Các văn bản quy phạm pháp luật Quốc tế về thi hành án phạt tù

Một phần của tài liệu Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh (Trang 44 - 48)

1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.3.2. Nghiên cứu quản lý trại giam trên thế giới

1.3.2.2. Các văn bản quy phạm pháp luật Quốc tế về thi hành án phạt tù

Một trong những thành tựu lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 20 là đã tạo dựng được một hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người. Hệ thống này trước hết phải kể đến Hiến chương Liên Hợp Quốc (1945), Tuyên ngôn Nhân quyền (1948) và hai Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966 (Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội và Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự, chính trị). Bên cạnh đó, hệ thống này còn có hàng trăm văn kiện quốc tế khác được ban hành dưới nhiều cấp độ pháp lý hình thức khác nhau như điều ước, công ước, nghị định thư, hướng dẫn, khuyến nghị… được các quốc gia thừa nhận và tôn trọng.

Trong số các chế định quan trọng về quyền con người, Liên Hiệp Quốc đặc biệt quan tâm tới việc bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực thi hành án phạt tù. Đây là lĩnh vực cực kỳ nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến các chủ thể thực thi pháp luật và người phải chấp hành hình phạt, cần phải có các quy định

nhân, công dân trong hoạt động tƣ pháp nói chung và trong thi hành án phạt tù nói riêng.

Hệ thống này có các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến thi hành án phạt tù bao gồm các văn bản tiêu biểu sau đây :

Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền

Ngày 10 tháng 12 năm 1948, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua Tuyên ngôn thế giới về quyền con người (gọi chung là Tuyên ngôn). Đây là văn kiện đầu tiên của bộ luật quốc tế về quyền con người. Tuyên ngôn bao gồm Lời nói đầu và 30 điều quy định về các quyền và một điều quy định về bảo vệ Tuyên ngôn. Nội dung chủ yếu của lời nói đầu là ghi nhận các nguyên tắc quan trọng nhất trong việc bảo vệ quyền con người. Những nguyên tắc, đó là đảm bảo cho con người quyền thoát khỏi đói nghèo; thừa nhận nhân phẩm các quyền bình đẳng và quyền tự do; quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp luật. Mục tiêu cuối cùng của Tuyên ngôn là làm cho tất cả các cá nhân, các tổ chức xã hội, các quốc gia, dân tộc nỗ lực tôn trọng và thúc đẩy việc thực hiện các quyền con người.

Từ Điều 1 đến Điều 21, Tuyên ngôn đề cập đến nhóm quyền dân sự, chính trị mà con người phải được hưởng, gồm : quyền sống, quyền tự do cá nhân, quyền an ninh, quyền bình đẳng… ; Từ Điều 22 đến Điều 27, Tuyên ngôn đề cập đến các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, gồm : quyền làm việc, quyền nghỉ ngơi, giải trí, quyền học tập… ; Điều 28, Tuyên ngôn ghi nhận „Mọi người đều có quyền đƣợc bảo đảm có một trật tự xã hội (quốc gia) và quốc tế, trong đó các quyền tự do cơ bản nêu trong bản Tuyên ngôn có thể đƣợc thực hiện một cách đầy đủ‟ ; Điều 29 của Tuyên ngôn đề cập tới nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng, theo đó: „Mỗi người có nghĩa vụ với cộng đồng, trong đó nhân cách của bản thân có thể đƣợc phát triển tự do và trọn vẹn… Những hạn chế đối với quyền và tự do đƣợc giải thích nhƣ sau: Các quyền và tự do cho cá nhân chỉ phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền và tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và sự phồn vinh chung trong một xã hội dân chủ…‟. Điều 30 của Tuyên ngôn khẳng định không một cá nhân hoặc Nhà nước nào được phép có những hành vi hủy hoại Tuyên ngôn.

Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội

Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội có hiệu lực từ ngày 3/1/1976, có 31 điều. Điều 1 của Công ƣớc quy định về quyền tự quyết của các dân tộc. Theo đó, các dân tộc quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội. Quyền tự quyết là một yếu tố nền tảng của pháp luật quốc tế và là mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng quốc tế. Quy định về quyền tự quyết đặc biệt quan trọng vì việc công nhận quyền này là điều kiện cần thiết để bảo vệ có hiệu quả các quyền của mỗi cá nhân trong cộng đồng dân tộc. Điều 2 của Công ƣớc chỉ rõ bản chất các nghĩa vụ pháp lý của quốc gia thành viên theo Công ƣớc, xác định các cách thức tiến hành các biện pháp cần thiết để thực hiện các quyền đƣợc quy định tại các điều từ Điều 3 đến Điều 15 của Công ƣớc (gồm các quyền: bình đẳng nam nữ về việc làm, điều kiện làm việc thuận lợi và công bằng, thành lập và gia nhập công đoàn, tham gia bảo đảm và bảo hiểm xã hội, bảo vệ và trợ giúp gia đình, tiêu chuẩn cao nhất về sức khỏe thể chất và tinh thần, học hành, về văn hóa và được hưởng lợi ích từ các thành tựu khoa học).

