Các nước Đông Âu tù’ năm 1945 đến năm 1991

Một phần của tài liệu Sgv Lsdl 9 Kntt.docx (Trang 114 - 117)

BÀ110. LIÊN xô VÀ ĐÔNG Âu TỪ NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1991

Mục 2. Các nước Đông Âu tù’ năm 1945 đến năm 1991

a) Nội dung chính

- Chính trị

- Từ năm 1944 đến năm 1946, nhân dân các nước Đông Âu dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản và sự giúp đỡ của Hồng quân Liên Xô đã thành lập các nhà nước dân chủ nhân dân. Riêng ở Đông Đức, Nhà nước Cộng hoà Dân chủ Đức thành lập năm 1949. Sau đó, các nước Đông Âu đểu tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội.

- Đẩu nhĩíng năm 80 của thế kỉ XX, bộ máy nhà nước của các nước Đông Âu bộc lộ rõ

sự yếu kém, tạo cơ hội cho các lực lượng đối lập câu kết với nhau, kích động nhân dân đòi thực hiện đa nguyên, đa đảng và tổng tuyển cử tự do.

- Từ năm 1989, trước sức ép trong nước, ban lãnh đạo các nước Đông Âu phải thực hiện

đa nguyên chính trị và tổ chức tổng tuyển cử tự do. Các thế lực chống chủ nghĩa xã hội đã thắng cử, giành được quyền lãnh đạo đất nước và tuyên bố xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa.

- Kinh tể

- Sau khi thành lập nhà nước dân chủ nhân dân, các nước Đông Âu đã thực hiện cải cách ruộng đất, quốc hữu hoá các xí nghiệp lớn của tư bản và tiến hành công nghiệp hoá nhằm xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội. Các nước hợp tác kinh tê' trong Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV).

- Đầu những năm 70 của thế kỉ XX, các nước Đông Âu đã trở thành những nước công nghiệp hoặc công - nông nghiệp (trước đó đểu là những nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu).

- Từ giữa những năm 70, nền kinh tế các nước Đông Âu suy giảm dần. Hầu hết các nước đều tiến hành cải cách nhùng không cải thiện được tình hình. Từ năm 1988, tất cả các nước Đông Âu đều lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tể, thu nhập quốc dân giảm sút nghiêm trọng, nợ nước ngoài gia tăng. Đến năm 1991, SEV bị giải thể.

- Xổ hội và văn hoá

- Xã hội:

+ Sau khi Nhà nước dân chủ nhân dân được thành lập, giai cấp bóc lột bị xoá bỏ, công nhân, nông dân và trí thức trở thành những người làm chủ đất nước. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao.

+ Từ cuối những năm 70 đến năm 1990, khủng hoảng kinh tế làm cho đời sống của các tầng lớp nhân dân ở Đông Âu khó khăn. Niềm tin vào chủ nghĩa xã hội giảm sút và tình trạng bất bình gia tăng. Các cuộc bãi công, biểu tình của công nhân xuất hiện ở nhiều nước Đông Âu.

- Văn hoá:

+ Văn hoá của các nước Đóng Âu có buớc pnát triển vuợt bậc. Nạn mù chữ được xoá bỏ với chính sách giáo dục bắt buộc và miễn phí.

+ Từ nửa sau những năm 80 đến năm 1991, ở các nước Đông Âu xuất hiện nhiều ấn phẩm văn hoá có nội dung chống chủ nghĩa xã hội, tuyên truyền chế độ đa nguyên.

b) Tư liệu, kênh hình cẩn khai thác

- Tư liệu 2 cung cấp dẫn chứng là biểu biện về sự khủng hoảng kinh tế các nước Đông

Âu: tăng trưởng thu nhập quốc dân suy giảm từ 3,3% (1981 - 1985) xuống còn 2,6% (1988) và 0,5% (1989); nợ nước ngoài lên đến 128,6 tỉ USD (1987).

- Hình ỉ 0.6. Lược đổ các nước dân chủ nhân dân Đông Âu-, giúp HS xác định được tên,

vị trí địa lí và mốc thời gian thành lập các nhà nước dân chủ nhân dân ở Đông Âu.

- Hình 10.7. Cuộc bãi công của công nhân Ba Lan (8 - 1980): là một bức ảnh chụp cuộc

đình công của công nhân Ba Lan do giá lương thực và các hàng hoá khác tăng cao. Ban lãnh đạo phong trào đã đưa ra nhiều yêu cầu gửi Chính phủ, bao gồm quyền tổ chức các công đoàn độc lập, đảm bảo quyển tự do ngôn luận, trả tự do cho tù nhân chính trị và quyền bãi công. Cuối cùng, Chính phủ đã nhượng bộ, kí thoả thuận cho phép công nhân thành lập công đoàn độc lập và được phép bãi công. Điều này dẫn đến sự ra đời và hoạt động hợp pháp của tổ chức công đoàn có đường lối chống chủ nghĩa xã hội ở Ba Lan. Đây chính là tổ chức lôi kéo công nhân và các tầng lớp nhân dân tham gia các cuộc mít tinh, biểu tình chống phá, gây sức ép buộc Chính phủ Ba Lan phải tổ chức tuyển cử tự do.

c) Gợi ý các hình thức tổ chức dạy học

1

1

4

- Với mục này, GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm, mỗi nhóm khai thác thông tin, tư liệu trong SGK để tìm hiểu một lĩnh vực: Nêu những nét chính về tình hỉnh chính trị, kinh tế,

xã hội và văn hoá của các nước ĐôngẲu từ năm 1945 đến năm 1991.

