CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1.3 Tác động của rác thải sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
14
Rác khi thải vào môi trường gây ô nhiễm, đất, nước, không khí. Ngoài ra, rác thải còn làm mất vệ sinh công cộng, làm mất mỹ quan môi trường. Rác thải là nơi trú ngụ và phát triển lý tưởng của các loài gây bệnh hại cho người và gia súc.
Rác thải ảnh hưởng tới môi trường nhiều hay ít còn phụ thuộc vào nền kinh tế của từng quốc gia, khả năng thu gom và xử lý rác thải, mức độ hiểu biết và trình độ giác ngộ của mỗi người dân. Khi xã hội phát triển cao, rác thải không những được hiểu là có ảnh hưởng xấu tới môi trường mà còn được hiểu là một nguồn nguyên liệu mới có ích nếu chúng ta biết cách phân loại, sử dụng theo từng loại.
2.1.3.1 Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường đất
Trong thành phần rác thải có chứa nhiều các chất độc, do đó khi rác thải được đưa vào môi trường thì các chất độc xâm nhập vào đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất như: giun, vi sinh vật, nhiều loài động vật không xương sống, ếch nhái,… làm cho môi trường đất bị giảm tính đa dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng. Đặc biệt hiện nay sử dụng tràn lan các loại túi nilon trong sinh hoạt và đời sống, khi xâm nhập vào đất cần tới 50 - 60 năm mới phân huỷ hết và do đó chúng tạo thành các "bức tường ngăn cách" trong đất hạn chế mạnh đến quá trình phân huỷ, tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm cho đất giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút. Có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm.
Dựa theo nguồn gốc phát sinh có:
• Ô nhiễm đất do các chất thải sinh hoạt.
• Ô nhiễm đất do chất thải công nghiệp.
• Ô nhiễm đất do hoạt động nông nghiệp.
Dựa theo các tác nhân gây ô nhiễm có:
• Ô nhiễm đất do tác nhân hoá học: Bao gồm phân bón N, P (dư lượng phân bón trong đất), thuốc trừ sâu (clo hữu cơ, DDT, lindan, aldrin, photpho hữu cơ v.v.), chất thải công nghiệp và sinh hoạt (kim loại nặng, độ kiềm, độ axit v.v...).
• Ô nhiễm đất do tác nhân sinh học: Trực khuẩn lỵ, thương hàn, các loại ký sinh trùng (giun, sán v.v...).
• Ô nhiễm đất do tác nhân vật lý: Nhiệt độ (ảnh hưởng đến tốc độ phân huỷ chất thải của sinh vật), chất phóng xạ (Uran, Thori, Sr90, I131, Cs137).
15
Chất ô nhiễm đến với đất qua nhiều đầu vào, nhưng đầu ra thì rất ít. Đầu vào có nhiều vì chất ô nhiễm có thể từ trên trời rơi xuống, từ nước chảy vào, do con người trực tiếp "tặng" cho đất, mà cũng có thể không mời mà đến. Đầu ra rất ít vì nhiều chất ô nhiễm sau khi thấm vào đất sẽ lưu lại trong đó. Hiện tượng này khác xa với hiện tượng ô nhiễm nước sông, ở đây chỉ cần chất ô nhiễm ngừng xâm nhập thì khả năng tự vận động của không khí và nước sẽ nhanh chóng tống khứ chất ô nhiễm ra khỏi chúng. Đất không có khả năng này, nếu thành phần chất ô nhiễm quá nhiều, con người muốn khử ô nhiễm cho đất sẽ gặp rất nhiều khó khăn và tốn nhiều công sức.
2.1.3.2 Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường nước
Rác sinh hoạt không được thu gom, thải vào kênh, rạch, sông, hồ,…gây ô nhiễm môi trường nước bởi chính bản thân chúng. Rác nặng lắng làm nghẽn đường lưu thông, rác nhẹ làm đục nước, nylon làm giảm diện tích tiếp xúc với không khí, giảm DO trong nước, làm mất mỹ quan, gây tác động cảm quan xấu đối với người sử dụng nguồn nước. Chất hữu cơ phân hủy gây mùi hôi thối, gây phú dưỡng hóa nguồn nước.
