Hợp tác quốc tế

Một phần của tài liệu phát triển nông nghiệp tỉnh sóc trăng trong thời kì công nghiệp hóa (Trang 62 - 105)

CHƯƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP TỈNH SÓC TRĂNG

2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng

2.1.3 Kinh tế - xã hội

2.1.3.6 Hợp tác quốc tế

Là lĩnh vực rất được ngành quan tâm đẩy mạnh hợp tác và mang lại hiệu quả cao trong 5 năm qua. Ngoài các Dự án lớn đang tiếp tục thực hiện như: Dự án Ngành cơ sở hạ tầng nông thôn do ADB tài trợ, Dự án Bảo vệ và phát triển những vùng đất ngập nước ven biển do WB tài trợ, Dự án phát triển thủy lợi ĐBSCL do WB tài trợ, Còn có 1 số Dự án thuộc Chương trình hỗ trợ ngành Nông nghiệp (ASPS) do DANIDA tài trợ rất có hiệu quả đối với sản xuất nông - lâm - nghiệp và PTNT , gồm : Hợp phần IPM, hợp phần Sau Thu hoạch và Hợp phần giống, phối hợp thực hiện với Dự án Nâng cao Đời sống Nông thôn do CIDA tài trợ và các

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

chương trình, dự án do các tổ chức phi chính phủ tài trợ như Tổ chức Heifer - Hoa Kỳ, tổ chức ACTMANG - Nhật bản. Trong 5 năm đã phát hiện và xây dựng dự án kêu gọi nước ngoài đầu tư và đã được chấp thuận, đó là: Dự án Bảo tồn sinh cảnh vùng đất ngập nước Cù Lao Dung do Chính Phủ đức tài trợ, kinh phí 44 tỷ; Dự án thí điểm nâng cao chất lượng cây trồng và vật nuôi tỉnh Sóc Trăng do CIDA tài trợ, kinh phí 35,7 tỷ.

Đến năm 2010 toàn ngành nông nghiệp đã thu hút được các dự án đầu tư vốn ODA và FDI như sau:

Dự án vốn ODA, tổng số 06 Dự án, tổng vốn đầu tư 475,5 tỷ đồng (dự án cơ sở hạ tầng nông thôn 110,9 tỷ đồng, Chương trình hỗ trợ ngành Nông nghiệp 31,1tỷ, Hợp phần IPM 26,2 tỷ, dự án Bảo vệ và phát triển những vùng đất nông nghiệp ven biển 195,4 tỷ, Hợp phần nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 56,8 tỷ, dự án nâng cao chất lượng cây trồng vật nuôi 37,2 tỷ, dự án quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên 44,0 tỷ đồng) . Nếu tính cả dự án phát triển Thủy lợi ĐBSCL (phần trên địa bàn Sóc Trăng) thì nguồn vốn ODA đầu tư cho ngành Nông nghiệp

& PTNT là khoảng 850 tỷ đồng, trong đó vốn đối ứng trong nước khoảng 250 tỷ đồng.

Dự án, Chương trình do các tổ chức Phi Chính phủ tài trợ, tổng số 03 Chương trình, Dự án ( Chương trình Heifer thực hiện từ năm 1993, kéo dài đến năm 2011, vốn tài trợ bình quân hàng năm 250 triệu/năm ; Chương trình hỗ trợ trồng rừng phòng hộ do tổ chức ACMANG Nhật Bản tài trợ, thực hiện từ 2004 đến nay, vốn hỗ trợ bình quân 40 - 50 triệu đồng/năm ; dự án các sự lựa chọn và quyền sở hữu cấp nước và vệ sinh môi trường cho cư dân nghèo nông thôn vùng ĐBSCL, thực hiện từ 2005 - 2010, tổng mức vốn cam kết 1,6 triệu USD)

2.2.4. Đánh giá chung a/ Thuận lợi

- Sóc Trăng có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên khá đa dạng và phong phú là tiền đề cơ bản cho nông nghiệp phát triển:

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

+ Vị trí địa lý khá thuận lợi để phát triển nhanh kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp

+ Yếu tố khí hậu hết sức lý tưởng cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản nhờ nền nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào quanh năm, các yếu tố khí hậu khá ổn định theo thời gian và không gian, ít bị thiên tai bão lụt

+ Nguồn nước khá dồi dào đủ đáp ứng nhu cầu nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản trên phần lớn diện tích trong tỉnh, khả năng lợi dụng thủy triều tưới tự, tiêu chảy là rất lớn

+ Thổ nhưỡng giàu chất hữu cơ, đa số có tầng mặt tơi xốp, tầng mùn dày, hàm lượng mùn cao, độ phèn mặn trong đất đã được cải tạo đáng kể. Tiềm năng đất đai sản xuất nông nghiệp còn khá lớn, điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất, nước phong phú, với vị trí địa lý thuận lợi Sóc trăng có các lợi thế để phát triển sản xuất các loại nông sản truyền thống được thị trường ưa chuộng như lúa gạo, hành tím, mía, một số loại trái cây...

+ Tài nguyên sinh vật khá đa dạng và phong phú, thích nghi cao với cả 3 vùng sinh thái ngọt, lợ và mặn, rất thuận lợi để phát triển 1 nền nông nghiệp đa dạng, với 1 số các sản phẩm chủ lực có năng suất, chất lượng rất cao như lúa gạo, hành tím, cây ăn trái đặc sản, tôm sú, có khả năng cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới

+ Thuộc vùng ĐBSCL nhưng Sóc Trăng ít bị ảnh hưởng về lũ và giông bão - Cơ sở hạ tầng đã và đang đầu tư cho nông nghiệp tạo sức bật mới cho sản xuất

- Thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, đang được triển khai ứng dụng sẽ tạo bước đột phá tăng về năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất.

- Chính sách nông nghiệp, nông thôn và nông dân tiếp tục đổi mới sẽ tạo động lực và thời cơ mới cho phát triển sản xuất: chính sách đất đai, đầu tư, khoa học công nghệ, chính sách an sinh xã hội.

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

So với các vùng trên cả nước, kể cả các tỉnh thuộc vùng ĐBSCL, lợi thế về tự nhiên của Sóc Trăng là rất cơ bản, hết sức thuận lợi cho việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là trong lĩnh vực phát triển kinh tế nông nghiệp b/ Tồn tại

Bên cạnh những thuận lợi, Sóc Trăng cũng có những hạn chế nhất định ảnh hưởng đến phát triển và phân bố nông nghiệp

+ Do có hai mùa mưa, nắng cho nên nhu cầu nước ngọt trong mùa khô khá căng thẳng, trong khi mùa mưa thì hơi bị thừa và phân bố mưa không đều nên vẫn có thời điểm hạn thiếu nước và có thời điểm mưa dài ngày gây ngập úng khá nghiêm trọng . Trong mùa khô, đặc biệt 3 tháng trọng điểm (3,4,5) thiếu hụt nước ngọt nghiêm trọng, kết hợp lượng bốc hơi cao, tốc độ gió mạnh khiến cho khoảng 40% diện tích không sản xuất được, còn trong 3 tháng cao điểm mùa mưa có khoảng 35- 40% diện tích ngập úng. Nhìn chung khả năng khắc phục thiếu nước và ngập úng ở các vùng trên còn rất hạn chế do hạ tầng thủy lợi còn thiếu đồng bộ.

Thêm vào nữa, thời tiết diễn biến phức tạp, mưa nắng không theo quy luật nhất định, mùa mưa thường bị ảnh hưởng bão lụt, mưa dầm, mùa nắng bị xâm nhập mặn sâu, đã làm ảnh hưởng và thiệt hại đáng kể đến lúa, màu, cây ăn trái cả về diện tích, đặc biệt là ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng.

