CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG
2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng
2.1.3 Kinh tế - xã hội
2.1.3.2 Khoa học – công nghệ
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Với đội ngũ chuyên môn ngày càng được tăng cường cả về số lượng và trình độ chuyên môn nghiệp vụ từ tỉnh đến huyện, xã và đội ngũ công tác viên tham gia đông đảo, đến nay công tác chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ ngày càng tiến bộ, đã góp phần quan trọng vào việc làm tăng diện tích gieo trồng, năng suất, chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
Chuyển giao về giống, đến năm 2010 nhiều giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao từ Viện,1 số dự án hợp tác Quốc tế đã được nhập, khảo nghiệm, sản xuất thử và đại trà trên địa bàn toàn tỉnh, điển hình là các giống lúa, mía, bò, heo, gia cầm, tôm nước lợ chất lượng cao đang sử dụng khá phổ biến . Đến năm 2010 có 70% giống lúa chất lượng cao, 80% giống mía mới, 67% giống bò lai, trên 90%
giống heo cao sản, 60% giống tôm sú đạt chất lượng đã được áp dụng phần tăng đáng kể năng suất, chất lượng . Bên cạnh đó vẫn còn một số giống phục vụ phát triển cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày chưa được quan tâm nhiều nên còn hạn chế về năng suất, nguồn vốn phục vụ chương trình giống còn thấp, mới đáp ứng khoảng 40% so nhu cầu, quản lý nhà nước về giống còn hạn chế, gây nhiều khó khăn cho nông dân.
Công tác khuyến nông, khuyến ngư đã được quan tâm tập trung mạnh, hàng năm công tác tập huấn chuyển giao kỹ thuật đã thực hiện được 300 - 500 cuộc/năm, bình quân 40 - 50 người/cuộc, xây dựng mô hình trình diễn 300 - 400 điểm/năm, hội thảo 35 - 40 cuộc/năm, thực hiện khuyến nông trên phương tiện phát thanh, truyền hình mỗi tuần hai buổi, hàng ngàn áp phích, tờ bướm v.v. đã góp phần không nhỏ nâng cao trình độ sản xuất cho nông dân. Bên cạnh đó cũng cần cải tiến nội dung, phương pháp…để lôi cuốn nông dân tự nguyện tham gia và tiếp thụ tốt nội dung chương trình .
Công tác bảo vệ cây trồng, vật nuôi rất được quan tâm và tập trung mạnh vào công tác dự tính, tập huấn kỹ thuật sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thú y, tổ chức phòng trừ dịch bệnh, nhờ đó mà đã hạn chế được đáng kể dịch bệnh trên địa bàn
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
tỉnh . Hạn chế hiện nay là chưa quản lý tốt chất lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi, phân bón
2.1.3.3 Cơ sở hạ tầng và Cơ sở vật chất kĩ thuật a/ Cơ sở hạ tầng
* Giao thông
Được đầu tư nâng cấp tương đối đều khắp trên địa bàn toàn tỉnh, là tiền đề hết sức quan trọng làm cho tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh tăng nhanh . Hiện nay mạng lưới giao thông thủy bộ toàn tỉnh đã được đầu tư nâng cấp như sau:
Mạng lưới giao thông đường bộ: Tổng chiều dài 4.028,8 km, trong đó:
+ Quốc lộ : 04 tuyến, tổng chiều dài 239,4 km, đường cấp 3 đồng bằng, mặt trải nhựa, rộng 6-12 m, tải trọng H30.
+ Đường tỉnh : 14 tuyến, dài 409,3 km, đường cấp 4,5 đồng bằng, mặt trải nhựa, rộng 4-8 m, tải trọng H8-H13.
+ Đường huyện : 44 tuyến, tổng chiều dài 337 km, mặt trải nhựa, bê tông xi măng, cấp phối và đường đất, rộng 3,5 - 6 m, tải trọng H3,5-H8.
+ Đường giao thông nông thôn (liên xã, liên ấp) : 158 tuyến, tổng chiều dài 690,29 km, mặt đường chủ yếu là bê tông xi măng, rộng 2 m, tải trọng 1,5-2 tấn, hiện còn 14 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã.
Với mạng lưới cầu đường bộ như trên, đến năm 2008 về cơ bản đã giải quyết được việc đi lại quanh năm giữa tỉnh đến huyện, xã bằng nhiều loại phương tiện giao thông đường bộ. Hạn chế tồn tại là mặt đường hẹp, tải trọng cầu, đường thấp, chất lượng đường còn yếu;
- Mạng lưới giao thông đường thuỷ hiện có 659 km đường, có thể đáp ứng phương tiện trọng tải 100 tấn trở lên, bao gồm :
+ Tuyến giao thông do TW quản lý : 03 tuyến, dài 136 km .