Nước rò rỉ trong bãi rác đi vào nguồn nước ngầm, gây ô nhiễm nguồn nước ngầm, như ô nhiễm kim loại nặng, nồng độ nitrogen, phosphor cao, chảy vào sông hồ gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
2.1.3.3 Ảnh hưởng của rác thải đến môi trường không khí
Nguồn rác thải từ các hộ gia đình thường là các loại thực phẩm chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ khối lượng rác thải ra. Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều ở nước ta là điều kiện thuận lợi cho các thành phần hữu cơ phân huỷ, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa và tạo nên mùi khó chịu cho con người. Các chất thải khí phát ra từ các quá trình này thường là H2S, NH3, CH4, SO2, CO2.
2.1.3.4 Ảnh hưởng của rác thải đến sức khoẻ con người
Trong thành phần rác thải sinh hoạt, thông thường hàm lượng hữu chiếm tỉ lệ lớn. Loại rác này rất dễ bị phân huỷ, lên men, bốc mùi hôi thối. Rác thải không được thu gom, tồn đọng trong không khí lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ con người sống xung quanh. Chẳng hạn, những người tiếp xúc thường xuyên với rác như những người làm công việc thu nhặt các phế liệu từ bãi rác dễ mắc các bệnh như viêm phổi, sốt rét, các bệnh về mắt, tai, mũi họng, ngoài da, phụ khoa. Hàng năm, theo tổ chức Y tế thế giới, trên thế giới có 5 triệu người chết và có gần 40 triệu trẻ em mắc các bệnh có liên quan tới rác thải.
Nhiều tài liệu trong nước và quốc tế cho thấy, những xác động vật bị thối rữa
16
trong hơi thối có chất amin và các chất dẫn xuất sufua hyđro hình thành từ sự phân huỷ rác thải kích thích sự hô hấp của con người, kích thích nhịp tim đập nhanh gây ảnh hưởng xấu đối với những người mắc bệnh tim mạch.
Các bãi rác công cộng là những nguồn mang dịch bệnh. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: trong các bãi rác, vi khuẩn thương hàn có thể tồn tại trong 15 ngày, vi khuẩn lỵ là 40 ngày, trứng giun đũa là 300 ngày. Các loại vi trùng gây bệnh thực sự phát huy tác dụng khi có các vật chủ trung gian gây bệnh tồn tại trong các bãi rác như những ổ chứa chuột, ruồi, muỗi,...
và nhiều loại ký sinh trùng gây bệnh cho người và gia súc, một số bệnh điển hình do các trung gian truyền bệnh như: Chuột truyền bệnh dịch hạch, bệnh sốt vàng da do xoắn trùng, ruồi; gián truyền bệnh đường tiêu hoá; muỗi truyền bệnh sốt rét, sốt xuất huyết,….
2.1.3.5 Ảnh hưởng theo thói quen
Nhiều người thường đổ rác tại bờ sông, hồ, ao, cống rãnh. Lượng rác này sau khi bị phân huỷ sẽ tác động trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực. Rác có thể bị cuốn trôi theo nước mưa xuống ao, hồ, sông, ngòi, kênh rạch, sẽ làm nguồn nước mặt ở đây bị nhiễm bẩn.
Mặt khác, lâu dần những đống rác này sẽ làm giảm diện tích ao hồ, giảm khả năng tự làm sạch của nước gây cản trở các dòng chảy, tắc cống rãnh thoát nước. Hậu quả của hiện tượng này là hệ sinh thái nước trong các ao hồ bị huỷ diệt. Việc ô nhiễm các nguồn nước mặt này cũng là một trong những nguyên nhân gây các bệnh tiêu chảy, tả, lỵ trực khuẩn thương hàn, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ cộng đồng.
