Nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế

Một phần của tài liệu Luận văn thạc sĩ phát triển nông nghiệp tại tỉnh xê kong nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào (Trang 39 - 45)

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 26 1. Điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên

1.3.3. Nhân tố thuộc về điều kiện kinh tế

Trong nông nghiệp, các nhân tố thuộc về điều kiện knh tế đảm bảo tăng trưởng nông nghiệp chính là tình trạng nền kinh tế, thị trường các yếu tố đầu vào và thị trưởng tiêu thụ nông sản, chính sách về nông nghiệp, phát triển kết cấu cơ sở hạ tầng nông nghiệp và nông thôn.

a. Tình trạng nền kinh tế

Bất kỳ một nền kinh tế nào cũng có tính chu kỳ, ở trong mỗi giai đoạn nhất định, tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế luôn có những thay đổi sẽ làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu sản xuất của các ngành, trong đó có nông nghiệp. Quá trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế trong hiện tại cũng có ảnh hưởng đến triển vọng phát triển các ngành của nền kinh tế trong tương lai nên phát triển nông nghiệp trong tương lai cũng sẽ chịu sự tác đọng của quá trình đó.

b. Nhân tố thị trường

Trong nông nghiệp, thị trường đảm bảo cho quá trình phát triển nông nghiệp là thị trường các yếu tố đầu vào và thị trường tiêu thụ nông sản.

Thị trường các yếu tố đầu vào của SXNN như thị trường vốn, thiết bị và vật tƣ nông nghiệp, quyền sử dụng đất, khoa học và công nghệ. Khi nền kinh tế

nông nghiệp hàng hóa phát triển đòi hỏi phải phát triển các thị trường yếu tố đầu vào. Tuy nhiên,do năng lực kinh tế và trình độ quản lý mà nông hộ khó có thể thâm nhập về phía trước hoặc về phía sau trên chuỗi sản xuất nông sản. Vì vậy, Nhà nước phải có các thể chế để phát triển hiệu quả thị trường các yếu tố đầu vào nhằm giảm chi phí sản xuất, nhưng đồng thời nhà nước phải kiểm soát thị trường này để giảm thiểu những rủi ro đối với quá trình sản xuất.

Thị trường tiêu thụ nông sản thường phụ thuộc vào mối quan hệ cung cầu về nông sản. Cung cầu trong nông nghiệp tạo ra cơ chế hình thành giá cả nông sản và thúc đẩy việc mua bán nông sản phù hợp với các quy luật của thị trường.Cầu về nông sản là cầu cho tiêu dùng trực tiếp, cầu cho chế biến và cầu cho sản xuất trực tiếp nông nghiệp.Cung về nông sản không những đáp ứng nhu cầu tiêu dùng mà còn cho xuất khẩu mà còn cho dự trữ.

Trong nông nghiệp, cung cầu nông sản có vai trò thúc đẩy sản xuất và góp phần chuyển dịch cơ cấu trong sản xuất nông nghiệp. Qui luật cung cầu tạo ra cơ chế hình thành giá cả nông sản và thúc đẩy việc mua bán nông sản phù hợp với các qui luật của thi trường.

Ở các nước có nông nghiệp sản xuất nông sản thừa đáp ứng cho xuất khẩu thì nông dân có thể đáp ứng được nhu cầu thị trường nông sản về mặt chất lƣợng và số lƣợng. Tuy nhiên, giữa cung và cầu nông sản có những đặc điểm riêng của nó, cầu nông sản đòi hỏi luôn có sẵn, liên tục, khối lƣợng lớn và thực phẩm an toàn; còn cung nông sản luôn có đặc tính không ổn định, theo mùa vụ và không lien tục. Vì vậy, giá cả nông sản luôn dao động với biên độ lớn, gây nhiều tổn thất đối với vụ mùa và thu nhập của người nông dân, ngay cả lúc người nông dân được mùa vụ.

Khi tiếp cận sản xuất nông nghiệp theo cung hay theo cầu đều đem lại những khiếm khuyết bởi sự liên kết giữa sản xuất của người nông dân và thị trường luôn có khoảng cách lớn. Để đảm bảo cân đối giữa cung và cầu trong sản xuất nông nghiệp nên phải phát triển các ngành hàng nông sản làm cầu nối

giữa nông dân và thị trường,giảm được những tổn thất mà nông dân phải gánh chịu do sự biến động giá cả nông sản theo vụ mùa.