+ GV cũng có thể phát Phiếu học tập cho nhóm HS hoàn thiện nội dung một lĩnh vực được phân công, sau đó cử đại diện trình bày trước lớp nội dung thảo luận của nhóm mình. GV nhận xét, chốt lại ý như phần a. Nội dung chính và bổ sung thông tin cho HS như nội dung phần b. Tư liệu, kênh hình cần khai thác ở trên.

Yêu cãu cần đạt-. HS trình bày được nét nổi bật về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá

của các nước Đông Âu từ năm 1945 đến năm 1991.

- GV tổ chức cho HS làm việc cá nhân, khai thác thông tin trong SGK để thực hiện yêu cầu: Nêu những biêu hiện và giải thích vì sao chủ nghĩa xã hội ở Đông Ầu sụp đổ.

+ Về những biểu hiện, GV hướng dẫn HS nêu được sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, trong đó quan trọng nhất là chính trị (Đảng Cộng sản thất bại trong các cuộc bầu cử tự do và quyền lãnh đạo đất nước thuộc vê' các tổ chức, đảng phái chống chủ nghĩa xã hội. Sau khi lên cầm quyền họ tuyên bố xoá bỏ chủ nghĩa xã hội).

Vê' nguyên nhân chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu sụp đổ, GV định hướng I-IS nêu được những lí do sau: Đến đầu những năm 80, các nước Đông Âu lâm vào CUỘC khủng hoảng toàn diện về chính trị, kinh tế, xã hội. Trong khi tiến hành cải cách để khắc phục khủng hoảng thiếu hiệu quả, lãnh đạo các nước đã mắc phải sai lầm nghiêm trọng, đó là thoả hiệp, chấp nhận thực hiện đa nguyên, đa đảng và tổ chức tổng tuyển cử tự do, tạo cơ hội cho thế lực chống chủ nghĩa xã hội cơ hội tấn công trực diện, làm sụp đổ chủ nghĩa xã hội. Ngoài ra, chính sách không “can thiệp” của Liên Xô trước cuộc khủng hoảng và sự thoả hiệp của ban lãnh đạo các nước Đông Âu cũng góp phần dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở các nước này. + GV nhận xét và chốt lại nội dung. GV có thể phân tích thêm các thủ đoạn thâm độc của các thế lực chống đối nhằm lôi kéo các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên.

Yêu cầu cần đạt: HS nêu được những biểu hiện và giải thích được vì sao chủ nghĩa xã hội

ở Đông Âu sụp đổ.

3. Luyện tập

Nhiệm vụ này giúp HS có kĩ năng tóm tắt, hệ thống hoá các vấn đê' và sự kiện lịch sử; góp phần phát triển năng lực nhận thức và tư duy lịch sử. GV có thể giao cho cá nhân hoặc nhóm HS thực hiện trên lớp hoặc ở nhà.

HS có thể báo cáo kết quả học tập bằng bảng tóm tắt tinh hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá của Liên Xô và các nước Đông Âu (1945 - 1991) theo gợi ý trong SGK.

4. Vận dụng

Nhiệm vụ này giúp HS phát triển năng lực tìm hiểu lịch sử, vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết một vấn đề lịch sử. HS có thể báo cáo kết quả học tập bằng việc trình bày được một

số thành tựu tiêu biểu về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá của Liên Xô hoặc một nước Đông

Âu từ sau năm 1945 dựa trên cơ sở tư liệu sưu tầm được.

|Q TÀI LIỆU THAM KHẢO

- Vê' hệ thống xã hội chủ nghĩa

Nhà nước xã hội chủ nghĩa từ một nước mở rộng ra nhiều nước, nhất là Trung Quốc, một nước lớn ở phương Đông có số dân nhiều nhất thế giới gia nhập hàng ngũ xã hội chủ nghĩa thế giới đã tăng cường thực lực của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Những năm 80 của thế

kỉ XX, khi các nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh nhất, diện tích lãnh thổ của nó chiếm 1/4 diện tích lục địa thế giới, dân số chiếm khoảng 1/3 tổng số dân thế giới, giá trị sản xuất công nghiệp chiếm khoảng 2/5 của thế giới. 15 nước xã hội chủ nghĩa mới thành lập, từ tên nước có thể thấy đều không dùng theo tên gọi “Xô viết” nữa, mà đổi lại là nước cộng hoà nhân dân hoặc nước cộng hoà dân chủ, điều đó chắc chắn là biểu hiện của phong trào xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa thế giới chín muồi hơn so với thời kì đầu của Cách mạng tháng Mười Nga.

(Theo Tiêu Phong, Hai chủ nghĩa một trăm năm, NXB chính trị quốc gia, 2004, tr. 75)

Một phần của tài liệu Sgv Lsdl 9 Kntt.docx (Trang 114 - 117)

Tải bản đầy đủ (DOCX)

(322 trang)
w