TÌNH HÌNH KINH DOANH CỦA CƠNG TY – CN ĐỒNG THÁP

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thức ăn cargill cho heo của các hộ nuôi tại tỉnh đồng tháp (Trang 54)

Sản lƣợng (tấn) 3.876 4.344 4.944 6.720 7.344 Doanh thu (tỷ đồng) 46,5 50,1 52 ,4 68,5 73,4 Lợi nhuận (tỷ đồng) 4,7 5,5 6,2 6,7 7,8 (Nguồn: Phịng Kế tốn)

Hiện tại tại Tỉnh Đồng Tháp Cơng Ty có tất cả 30 nhà phân phối (tính tới tháng 12.2015), cung cấp cho 500 ngƣời chăn nuôi nằm rải rác trong tỉnh Đồng Tháp. Hiện tại nhà phân phối bán qua các hệ thống trung gian nhƣ cấp 2,3,…khoảng 15% và còn lại 85% bán trực tiếp tới ngƣời chăn nuôị

Với số lƣợng khách hàng nhƣ vậy, trong 5 năm (2011 – 2015) tình hình kinh doanh của công ty tại tỉnh Đồng Tháp luôn tăng và đạt doanh thu rất caọ Nguyên nhân là do cả Tỉnh Đồng Tháp có tổng đàn heo là: 231.932 heo trong đó heo thịt 208.976 con, cịn lại heo nái và heo con …v.v (Theo thống kê của Cục Thống kê tháng

10.2015)

Theo Nguyễn Văn Vàng (2015 ) thì nếu ngƣời chăn ni heo có ƣu thế lai cao nhất thì tăng trọng tốt nhất là tiêu tốn 2,4 - 2,5 kh thức ăn/kg tăng trọng, 1 heo thịt từ tập ăn lúc 5kg đến xuất chuồng 100 kg mất thời gian ni khoảng 160 ngày thì tốn khoảng 2,4*(100kg-5kg)=228 kg tới 2.5*(100kg-5kg )=235,5 kg thức ăn hổn hợp viên ,nếu qui đổi ra 1 tháng thì 1 heo ăn khoảng 228kg *30 ngày / 160 ngày = 42,75kg tới

235,5kg*30 ngày /160 ngày =44,1kg.

Vậy nếu giả định tổng đàn heo của tỉnh Đồng Tháp nuôi giống tốt, điều kiện mơi trƣờng hồn hảo và ăn hồn tồn thức ăn cơng nghiệp thì số lƣợng thức ăn cần có trong 1 tháng là 231.932con *42,75 kg =9.915.093 kg thức ăn, tuy nhiên hiện nay sản lƣợng cám Cargill bán 612 tấn (tháng 12.2015) chiếm 612*100/ 99150= 6,12% thị phần sản lƣợng của tỉnh Đồng Tháp hiện nay, thị phần cịn lại là của các cơng ty khác nhƣ CP, MASAN, GREENFEED, CJ,….. .Thị phần này rất nhỏ so với tổng thị trƣờng hiện nay, chính vì vậy cần phải phân tích mổ sẻ thực trạng và từ đó có những giải pháp thích hợp cho việc phát triển thị phần trong tƣơng laị

3.7 THỰC TRẠNG CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM

(Nguồn: Ngọc Hữu – P. HCTH Hội Nông nghiệp và PTNT Việt Nam) Thực trạng của ngành chăn nuôi Việt Nam nằm ở 8 nhóm vấn đề sau:

- Một là hiện nay tại Việt Nam quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm tỷ lệ cao, sản

xuất cịn manh mún, tự phát. Hộ chăn ni nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỷ lệ cao, sản xuất còn manh mún, tự phát. Tổ chức Thú y Thế giới (OIE) sử dụng đơn vị gia súc LU

