên cứu và công bố tiêu chuẩn ISO/TS 13907:2012 (Chất lƣợng đất – Xác định nonylphenol (NP) và nonylphenol-mono- và diethoxylat – Phương pháp sắc ký khí với detector khối phổ chọn lọc (GC-MS). Theo đó, nonylphenol-monoethoxylat (NP1EO) và nonylphenol- diethoxylat (NP2EO) trong mẫu đất và chất thải sinh học sau khi chiết với quy trình phù hợp làm sạch qua cột silicagel sẽ đƣợc dẫn xuất với C6H12F3NOSi trong iso-octan, thời gian để thực hiện phản ứng dẫn xuất là 15 phút và phân tích trên GC-MS. Kết quả thử nghiệm liên phòng theo tiêu chuẩn này cho hệ số biến thiên của NP, NP1EO, NP2EO lần lượt là 13,4%; 3,0%; 7,8% cho thấy phương pháp có độ lặp lại tốt. Dữ liệu độ thu hồi theo tiêu chuẩn chƣa đƣợc công bố [17].

Các tác giả Ma Hewei, Huang Xinxia, Zhu Guangzhong, Zhang Danyun - Trung tâm Nhà nước Giám sát chất lượng và kiểm tra cho sản phẩm da Trung Quốc đã xây dựng quy trình phân tích xác định NPEO trong da bằng phương pháp GC-MS. NPEO sẽ đƣợc phân tách thành NP bằng axit iodic. Tuy nhiên, hiệu suất phân tách đƣợc công bố cao nhất chỉ là 42,4% và độ lệch chuẩn tương đối tới hơn 14% [21].

Một công bố khác của các tác giả Ma Hewei, Huang Xinxia, Zhu Guangzhong, Zhang Danyun tại Hội nghị Quốc tế về Khoa học công nghệ Vật liệu Da (tại Ấn Độ vào tháng 11 năm 2010) trong việc phân tách các APEO bằng AlI3 ở 90oC trong 5-10 phút hồi lưu với ACN. Sau đó đem chiết lỏng-lỏng với n-hexan và phân tích bằng GC- MS. Kết quả phân tích cho độ thu hồi đạt từ 80-100% và độ lệch chuẩn tương đối nhỏ hơn 10% [20].

Hội liên hiệp Quốc tế các nhà Công nghệ và hóa chất vật liệu da (IULTCS) kết hợp với Ủy ban Tiêu chuẩn Châu Âu về vật liệu da (CEN/TC 289) đã nghiên cứu công bố tiêu chuẩn ISO 18218-2:2015 (Da – Xác định các alkylphenol ethoxylat – Phần 2:

Phương pháp gián tiếp). Theo tiêu chuẩn này các APEO sẽ được phân tách thành AP tương ứng bằng nhôm iotdua (AlI3) với điều kiện hồi lưu trong axetonitril trong 30 phút và phân tích sử dụng HPLC hoặc GC-MS. Các dữ liệu về độ chính xác của phương pháp chưa được công bố trong tiêu chuẩn. Tuy nhiên phương pháp sẽ phân tích đồng thời các AP, APEO [14].

Các tác giả MV Bhatt, JR Babu đã công bố kết quả nghiên cứu của họ về việc phân tách ete trong các hợp chất hữu cơ. Kết quả nghiên cứu cho việc phân tách cho 1- metoxy-2-2phenoxy etan (C6H5-O-CH2-CH2-O-CH3) bằng các tác nhân tách nhƣ AlI3, BCl3, BBr3, Me3SiCl/NaI, SiCl4/NaI. Kết quả cho thấy, việc phân tách với AlI3 trong axetonitril ở 82oC cho hiệu quả tốt nhất về thời gian là 4 giờ và độ thu hồi là lớn hơn 90 % khi sản phẩm cuối là phenol. Các tác giả cũng cho biết hiệu suất sẽ cao hơn khi sử dụng AlI3 mới tạo thành được từ nhôm và iot trong điều kiện hồi lưu trong axetonitril. Thời gian phản ứng để tạo thành AlI3 là trong khoảng 3 giờ [24].

Các tác giả Mehran Ghiaci & Jila Asghari thực hiện phân tách akyl hóa của các alkyl và aryl ete với AlCl3/NaI trong trường hợp không có dung môi. Kết quả cho phân tách methoxybenzen trong 15 phút với tỷ lệ mol của các chất methoxybenzen/AlCl3/NaI là 2/2/1 ở 70-80oC cho sản phẩm cuối là phenol với hiệu suất 98% [23].

Tác giả Manabu Node và các cộng sự đã nghiên cứu hệ thuốc thử kết hợp của AlCl3-NaI-ACN để tách các alkyl trong các hợp chất. Cơ chế của phản ứng tách đƣợc mô tả nhƣ sau:

CH3CN + AlCl3 → CH3CN+-Al-Cl3

R-O-R’ + CH3CN+-Al-Cl3 ⇄ CH3CN + R-(Al-Cl3)O+-R’

R-(Al-Cl3)O+-R’ + I- → R-O-Al-Cl3 + R’I R-O-Al-Cl3 + H2O → R-OH + AlCl + [OH]-

Với tỷ lệ mol của các hợp chất benzyl ete hoặc bezyl este/ AlCl3/NaI là 1/10/10.

Hiệu suất của phản ứng tách này đối với các hợp chất này là từ 71-98% với thời gian từ phân tách là 0,7 đến 4 giờ [ 22].

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng phương pháp xác định và đánh giá hàm lượng các alkylphenol và alkylphenol ethoxylat trong sản phẩm dệt may (Trang 21 - 24)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(104 trang)