2.1.4 Thuận lợi, khó khăn của phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn ở Việt Nam và trên thế giới
- Các chương trình phân loại rác ở các nước trên thế giới như Nhật Bản, Pháp, Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc, California đều thực hiện có hiệu quả.
Nguyên nhân chủ yếu do rác được phân loại thành nhiều loại cụ thể, có chính sách cưỡng chế, xử phạt cụ thể hành vi không phân loại rác, những người thu mua phế liệu bởi rác trong thùng đã phân loại để lấy đi loại rác có thể bán được, vứt vương vãi các loại rác khác ra đường (Thái Lan). Ngoài ra các công nghệ xử lý rác hiện đại, việc quản lý chất thải được thực hiện rất chặt chẽ, công tác phân loại và thu gom rác đã trở thành nề nếp và người dân chấp hành rất nghiêm quy định này do được giáo dục ngay từ bậc mẫu giáo đến khi trưởng thành (ở Nhật Bản) mặc dù làm tăng chi phí thu gom chất thải, chính quyền địa phường phải thường xuyên, bám sát địa bàn trong thời gian dài để hướng dẫn người dân phân tách rác thải trong gia đình.
17
- Các chương trình phân loại rác tại nguồn ở Việt Nam được thực hiện chủ yếu ở các thành phố lớn như Hồ Chí Minh, Huế, Hội An, Hà Nội. Tuy có nhiều chính sách ưu đãi như tập huấn, cung cấp tài liệu cho các hộ gia đình kiến thức phân loại rác thải tại nguồn, ngoài ra còn hỗ trợ các thùng rác miễn phí để người dân dễ dàng thực hiện việc phân loại nhưng kết quả đem lại không cao do thiếu hình thức vận động, tuyên truyền cho người dân chỉ thực hiện một vài khu vực trong thành phố lớn, ý thức giữ gìn vệ sinh chung của bộ phận cộng đồng dân cư còn kém, thiếu phương tiện thu gom dẫn đến rác của người dân phân loại ra đã bị lực lượng thu gom rác trộn lẫn lại, chưa công nghệ hiện đại xử lý chất thải, không có một chính sách bắt buộc, qui định phân loại rác cụ thể nào. Duy nhất chương trình phân loại rác tại nguồn ở thành phố Hội An có quy chế bắt buộc một số đối tượng phát thải phải phân loại rác ngay tại nguồn, đồng thời đề ra cơ chế, chính sách khuyến khích các cơ sở, cá nhân sử dụng bao bì đóng gói sản phẩm bằng nguyên liệu có thể tái chế, tái sử dụng làm cho bộ mặt của thành phố được cải thiện rõ rệt.
- Gần đây thị xã Long An đã triển khai chương trình thí điểm phân loại rác tại nguồn với sự giúp đỡ của Liên minh Châu Âu. Dự án đã cung cấp túi nilon và thùng đựng rác 2 màu để hỗ trợ người dân tiến hành phân loại rác dễ phân huỷ và rác có thể tái chế ngay tại các hộ gia đình, cơ quan, xí nghiệp, trường học, cơ sở dịch vụ. Việc phân loại rác tại nguồn ở thành phố Hà Nội đem lại nhiều lợi ích:
(i) Tổng giá trị thu được từ phế liệu có thể tới 800 triệu đồng/ ngày;
(ii) Tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên nước;
(iii) Tiết kiệm năng lượng
(iv) Giảm thiểu ô nhiễm môi trường nhờ giảm thiểu lượng khí mêtan (CH4 ) và CO2 phát sinh từ các bãi chôn lấp, vốn là những khí gây hiệu ứng nhà kính;
(v) Giảm tối đa khối lượng nước rác rò rỉ, đồng thời nước rò rỉ được xử lý dễ dàng hơn và
(vi) Giảm gánh nặng ngân sách chi cho công tác vệ sinh đường phố, vận chuyển và xử lý Điều quan trọng hơn, việc" phân loại rác tại nguồn" thì những công nhân vệ sinh môi trường không còn là những người làm công việc thu dọn vệ sinh thầm lặng mà chính họ là những người hướng dẫn gần gũi nhất với người dân về cách thức phân loại rác tại nguồn. Lợi ích của phân loại rác tại nguồn, Công nghệ ủ, chế biến rác thải hữu cơ - Composting (gọi tắt là công nghệ Composting).