(1LU tƣơng đƣơng 500kg lợn hơi/năm) để xác định quy mô hộ chăn nuôị

Nếu quy mô <20LU đƣợc xếp là hộ chăn ni quy mơ nhỏ, theo tiêu chí này thì ở Việt Nam hộ quy mô nhỏ lẻ là hộ ni thấp hơn: 55 bị thịt/hộ, hay 110 lợn thịt/hộ, hoặc 4.000 gà mái đẻ hoặc 5.000 gà thịt/hộ/năm. Tiêu chí này cao hơn trên chục lần so với quy định về hộ chăn nuôi quy mô nhỏ ở Việt Nam. Kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê cho thấy: Trong số 4.131,6 ngàn hộ ni lợn thì số hộ nuôi quy mô nhỏ (<10 lợn/hộ) chiếm tới 86,4% tổng số hộ, nhƣng chỉ sản xuất 34,2% tổng sản lƣợng thịt lợn. Còn về gia cầm: tổng số 7.864,7 ngàn hộ, số hộ nuôi quy mô (< 100 con gia cầm/hộ) chiếm tới 89,62%, nhƣng chỉ sản xuất 30% tổng sản lƣợng thịt gia cầm. Thực tiễn đã chứng minh, chăn nuôi nông hộ quy mô nhỏ thƣờng chịu rủi ro rất cao về dịch bệnh do ít chủ động phịng chống và hiệu quả kinh tế thấp.

Chăn ni trang trại cịn khiêm tốn về quy mô và mức đầu tƣ, tỷ lệ công nghệ cao thấp. Điều tra của Tổng cục Thống kê cho thấy năm 2013 cả nƣớc chỉ có 9.026

trang trại chăn ni (bằng 38,72 tổng số trang trại nông nghiệp), 2 vùng Đồng bằng

sơng Hồng và Đơng Nam bộ có nhiều trang trại nhất (tƣơng ứng có 3.709 và 2.204 trang trại). Thực tế đây chỉ là thống kê trên số trang trại có báo cáo doanh thu theo hóa đơn, chứng từ, vì cịn khá nhiều trang trại chăn ni khơng có báo cáo doanh thu hàng năm, nên không đƣợc đƣa vào báo cáo của Tổng cục Thống kê. Ví dụ vùng Đơng Nam bộ, riêng tỉnh Đồng Nai năm 2014 đã có 2.675 trang trại, vùng Đồng bằng sơng Hồng, riêng Hà Nội đã có 1.403 trang trạị Theo ƣớc tính của Hội Chăn ni Việt Nam cả nƣớc hiện có khoảng 20.000 trang trại chăn nị

Theo thống kê đến thời điểm 2013 có 393 doanh nghiệp chăn nuôi (kể cả doanh nghiệp kinh doanh kết hợp trồng trọt và chăn nuôi, hay tham gia làm dịch vụ chăn nuôi), chiếm 23,1% tổng số doanh nghiệp ngành nông lâm thủy sản.

- Hai là năng suất vật nuôi thấp, năng suất lao động thấp, giá thành caọ Theo

cơng bố trên Tạp chí Pig International số 7 và 8 năm 2013: các năm 2011 và 2012 Việt Nam đều đứng ở vị trí thứ 3 (sau Trung Quốc và Mỹ) trong TOP 20 các nƣớc nuôi nhiều lợn nái nhất thế giớị Nhƣng sản lƣợng thịt lợn sản xuất năm 2011 chỉ đứng ở vị trí thứ 8, và năm 2012 ở vị trí thứ 7 (sau Trung Quốc, Mỹ, Đức, Tây Ban Nha, Brazil, Nga). Năng suất sinh sản của đàn lợn nái của ta đứng vị trí cuối cùng trong TOP 20. Trong khi nhiều nƣớc Âu, Mỹ, Thái Lan, Trung quốc chỉ tiêu số lợn cai sữa/nái/năm đạt 24 – 26 con, riêng Đan Mạch 31-33 con, còn ở Việt Nam chỉ 17 – 20 con.