+ Đất trong tỉnh phần lớn có độ PH trong đất tương đối thấp, ngoài ra còn 23,7% là đất nhiễm phèn, điều này đã có ảnh hưởng nhất định đến sự phát sinh phát triển của cây trồng vật nuôi.

+ Dịch cúm gia cầm tiếp tục đe dọa làm cho người chăn nuôi gia cầm trong tỉnh không những không phát triển chăn nuôi được, mà còn thiệt hại nghiêm trọng do không tiêu thụ được sản phẩm trứng, thịt gia cầm.

+ Giá cả vật tư, phân bón, giá thức ăn gia súc gia cầm tiếp tục ở mức cao, làm cho chi phí cao, lợi nhuận tăng ít, dù giá bán tương đối cao.

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

+ Cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp, tuy đã được đầu tư khá lớn, nhưng khi thời tiết diễn biến ngày một phức tạp và so với nhu cầu sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng, thì vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế.

+ Trình độ dân trí còn thấp

+ Công nghiệp chế biến còn nhỏ lẻ, mức độ cơ giới hóa trong sản xuất còn thấp chưa có tác động tích cực đến phát triển sản xuất

+ Sóc Trăng ở xa các thị trường tiêu thụ nông sản lớn nên chi phí vận chuyển lớn, khó kêu gọi đầu tư. Mặt khác thị trường tiêu thụ nông sản không ổn định, giá cả bấp bênh, công tác dự báo thị trường, xúc tiến thương mại còn làm được rất ít so với yêu cầu,…cũng là những trở ngại lớn cho nông nghiệp Sóc Trăng.

2.3 Thực trạng phát triển và phân bố nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2000 - 2010

2.3.1. Khái quát chung

2.3.1.1. Vị trí của nông nghiệp trong nền kinh tế tỉnh Sóc Trăng

Quy mô GDP của toàn tỉnh ngày càng tăng, trong đó có phần đóng góp quan trọng của khu vực nông - lâm - thủy sản

Bảng 2.2 Tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP), GDP bình quân đầu người của tỉnh Sóc Trăng giai đoạn 2000 - 2010

Chỉ tiêu 2000 2005 2010

GDP (tỉ đồng, giá thực tế) 5034,5 9265,6 26497,7

% so với vùng ĐBSCL 7,0 6,5 7,2 GDP/người (triệu đồng) 4,2 7,4 20,4

% so với vùng ĐBSCL 95,5 88,0 95,8 Nguồn Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

GDP toàn tỉnh giai đoạn 2005 – 2010 tăng nhanh hơn giai đoạn 2000 – 2005 vượt bậc (17232,1 tỉ đồng so với 4231,1 tỉ đồng) cho thấy kinh tế Sóc Trăng đã có sự phát triển đáng kể so với trước đây. Tuy nhiên, so với vùng ĐBSCL thì GDP tỉnh Sóc Trăng chiếm tỉ trọng thấp hơn các tỉnh khác nhiều chỉ chiếm 7,0% năm 2000 và tăng lên 7,2% năm 2010.

GDP/người tăng nhanh giai đoạn 2005 đến 2010 từ 7,4 triệu đồng lên 20,4 triệu đồng tăng 13 triệu đồng/người. Trước đó, giai đoạn 2000 - 2005 GDP/người tăng chậm hơn chỉ tăng 3 triệu đồng/ người trong vòng 5 năm (chiếm 88% so với vùng ĐBSCL)

Trong cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế , tuy tỉ trọng khu vực nông - lâm - thủy sản của tỉnh có giảm đi nhưng giá trị tuyệt đối vẫn không ngừng tăng lên

Hình 2.3 Cơ cấu GDP phân theo ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2010 (%)

Trong GDP của khu vực 1 thì riêng nông nghiệp chiếm 58,3% các 2005 và 66,4% các 2010. Còn nếu so với GDP toàn nền kinh tế thì tương ứng là 33,6% và 37,4%

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

2.3.1.2 Giá trị sản xuất và cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp (2000 – 2010)

Trong cơ cấu GTSX khu vực nông - lâm - thủy sản thì nông nghiệp luôn chiếm vị trí chủ đạo, mặc dù tỉ trọng có giảm đi nhường chỗ cho thủy sản.