18
Bảng 2.4: Thuận lợi, khó khăn của phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn ở Việt Nam và trên thế giới
Địa điểm Thuận lợi Khó khăn
Tp. Hội An Có quy chế bắt buộc một số đối tượng phát thải phải phân loại rác ngay tại nguồn
Cần thời gian lâu dài để có thể thay đổi thói quen của người dân.
Tp.Hà Nội Phát miễn thùng chứa rác thải và dung dịch vi sinh
Chi phí đầu tư lớn Tp. Huế Thu gom cụ thể từng loại
rác
Thói quen vứt rác bừa bãi của người dân
Nhật Bản Có chính sách cưỡng chế, xử phạt cụ thể
Chính quyền địa phương phải thường xuyên, bám sát địa bàn trong thời gian dài Singapore Xây dựng hệ thống luật
pháp nghiêm khắc
Hàn Quốc Công nghệ xử lý rác hiện đại, qui định cưỡng chế Đông Nam Á,
Singapore
Người dân có nhận thức cao
Công nghệ xử lý còn lạc hậu
Thái lan Xử lý nghiêm khắc với hành vi những người thu mua phế liệu
Pháp Có các quyết định cấm các cách xử lý hỗ hợp mà phải xử lý theo phương pháp duy nhất.
Cần có sự thương lượng để có sự nhất trí cao của các tổ chức, nghiệp đoàn.
California Cung cấp miễn phí nhiều thùng rác khác nhau cho các hộ gia đình. Phí thu gom được tính dựa trên khối lượng rác.
Nguồn: Nguyễn Cường ( 2013), Ny Na (2013), Minh Huy và cộng sự (2013), Thanh Vân (2013), Phương Giang (2012), Tường Vi (2013), Hà Nhi (2009), Ngô Xuân Trường
(2009)
Qua việc phân loại rác tại nguồn vài nơi trên thế giới, Sơn Lam (2013) đã đưa ra 7 kinh nghiệm của thế giới về phân loại rác từ nguồn:
19
1. Phải có mục tiêu cụ thể cho chương trình. Mục tiêu phân loại chất thải của mỗi quốc gia phụ thuộc vào đặc điểm thành phần chất thải và định hướng công tác xử lý chất thải. Mục tiêu của các nước có thể khác nhau, nhưng đều có chung 3 mục tiêu lớn: (1) Phân loại thành nhiều loại càng tốt để tái sử dụng chất thải, giảm thiểu khai thác tài nguyên thiên nhiên. (2) Tăng cường hiệu quả của hệ thống tái chế và xử lý chất thải. (3) Nâng cao nhận thức người dân về bảo vệ môi trường và tạo động lực thúc đẩy ngành sản xuất các sản phẩm đồ dùng thân thiện với môi trường. Khi xác định mục tiêu cụ thể thì xây dựng kế hoạch, tài chính, thời gian thực hiện cho từng mục tiêu và kiên định thực hiện đến khi đạt được hiệu quả.
2. Phải đồng bộ hạ tầng kỹ thuật từ hệ thống thu gom, vận chuyển, trung chuyển và xử lý chất thải. Đối với hệ thống xử lý chất thải phải đảm bảo có đủ nhà máy tái chế theo từng loại chất thải được phân loại. Nhà nước ưu tiên đầu tư xây dựng các nhà máy xử lý chất thải không có giá trị, các phế liệu do tư nhân tái chế.