c. Nhân tố khoa học kỹ thuật và công nghệ

Các tiến bộ khoa học - công nghệ trong nông nghiệp phải dựa vào những tiến bộ về sinh học và sinh thái học, lấy công nghệ sinh học và sinh thái học làm trung tâm. Việc ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong nông nghiệp mang tính vùng, tính địa phương cao và đa dạng các loại công nghệ. Cần chú ý cân đối phát tiến bộ khoa học công nghệ một cách có hệ thống và bền vững. Công nghệ giúp cho quá trình sản xuất diễn ra hiệu quả, là hướng để làm tăng sản phẩm trong điều kiện nguồn lực ngày càng khan hiếm, công nghệ làm cho đầu vào trong nông nghiệp ngày càng đa dạng hơn, tạo ra hiệu quả kinh tế cao giúp nâng cao thu nhập cho người sản xuất và có nhiều thời gian rãnh hơn.

Tiến bộ khoa học - công nghệ trong nông nghiệp có nội dung rộng lớn liên quan tới sự phát triển của tất cả các yếu tố, bộ phận cấu thành lực lƣợng sản

xuất ngành này, nội dung chủ yếu nhƣ:

(1) Thủy lợi hóa nông nghiệp: cần có các biện pháp khai thác sử dụng và bảo vệ các nguồn nước trên mặt đất và dưới mặt đất cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân ở nông thôn, đồng thời hạn chế các tác hại của nước gây ra cho sản xuất với đời sống. Thủy lợi hóa là tiện bộ khoa học – công nghệ liên quan đến nước của sản xuất nông nghiệp và dời sống nhân dân nông thôn, nhằm cải tạo và chỉnh phục htiên nhiên trên cơ sở nhận thức các qui luật tự nhiên. Cần các biện pháp sử dụng nước của các sông lớn, thực hiện tốt công tác thủy nông bằng cách đầu tƣ xây dựng các công trình thủy nông, tổ chức quản lý, sử dụng, khai thác hệ thống thủy nông.

(2) Cơ giới hóa nông nghiệp: dần dần thay thế các công cụ thủ công thô sơ bằng công cụ lao động cơ giới, thay thế động lực sức người và gia súc băng động lực máy móc, thay thế phương pháp thủ công lạc hậu bằng phương pháp sản xuất kỹ thuật công nghệ cao. Cơ giới có thể theo bộ phận, toàn bộ hoặc tự

động. Trong điều kiện nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển có thể lựa chọn cơ giới hóa bộ phận làm chủ đạo.

(3) Điện khí hóa nông nghiệp nông thôn: là một tiến bộ khoa học công nghệ trong việc sử dụng nguồn điện năng vào các hoạt động sản xuất và phục vụ đời sống nông thôn. Điều kiện để thực hiện điện khí hóa nông nghiệp nông thôn là hình thành được mạng lưới điện quốc gia thông suốt từ nơi phát điện đến tận các cơ sở sử dụng điện, là các hộ gia đình, các trang trại trồng trọt, chăn nuôi... ở mọi vùng nông thôn. Năng lƣợng điện phục vụ nông nghiệp nông thôn chủ yếu theo hướng: năng lượng điện là cơ sở của việc cơ khí hóa lao động ở một số khâu như thủy lợi, chăn uôi, hoạt động của xưởng cơ khí, xưởng chế biến nông sản... Sử dụng điện dưới dạng nhiệt năng hay quan năng để chiếu sáng, sấy khô, ấp trứng, sưởi ấp gia súc... hoặc dưới dạng sóng như tia các loại tia để khử độc trong nước, tiêu diệt các vi sinh vật có hại, chữa bệnh cho gia súc, gia cầm...

(3) Hóa học hóa: áp dụng công nghệ hóa chất phục vụ nông nghiệp, bao gồm sử dụng các phương tiện hóa học vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp và phục vụ đời sống nông thôn. Hóa học hóa trong nông nghiệp bao gồm: Bổ sung và tăng cường cung cấp thức ăn, chất dinh dưỡng cho cây trồng, vật nuôi bằng việc sử dụng các loại phân bón hóa học, thức ăn gia súc có bổ sung các nguyên tố vi lƣợng, đa lƣợng... Sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ, thuốc trừ dịch bệnh vật nuôi... sử dụng các vật liệu hóa học trong xây dựng các công trình phục vụ nông nghiệp nhƣ công trình thủy lợi, cải tạo đất, xây dựng chuồng trại...

(4) Sinh học hóa: nghiên cứu và áp dụng những thành tựu về khoa học sinh vật và khoa học sinh thái vào nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng các sản phẩm nông nghiệp và bảo vệ môi trường sinh thái. Đẻ ứng dụng sinh học cần điều tra một cách cơ bản toàn diện và trọng điểm các điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên phong phú về thực vật, động vật và vi sinh vật...