Bảng 2.3 GTSX nông nghiệp và tỉ trọng của nó trong GTSX nông - lâm - thủy sản giai đoạn 2000 – 2010

Chỉ tiêu Năm 2000 2005 2009 2010 GTSX nông - lâm - thủy sản (tỉ đồng)

giá thực tế

GTSX nông nghiệp (tỉ đồng)

% so với nông - lâm - thủy sản

5093,6

3586,8 70,4

10470,0

5897,4 56,3

21824,6

13115,0 60,1

29038,7

18724,2 64,5 Nguồn Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010 GTSX nông – lâm – thủy sản tăng liên tục giai đoạn 2000 – 2010 từ 5093,6 tỉ đồng năm 2000 lên 29038,7 tỉ đồng năm 2010 ( tăng 23945,1 tỉ đồng).

Tuy tỉ trọng đóng góp trong GTSX nông – lâm – thủy sản giảm từ 70,4% năm 2000 xuống 64,5% năm 2010 (giảm 5,9%) nhưng GTSX nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng tăng dần qua các năm từ 3586,8 tỉ đồng năm 2000 lên 18724,2 tỉ đồng năm 2010 (tăng 15137,4 tỉ đồng)

Trong cơ cấu GTSX của ngành nông nghiệp, ngành trồng trọt là thế mạnh của tỉnh

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Hình 2.4 Cơ cấu GTSX nông nghiệp theo ngành giai đoạn 2000 – 2010 (%)

Trong cơ cấu GTSX nông nghiệp theo ngành ta thấy tỉ trọng ngành trồng trọt, dịch vụ nông nghiệp có xu hướng giảm còn tỉ trọng ngành chăn nuôi có xu hướng tăng lên tuy nhiên không đều qua các năm. Cụ thể tỉ trọng ngành trồng trọt giảm không liên tục giai đoạn 2000 - 2010 từ 87,7% năm 2000 xuống 85,9% năm 2002 đến 2005 tăng lên 86,5% sau đó giảm liên tục đến 2009 còn 82%, năm 2010 lại tăng lên 87,1%. Tỉ trọng ngành chăn nuôi cũng tăng không liên tục vào giai đoạn trên từ năm 2000 đến 2002 tăng từ 9% lên 10,7%, 2005 giảm xuống còn 9,9%, 2009 tăng lên 15,1% và 2010 giảm xuống còn 10,6%. Tỉ trọng nông nghiệp có tăng chút ít giai đoạn 2000 – 2005 (từ 3,3% lên 3,6%) nhưng sau đó lại giảm còn 2,3% năm 2010.

2.3.2. Các ngành nông nghiệp 2.3.2.1. Trồng trọt:

Trồng trọt là ngành kinh tế chủ chốt trong ngành nông nghiệp tỉnh, với ưu thế về đất đai , khí hậu và nguồn nước, Sóc Trăng có điều kiện phát triển đa dạng các loại cây trồng. Cơ cấu cây trồng trong tỉnh gồm: cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp, cây ăn quả và một số loại cây trồng khác. Trong đó cây lương thực chiếm tỉ trọng lớn nhất về GTSX và diện tích gieo trồng. Về GTSX, năm 2010

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

cây lương thực chiếm 66,4%, kế đến là cây thực phẩm chiếm 12,9%, cây lâu năm trong đó chủ yếu là cây ăn quả: 13%, cây công nghiệp hàng năm 6,6% và các loại cây khác chiếm 1,1%

Bảng 2.4 GTSX ngành trồng trọt phân theo nhóm cây trồng giai đoạn 2000 – 2010 (giá so sánh 1994, tỉ đồng)

Năm Tổng số (tỉ đồng)