Chăn ni ở Việt Nam đang có năngsuất lao động quá thấp. Một trang trại lợn sinh sản quy mơ 1.000 nái ở Mỹ chỉ có 1 lao động cịn ở Việt Nam là trên 20 ngƣờị Chăn nuôi nhỏ lẻ, chất lƣợng con giống thấp, công nghệ chăn ni lạc hậu, chi phí đầu vào cao, năng suất lao động thấp, dịch bệnh thƣờng xuyên đe dọa, liên kết chuỗi trong chăn nuôi yếu, qua nhiều khâu trung gian và lãi suất ngân hàng quá cao… làm cho giá thành chăn nuôi ở nƣớc ta cao, khả năng cạnh tranh thấp. Theo điều tra của Hội Chăn nuôi Việt Nam, giá thành sản xuất lợn thịt ở Mỹ thấp hơn 25 - 30% so với ở Việt Nam, giá thành 1kg thịt bị Ưc (nhập bị sống về Việt Nam để giết mổ) sau khi đã trừ các chi phí vận chuyển, thuế, kiểm dịch, ni chờ giết mổ, giết mổ, lãi vay ngân hàng… là khoảng 170.000 đồng – 180.000đồng/kg, trong khi đó bị thịt ni tại Việt Nam giá không thấp hơn 200.000đồng/kg, nhƣng chất lƣợng thịt lại không bằng thịt bị Ưc.

- Ba là đầu vào của ngành chăn ni Việt Nam cịn phụ thuộc khá nhiều vào nƣớc ngồị Theo Cục Chăn ni, hầu hết các giống bò, lợn, gia cầm cao sản nƣớc ta đều phải nhập từ Mỹ, Canada, Pháp, Öc, Hà Lan, Anh, Đan Mạch… Năm 2014, Việt Nam đã nhập 11,7 triệu tấn nguyên liệu các loại để sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản (trong đó có 5,368 triệu tấn thức ăn giàu đạm, 5,913 triệu tấn nguyên liệu giàu năng lƣợng và gần 400 tấn nguyên liệu thức ăn bổ sung). Kim ngạch nhập khẩu là 4,8 tỷ USD. Thời gian gần đây, nƣớc ta phải nhập tới 90% các loại nguyên liệu thức ăn

giàu đạm nhƣ: khô dầu đậu tƣơng, bột thịt-xƣơng, bột cá; riêng khoáng vi lƣợng,

vitamin nhập 100%.

Theo Liên minh Nông nghiệp, hiện nay 80% các loại vacxin đƣợc phép lƣu hành tại Việt Nam có nguồn gốc nhập khẩu từ 17 quốc gia trên thế giớị

- Bốn là quá ít cơ sở giết mổ đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thú y, công nghệ chế

biến, bảo quản sản phẩm chăn ni cịn yếu và thiếu, quản lý chất lƣợng thực phẩm còn nhiều hạn chế. Theo điều tra của Liên minh Nông nghiệp, hiện nay hệ thống chăn nuôi quy mơ nhỏ, mức độ vệ sinh an tồn thực phẩm thấp đang cung cấp ra thị trƣờng gần 70% sản phẩm thịt. Trong khi đó, chăn ni thƣơng mại quy mơ lớn, cơng nghệ hiện đại, an tồn thực phẩm cao chỉ mới cung cấp trên 15% lƣợng thịt cho tiêu dùng. Công nghệ chế biến bảo quản thịt sau giết mổ còn yếu, các phƣơng tiện vận chuyển thịt sau giết mổ và các quầy bán thịt, sản phẩm chăn nuôi tại chợ đa số chƣa đạt yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm.

- Năm là liên kết theo chuỗi giá trị trong ngành chăn ni cịn yếu, mới chỉ dừng ở các mơ hình, hoạt động kém hiệu quả do thiếu cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển và các đối tác trong liên kết chƣa thực sự hợp tác, chia sẻ. Do vậy, chƣa giảm bớt đƣợc các khâu trung gian, đẩy giá thành chăn nuôi tăng.

- Sáu là nguy cơ dịch bệnh nguy hiểm cẫn còn cao, kiểm dịch sản phẩm nhập

lậu qua biên giới vẫn sơ hở, bỏ sót. Thách thức này góp phần làm tăng chi phí sản xuất, tạo bất ổn cho thị trƣờng tiêu thụ, làm mất cơ hội để xuất khẩu đối với một số mặt hàng chăn ni có lợi thế, ảnh hƣởng tới nhu cầu tiêu dùng trong nƣớc.