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
+ Tuyến giao thông thuỷ nội vùng do tỉnh quản lý : dài 523 km, mặt sông rộng 20 - 50 m, sâu 3 - 5 m, tải trọng tối đa 100 - 200 tấn/1 phương tiện .
Như vậy, đường thủy Sóc Trăng có vị trí hết sức quan trọng: từ Sóc Trăng người dân có thể di chuyển bằng đường thủy đến tất cả các tỉnh ĐBSCL, sang Campuchia, Lào, và xuôi dòng Mê Công ra biển Đông đi ra thế giới. Tuy nhiên vấn đề nạo vét, cải tạo lòng sông còn hạn chế nên cũng ảnh hưởng đến hoạt động đường sông của tỉnh.
Mạng lưới giao thông thuỷ nội vùng bao gồm hàng ngàn kinh rạch chằng chịt vừa phục vụ giao thông vừa lấy nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản.
* Hệ thống điện: Nguồn điện ở Sóc Trăng được cấp từ lưới truyền tải điện Quốc gia qua các trạm biến áp 110/22 KV tại TP Sóc Trăng, Đại Ngãi, Trần Đề và TP Bạc Liêu, ngoài ra còn được cấp 1 phần từ trạm biến áp Vị Thanh (Hậu Giang) . Từ lưới điện cao áp, lưới phân phối điện trung thế (22 KV) đã phủ khắp địa bàn 105 xã, phường toàn tỉnh với tổng chiều dài 2.046 km, trong đó đường dây 3 pha 914 km, đường dây 1 pha 1.132 km . Lưới hạ thế 0,4 KV với tổng chiều dài 2.730 km, gồm 3 pha 220/380 v và 1 pha 220 V . Bán kính phục vụ của đường dây hạ thế là 600-800 m đối với thành thị và 800-1200 m đối với nông thôn
Đến năm 2008 có 100% số xã phường có điện, 85% hộ gia đình sử dụng điện . Cơ cấu sử dụng điện cho tiêu dùng dân cư là 69%, công nghiệp xây dựng là 23%, thương nghiệp - dịch vụ là 2%, nông - lâm - ngư nghiệp 3%, hoạt động khác 3%.
Như vậy có thể thấy điện phục vụ sản xuất nông nghiệp - thủy sản còn rất thấp, chủ yếu do thiếu đường dây hạ thế 0,4 KV.
*Mạng lưới bưu điện: được đầu tư đáng kể từ khi tái lập tỉnh, đến năm 2010 có 1 bưu cục trung tâm và 10 bưu cục ở các huyện, 35 khu vực và 58 bưu điện văn hóa xã, tổng số máy điện thoại : 567,6 nghìn máy, trong đó máy cố định 180,2 nghìn máy, di động 387,4 nghìn máy, bình quân 16.1 máy /100 dân sử dụng điện thoại cố định, số thuê bao internet 20620. Đến năm 2008 mạng lưới viễn thông đã
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
được số hóa 100%, sử dụng kỹ thuật hiện đại, các máy truyền dẫn vi ba, cáp quang, mạng dịch vụ viễn thông, đã giúp cho hoạt động thông tin liên lạc trở nên hết sức thuận lợi.
b/ Cơ sở vật chất kĩ thuật: Đến nay, toàn tỉnh đã đầu tư, nâng cấp 07 dự án Thủy lợi lớn là: DA Kế Sách, Long Phú - Tiếp Nhật, Ba Rinh - Tà Liêm, Quản Lộ - Phụng Hiệp, Thạnh Mỹ, Ven Biển Đông, Cù lao sông Hậu .Tổng số công trình các loại gồm :
- Đê ngăn mặn, triều dâng cấp I (B> 4 m) : 383 km
- Cống ngăn mặn và điều tiết nước : 1.029 cống ( TĐ: >2m : 75 cống) - Kinh cấp I (B> 17 m) 1.131 km
- Kinh cấp II (B>10 m) 4.699 km
- Kinh nội đồng (B>3 m) 3.789 km, mật độ 17m/ha
- Trạm bơm cố định 02 trạm chủ yếu phục vụ phòng chống cháy rừng
- Máy bơm rời trong dân hiện có 73.190 máy các loại công suất 4 - 12 CV, bình quân 2 hộ có 1 máy
Với mức đầu tư từ nguồn Ngân sách hàng năm của TW và Địa phương, bình quân 100 tỷ đồng/năm, đến cuối năm 2010 hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu ngăn mặn cho vùng ngọt, phòng chống triều cường các huyện vùng ven biển, điều tiết nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, góp phần cải tạo môi trường, phát triển giao thông thủy bộ, phục vụ các ngành kinh tế-xã hội khác . Hạn chế còn tồn tại là chưa có khả năng chủ động nguồn nước theo nhu cầu phát triển cây trồng, vật nuôi.