Chia ra (%) Cây lương

thực có

hạt

Cây lấy bột có củ

Rau đậu Cây công nghiệp hàng năm

Cây công nghiệp lâu năm

Cây khác

2000 2005 2009 2010

3138,1 3470,0 3948,0 4330,6

75,1 68,7 66,0 66,4

0,3 0,5 0,6 0,5

5,6 10,6 13,2 12,9

6,3 6,3 6,4 6,6

3,4 12,4 13,3 13,0

0,7 1,5 0,5 0,6

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010 Từ năm 2000 - 2010 trong sản xuất nông nghiệp, ngành trồng trọt phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức như thiên tai và những biến động phức tạp về thời tiết, hạn hán, xâm nhập mặn, sâu bệnh hại gia tăng, giá cả phân bón và các loại vật tư nông nghiệp tăng cao và không ổn định, áp lực cạnh tranh về chất lượng nông sản,... đã gây nhiều khó khăn cho phát triển sản xuất trồng trọt, nhưng được sự quan tâm thường xuyên của Tỉnh Ủy, UBND tỉnh, các Bộ, Ngành trung ương và các địa phương, một số chính sách mới được ban hành, các chương trình, dự án và hợp tác quốc tế tiếp tục được triển khai,... nên trong lĩnh vực trồng trọt nói riêng và sản xuất nông nghiệp nói chung tiếp tục có bước phát triển tương đối toàn diện và ổn định.

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Bảng 2.5 Diện tích các loại cây trồng tỉnh Sóc Trăng (2000 – 2010)

Năm Tổng diện tích (nghìn ha)

Chia ra Cây

lương thực có hạt

Lúa Cây công nghiệp

hàng năm

Cây công nghiệp

lâu năm

Cây thực phẩm

Cây ăn quả

Cây khác

2000 443,8 375,4 370,4 11,6 4,9 16,6 13,8 21,5

2005 407,2 324,4 321,6 12,3 3,1 26,9 22,4 18,1

2009 431,8 338,5 334,6 13,8 3,1 34,5 25,6 16,3

2010 451,5 353,8 350,0 14,8 3,0 37,2 26,2 16,5

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010 - Cây lương thực

Kinh tế Sóc Trăng chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với lương thực là cây trồng chính. Cây lương thực luôn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu diện tích cây trồng và GTSX . Năm 2010, cây lương thực có hạt toàn tỉnh chiếm 66,4% GTSX và 78,4%

diện tích gieo trồng. Về cơ cấu cây lương thực gồm có cây lúa, ngô và các cây chất bột có củ. Năm 2010 cây lúa chiếm 98,9% diện tích và 99,3% sản lượng lương thực.

Trong vòng 10 năm diện tích và sản lượng cây lương thực có sự thay đổi. Năm 2010 diện tích gieo trồng lương thực đã giảm 21,6 nghìn ha so với năm 2000 chủ yếu là giảm diện tích kém hiệu quả ở vùng mặn, vùng trũng phèn. Nguyên nhân chủ yếu do chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ cây lương thực kém hiệu quả sang trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, trồng tràm hoặc nuôi trồng thủy sản phù hợp với kế hoạch chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tỉnh đề ra. Sản lượng lương thực trong giai đoạn này lại tăng 356,3 nghìn tấn. Đạt được kết quả này là do nổ lực của ngành nông nghiệp trong công tác khuyến nông, tiến hành thâm canh tăng vụ, nâng cao chất lượng giống cây trồng vật nuôi,…

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Bảng 2.6 Diện tích, sản lượng và sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người giai đoạn 2000 - 2010