Nghiên cứu, phát hiện và nắm vững hệ thống qui luật về mối quan hệ giữa các quần thể sinh vật với nhau với điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu... trên các tiểu vùng và cả nước. Nghiên cứu để ra được phương hướng đúng đắn để khai thác, bảo vệ và sử dụng ngày càng tốt hơn, đảm bảo tái sinh không ngừng các nguồn tài nguyên sinh vật. Nhập giống cây con phù hợp để bổ sung nguồn gen hoặc lai tạo.

Lựa chọn hình thức chuyển giao tiến bộ khoa học - công nghệ hợp lý sẽ thúc đẩy phát triển nông nghiệp. Việc phổ biến công nghệ mới trong sản xuất nông nghiệp có thể thực hiện qua nhiều hình thức khác nhau. Có các mô hình chuyển giao công nghệ phổ biến nhƣ: Mô hình chuyển giao công nghệ tuyên tính, mô hình chuyên giao công gnhệ thích ứng, mô hình nghiên cứu hệ thống canh tác, mô hình nghiên cứu bắt đầu tƣ nông dân, mô hình cải tiến đa nguồn.

Nhƣ vậy, đối với sản xuất nông nghiệp, tùy vào điều kiện và tình hình thực tế của từng vùng, khu vực, đặc điểm kinh tế - xã hội của nông dân và các doanh nghiệp, sự cần thiết phải có công nghệ mới mà có sự lựa chọn chuyển giao công nghệ phù hợp nhằm khai thác tối đa tiềm năng phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững.

d. Cơ chế, chính sách Nhà nước về nông nghiệp

Tùy cách tiếp cận có thể phân loại các chính sách kinh tế trong nghiệp theo những tiêu thức khác nhau.

Theo nội dung, có thể phân loại các chính sách theo cách gọi tên cụ thể nhƣ: chính sách đầu tƣ vốn, chính tín dụng, chính sách ruộng đất…

- Theo lĩnh vực,có thể phân loại thành các nhóm chính sách nông nghiệp thuộc lĩnhvực tài chính ( thuế, đầu tƣ, trở cấp sản xuất…); lĩnh vực tiền tệ (giá cả, lãi suất…lĩnh vực XNK (chính sách thuế, hạn ngạch, tỷ giá hối đoái…)

- Theo quan hệ của chính sách đối với quá trình sản xuất,có thể phân thành các yếu tố đầu vào(đầu tƣ, vật tƣ, trở giá, khuyến nông,các chính sách đầu ra (thị trường và giá cả, chính sách xuất khẩu…); các chính sách về tổ chức quá

trình sản xuất (chính sách đổi mới cơ cầu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, chính sách đổi mới cơ cầu quản lý…).

Trong nền kinh tế thị trường,mỗi chính sách mà nhà nước sử dụng đều nhằm tác động vào phía cung hay phía cầu thị trường,nhưng cũng có chính sách có thể tác động lên cả hai phía.Một chính sách đƣợc sử dụng để tác động lên phía cung thì phải có các biện pháp hạn chế phản ứng phụ lên phía cầu.vì vậy, một chính sách đƣợc ban hành cần xác định rõ nó là chính sách gì để có thể tạo ra cơ chế phối hợp giữa các chính sách.

e. Phát triển cơ sở hạ tầng của nông nghiệp, nông thôn

Cơ sở hạ tầng nông thôn gồm đường bộ, đường thủy; hệ thống tưới tiêu, hệ thống cấp thoat nước, cầu cảng, hệ thống điện, thông tin lien lạc… Cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn là nhân tố ngoại sinh của phát triển nông nghiệp, nhƣng có vai trò thúc đẩy nâng cao khả năng cạnh tranh và lợi thế so sánh của nông sản đƣợc sản xuất và tiêu thụ, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn gồm giao thông, thủy lợi và thông tin liên lạc sẽ làm giảm chi phí trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, xây dựng hoàn thiện hệ thống cấp thoát nước, cấp điện góp phần nâng cao được chất lượng cuộc sông tại nông thôn, tang nhanh năng suất nông nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn trở thành chính quan trọng tại các nước đặc biệt là các nước đang phát triển nhằm thúc đẩy tăng trưởng nông nghiệp, xóa dần khoảng cách nông thôn và thành thị, thúc đẩy lưu thông nông sản hang hóa đưa nông nghiệp phát triển nhanh hơn.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH XÊ KONG

Một phần của tài liệu Luận văn thạc sĩ phát triển nông nghiệp tại tỉnh xê kong nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào (Trang 39 - 45)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(101 trang)