Việt Nam phê chuẩn, gia nhập Công ƣớc quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa ngày 24 tháng 9 năm 1982.

Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị.

Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị có hiệu lực từ ngày 23 tháng 3 năm 1976 có 53 điều. Điều 1 của Công ƣớc quy định các dân tộc có quyền tự quyết định thể chế chính trị và tự do phát triển về kinh tế, xã hội và văn hóa. Điều 2 quy định nghĩa vụ của các quốc gia tôn trọng và bảo đảm các quyền đƣợc công nhận trong Công ƣớc, bảo đảm bình đẳng nam nữ về các quyền dân sự chính trị, tiến hành các biện pháp lập pháp, hành pháp, tƣ pháp và các biện pháp khác để thực hiện có hiệu quả các quyền đƣợc nêu trong Công ƣớc. Toàn bộ các điều từ Điều 6 đến Điều 27 quy định về các quyền cụ thể của con người trong lĩnh vực dân sự và chính trị. Ngoài ra, Công ƣớc còn quy định quốc gia có nghĩa vụ làm báo cáo quốc gia về tình hình thực thi Công ƣớc. Các quốc gia thành viên sẽ đệ trình báo cáo về những biện pháp mình đã tiến hành để thực hiện các quyền đƣợc ghi nhận trong Công ƣớc và về những tiến bộ đạt đƣợc trong việc thực hiện các quyền đó. Mỗi quốc gia thành viên phải đệ trình báo

cáo trong vòng một năm sau khi Công ƣớc có hiệu lực với quốc gia đó và trình báo cáo định kỳ 5 năm một lần.

Việt Nam phê chuẩn, gia nhập Công ƣớc quốc tế về các quyền dân sự và chính trị vào ngày 24 tháng 9 năm 1982.

Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân

Văn bản này đƣợc thông qua tại Hội nghị lần thứ nhất của Liên Hiệp Quốc về phòng chống tội ác và đối xử với tội phạm tổ chức tại Giơ-ne-vơ năm 1955 và đƣợc Hội đồng kinh tế xã hội phê chuẩn bằng Nghị quyết 663C(XXIV) ngày 31 tháng 7 năm 1957 và Nghị quyết 2067(LXH) ngày 13 tháng 5 năm 1977. Văn kiện này có 95 mục quy định chi tiết về các tiêu chuẩn tối thiểu trong việc đối xử với tù nhân. Văn bản này là cơ sở pháp lý để các tổ chức quốc tế theo dõi đánh giá việc đảm bảo các quyền con người trong lĩnh vực thi hành án phạt tù ở các quốc gia.

Những nguyên tắc cơ bản trong việc đối xử với tù nhân

Văn kiện này đƣợc thông qua và công bố theo Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc số 45/111 ngày 14 tháng 12 năm 1990. Nhằm đạt đƣợc sự đồng thuận giữa các quốc gia thành viên, tạo sự thống nhất trên toàn cầu về việc đối xử với tù nhân, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã ban hành văn kiện quan trọng này. Trong đó, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc có xác định 11 nguyên tắc cơ bản về đối xử với tù nhân.

Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam giữ hay cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào

Văn kiện này đƣợc Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bằng Nghị quyết số 43/173 ngày 9/12/1988. Theo đó, Liên Hợp Quốc quy định 39 nguyên tắc mang tính tổng hợp và toàn diện nhằm bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào.

Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hiệp Quốc về hoạt động tƣ pháp đối với người chưa thành niên

Văn bản này đƣợc gọi tắt là Các quy tắc Bắc Kinh đã đƣợc Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 29/11/1985. Đây là văn kiện quy định chi tiết về

các các quy tắc trong hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên từ các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đến việc giam giữ, thi hành án.

Các quy tắc của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do

Văn kiện này đã đƣợc Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua bằng Nghị quyết 45/113 ngày 14/12/1990. Đây là văn bản quy định rất chi tiết về các nguyên tắc, trình tự thủ tục quản lý, giam giữ đối với người chưa thành niên bị bắt giữ, giam, xét xử, thi hành án nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người chưa thành niên. Đặc biệt, văn kiện này còn đưa ra các mục tiêu, biện pháp chung, từ cấp quốc gia cho đến quốc tế để thực hiện có hiệu quả các cam kết quốc tế về vấn đề này.

Một phần của tài liệu Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trại giam bền vững nghiên cứu trường hợp trại giam quảng ninh (Trang 44 - 48)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(99 trang)