2.1.3.4 Thị trường
Trong lĩnh vực nông nghiệp thị trường có vai trò quan trọng trong việc xác định các vùng chuyên canh sản xuất hàng hóa, phát huy thế mạnh của từng loại đất.
Với địa thế khá thuận lợi cùng với hệ thống giao thông thủy, bộ đa dạng tạo điều
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
kiện phát triển kinh tế liên vùng đặc biệt là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả thị trường nước ngoài như các nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, EU…Với nhu cầu của thị trường trong nước gồm: lúa đặc sản, ngô, đậu, rau, cây ăn quả, rau các loại, bò, lợn, gia cầm,…và thị trường nước ngoài gồm: lúa, gạo, thủy hải sản… đã thúc đẩy việc quy hoạch phát triển các vùng chuyên canh cây trồng vật nuôi phù hợp, đáp ứng kịp thời nhu cầu của thị trường.
Thị trường tiêu thụ nông sản ổn định là yếu tố quan trọng để phát triển nông nghiệp ổn định. Song, thị trường trong tỉnh, trong nước và nước ngoài không ổn định, giá cả hàng hóa bấp bênh gây thiệt hại cho người nông dân. Do đó, nhà nước cần có những biện pháp điều tiết giá cả hợp lí để bảo vệ quyền lợi cho người dân.
Tóm lại, thị trường là động lực thúc đẩy sự phát triển sản xuất và phân bố nông nghiệp ngược lại nông nghiệp muốn phát triển thì phải vận động theo quy luật của thị trường, đáp ứng yêu cầu của thị trường.
2.1.3.5 Vốn
- Giai đoạn 2000 – 2005:
Tổng vốn đầu tư 5 năm cho thuỷ lợi, nông - lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh là: 1.003,5 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách: 993,3 tỷ đồng, huy động nhân dân:
10,2 tỷ đồng. Chia ra:
Công trình do Bộ Nông nghiệp & PTNT chủ quản đầu tư : 300,3 tỷ;
Công trình do tỉnh chủ quản đầu tư: 547,9 tỷ;
Công trình do huyện chủ quản đầu tư: 155,3 tỷ ( trong đó vốn ngân sách:
145,1 tỷ, vốn dân: 10,2 tỷ);
Cơ cấu vốn đầu tư cho các ngành là: thuỷ lợi 683,1 tỷ, chiếm 68,08% tổng vốn đầu tư, nông nghiệp 12,6 tỷ, chiếm 1,26 %, lâm nghiệp 162,2 tỷ, chiếm 16,16%, các chương trình mục tiêu Quốc gia và cơ sở hạ tầng khác 145,5 tỷ, chiếm 14,5%.
Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa
Cơ cấu nguồn vốn đầu tư bao gồm vốn nước ngoài (ODA): 467,8 tỷ đồng, chiếm 46,62%, vốn ngân sách trong nước 525,5 tỷ, chiếm 52,36%; vốn dân: 10,2 tỷ đồng chiếm 1,02% .
Kết quả do đầu tư mang lại là tăng khả năng tưới tiêu, ngăn mặn cho lúa, màu, cây ăn trái từ 134,0 nghìn ha năm 2000 lên 176,0 nghìn ha canh tác (năm 2005) trong điều kiện thời tiết bình thường, tạo nguồn cho 44,0 nghìn ha đất nuôi trồng thuỷ sản, cung cấp nước hợp vệ sinh cho hộ dân nông thôn đến năm 2005 đạt 70,5%.
Nhìn chung, các dự án thuộc ngành nông nghiệp & phát triển nông thôn 5 năm qua là phù hợp với quy hoạch, có nhu cầu bức xúc, tránh được lãng phí trong các khâu đầu tư và phục vụ có hiệu quả sản xuất nông - lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp - nông thôn, phòng chống bão lụt v.v .
- Giai đoạn 2006 – 2010:
Nguồn vốn đầu tư cho ngành nông nghiệp giai đoạn này từ các nguồn vốn của Trung ương (TW), vốn đầu tư nước ngoài, từ các chương trình mục tiêu quốc gia…tính từ 2006 đến cuối năm 2010 là 546.410 triệu đồng trong đó vốn ngân sách 447.045 triệu đồng, chủ yếu tập trung đầu tư thủy lợi, đê, cầu cống, bờ kè và tập huấn khuyến nông, khuyến ngư, xây dựng các mô hình sản xuất để nhân rộng, cung cấp nước sạch.