Năm

Chỉ tiêu 2000 2005 2009 2010

Tổng diện tích cây lương thực có

hạt (nghìn ha) 375,4 324,4 338,5 353,8

Trong đó: lúa 370,4 321,6 334,6 350,0

Ngô 2,7 2,8 3,9 3,7

Tổng sản lượng lương thực có hạt

(nghìn tấn) 1624,6 1643,7 1795,3 1980,9

Trong đó: lúa 1618,0 1634,2 1780,4 1966,6

Ngô 6,6 9,5 14,9 14,3

Sản lượng lương thực có hạt bình

quân đầu người (kg/người) 1361,0 1306,0 1388 1503

Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2010 Các huyện dẫn đầu về diện tích và sản lượng lương thực có hạt năm 2010 là Trần Đề (51,2 nghìn ha và 284,0 nghìn tấn), Mỹ Tú (50,3 nghìn ha và 278,9 nghìn tấn), Thạnh Trị (47,3 nghìn ha 279,6 nghìn tấn) Long Phú (45,1 nghìn ha và 267,5 nghìn tấn) và Châu Thành (43,6 nghìn ha và 243,3 nghìn tấn),…

Nhìn chung sản lượng lương thực có hạt bình quân theo đầu người toàn tỉnh rất cao và tăng lên qua các năm, từ 1361 kg/người năm 2000 lên 1523 kg/người năm 2010. Với mức này gấp 2,9 lần mức trung bình cả nước và gấp 1,2 lần toàn vùng ĐBSCL, đứng 5/63 tỉnh cả nước. Một số huyện có sản lượng bình quân lương thực đầu người cao là: Thạnh Trị (3248 kg/người), Ngã Năm (2631 kg/người), Mỹ Tú (2606 kg/người) và Châu Thành (2400 kg/người)

Phát triển nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa

Cây lúa

Sóc Trăng là một trong các tỉnh trọng điểm về sản xuất lương thực của cả nước và ĐBSCL. Trong cơ cấu cây lương thực thì cây lúa chiếm ưu thế tuyệt đối (chiếm 98,9% diện tích cây lương thực và 99,3% sản lượng lương thực) (2010)

Tuy nhiên, nhu cầu đất trồng lúa trong những năm qua và trong thời gian tới có xu hướng giảm do nhiều nguyên nhân tác động, diện tích gieo trồng lúa đã giảm từ 370,4 nghìn ha (năm 2000) xuống 321,6 nghìn ha (năm 2005), giảm 48,8 nghìn ha, chủ yếu là giảm diện tích trồng lúa kém hiệu quả ở vùng mặn, vùng trũng phèn chuyển sang nuôi thủy sản và trồng cây khác có giá trị. Sau đó diện tích gieo trồng lúa có tăng lên và đến năm 2010 đạt 350,0 nghìn ha.

Năng suất lúa tăng ổn định và nhanh, năm 2000 năng suất bình quân là 43,7 tạ/ha, đến năm 2005 là 50,8 ta/ha, và đạt 55,4 tạ/ha năm 2010, đứng thứ 4 vùng ĐBSCL và 18/63 tỉnh, thành phố cả nước.

Sản lượng lúa luôn giữ ổn định ở mức 1,6 triệu tấn. Đến năm 2010 mặc dù diện tích gieo trồng đã giảm nhưng do năng suất tăng, nên sản lượng đạt trên 1,9 triệu tấn, đứng thứ 5 vùng ĐBSCL và 5/63 tỉnh, thành phố cả nước.

Đặc biệt từ năm 2002 nông nghiệp Sóc Trăng rất quan tâm mở rộng diện tích lúa đặc sản để nâng cao giá trị lúa, gạo, năm 2001 toàn tỉnh có 100 ha lúa đặc sản, thì năm 2005 toàn tỉnh đã sản xuất được 23,3 nghìn ha, và đến nay được gần 45 nghìn ha, tăng 44470 ha. Đây là bước phát triển về chất trong cơ cấu sản xuất lúa trong những năm qua.

Những năm gần đây diện tích gieo trồng lúa vụ Đông xuân và vụ Mùa tăng do nông dân ở vùng nuôi tôm không bỏ trống diện tích gieo trồng lúa trên nền đất tôm lúa như trước đây mà lấp lại bằng một vụ lúa nhằm luân canh đất, cải tạo môi trường cho nuôi tôm vụ sau có hiệu quả.

Một phần của tài liệu phát triển nông nghiệp tỉnh sóc trăng trong thời kì công nghiệp hóa (Trang 62 - 105)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(132 trang)