3. Hệ thống văn bản pháp lý đầy đủ trước khi thực hiện. Đây là nội dung quan trọng nhất, vì có cơ sở pháp lý đầy đủ mới có thể triển khai chương trình, từ tuyên truyền đến xử lý các hành vi vi phạm trong phân loại; kêu gọi các đơn vị tư nhân tham gia đầu tư xây dựng trạm trung chuyển cũng như tái chế phế liệu thu gom được từ chương trình; kêu gọi các tổ chức xã hội tham gia tuyên truyền trong cộng đồng địa phương về phân loại chất thải rắn tại nguồn.
4. Công tác tuyên truyền luôn được đặt lên hàng đầu và thực hiện liên tục bằng nhiều hình thức và nội dung khác nhau. Trong quá trình thực hiện phân loại rác vẫn tuyên truyền và duy trì liên tục.
5. Phân loại chất thải rắn tại nguồn được xây dựng kế hoạch trong 5 năm và ước tính chi phí thực hiện cho cả giai đoạn trên. Nhà nước chuẩn bị nguồn kinh phí thực hiện và giải ngân hàng năm tùy thuộc vào khối lượng và hiệu quả công việc đạt được.
6. Sự thống nhất về mục tiêu thực hiện của hệ thống chính trị từ thành phố đến địa phương và duy trì ổn định qua các thế hệ lãnh đạo. Mục tiêu thực hiện phân loại chất thải rắn tại nguồn được thành phố quy định và có biện pháp triển khai cụ thể cho từng địa phương.
7. Nhân sự thực hiện chương trình phân loại chất thải rắn tại nguồn từ trung ương đến địa phương phải được đào tạo chuyên sâu trong và ngoài nước phục vụ cho quá trình nghiên cứu, theo dõi và phối hợp với nhau cùng triển khai chương trình này đến từng đối tượng.
20
2.1.5 Đề xuất mô hình phân loại rác thải sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn nghiên cứu
- Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển kinh tế, đô thị hóa nhanh. Đô thị Huế là một trong những ví dụ, với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, lượng chất thải phát sinh ngày một tăng nhanh chóng. Theo số liệu từ Công ty TNHHNN Môi trường và công trình đô thị Thừa Thiên Huế, khối lượng rác thải ở thành phố Huế tăng khá nhanh trong những năm gần đây (năm 2004:
khối lượng rác thải là 59300 tấn, đến năm 2005 tăng lên 64000 tấn). Theo kết quả điều tra, mỗi năm các công ty môi trường tốn một khoảng chi phí rất lớn để tiêu hủy chất thải (ở thành phố Huế là 160.000 đồng cho một tấn chất thải).
Với khối lượng rác ngày một tăng như hiện nay sẽ là áp lực cho các quá trình thu gom, vận chuyển cho đến khâu xử lý và trong thành phần rác thải, tỷ lệ các chất thải có thể sử dụng cho mục đích tái chế, làm phân,.. tương đối lớn. Chính vì những yêu cầu bức xúc như trên và dựa trên các kết quả nghiên cứu đạt được, tác giả đã đề xuất ra mô hình phân loại rác thải tại nguồn ở 2 chợ và thị trấn Phú Bài-huyện Hương Thủy-tỉnh Thừa Thiên Huế như sau:
Nguồn: Lê Hoàng Hải, 2007
Hình 2.1: Mô hình phân loại rác thải tại nguồn ở 2 chợ và thị trấn Phú Bài, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
Nguồn phát sinh chất thải
Chất thải hữu cơ (Rau, quả, củ,…)
Chất thải vô cơ (Kim loại, thủy tinh,…)
Xe vận chuyển chất thải hữu cơ
Thùng thu gom phân loại Chất thải hữu cơ Chất thải vô cơ
Sản xuất phân hữu cơ
Xe vận chuyển chất thải vô cơ
Chôn lấp hợp vệ sinh