- Bảy là công tác quy hoạch chăn ni ở nhiều địa phƣơng rất khó khăn do thiếu

quỹ đất. Tái cơ cấu ngành chăn nuôi thực hiện chậm.

- Cuối cùng là thiếu thông tin về hội nhập kinh tế ở nhiều địa phƣơng và nhiều

doanh nghiệp, trang trại…

Đến nay, Hiệp định FTA đã ký kết có hiệu lực thực hiện, q trình đàm phán TPP vừa mớiđƣợc kí kết, nhiều luật chơi mới khi hội nhập sâu đã bắt đầu có hiệu lực. Song, trừ một số doanh nghiệp lớn nắm bắt đƣợc thông tin và đang lo cách đối phó, cịn theo điều tra của Hội doanh nghiệp trẻ Hà Nội: 80% số doanh nghiệp đƣợc hỏi đến đều rất

thờ ơ, không hề quan tâm tới hội nhập. Hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam thiếu hẳn các kiến thức để hội nhập. Trƣờng Đại học Kinh tế và Trƣờng Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện khảo sát trên gần 700 doanh nghiệp vừa và nhỏ ở 5 tỉnh thành phố là Hà Nội, Hải Phịng, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ. Kết quả cho thấy có 60% doanh nghiệp Việt khơng biết gì về những nội dung cơ bản của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Lẽ ra các cơ quan quản lý cần tăng cƣờng đối thoại với doanh nghiệp, với hiệp hội doanh nghiệp để hiểu biết cần chuẩn bị gì khi hội nhập.

Tác động của hội nhập kinh tế tới ngành chăn nuôi

Tác động trực tiếp và gay gắt nhất chính là việc giảm các dịng thuế theo lộ trình đã cam kết, tạo cơ hội ngày càng tăng đối với việc nhập khẩu các sản phẩm chăn nuôi vào

nƣớc ta do có lợi thế về giá, về an tồn thực phẩm, trực tiếp cản trở sản xuất chăn nuôi trong nƣớc, dễ tạo tình trạng cạnh tranh khơng cân sức và ngƣời thiệt thịi vẫn ln là chăn ni trong nƣớc.

Tác động của hội nhập có thể thu hút nguồn nhân lực có chất lƣợng của ngành chăn ni (cán bộ quản lý, kỹ thuật và cơng nhân có trình độ, kinh nghiệm) sang làm việc tại các doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngồi về chăn ni tại Việt Nam và làm việc tại các nƣớc đối tác trong khối FTA (Hiệp định tự do thƣơng mại- Free trade Agrement). Đây cũng là một bất lợi cho ngành chăn ni trong q trình hội nhập. Song có thể hạn chế tác động này thông qua cơ chế ràng buộc khi đào tạo và quan tâm tới thu nhập cho ngƣời lao động.

Ngồi những tác động bất lợi, thì hội nhập kinh tế cũng tạo cơ hội cho ngành chăn nuôi khi đƣợc tiếp cận với công nghệ mới, giống mới, sản phẩm mới, phƣơng thức tổ chức sản xuất và quản lý tiên tiến. Đầu vào của ngành chăn nuôi nhƣ con giống, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, trang thiết bị, thuốc thú y sẽ giảm do bỏ hàng rào thuế quan. Hội nhập kinh tế cũng tạo áp lực buộc ngành chăn nuôi phải đẩy mạnh tái cơ cấu và thay đổi cách làm để có khả năng tham gia hội nhập và phát triển bền vững. Đây là tác động có lợi mà chúng ta phải tận dụng tối đạ

Tham gia TPP (Hiệp định thƣơng mại của các nƣớc đối tác xuyên Thái bình dƣơng – Trans pacific partnership) và các FTA sẽ giúp Việt Nam hoàn thiện thể chế kinh tế thị trƣờng, tạo dựng mơi trƣờng cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp FDỊ Cơ quan quản lý chăn nuôi cả ở cấp trung ƣơng lẫn ở cấp

địa phƣơng và toàn bộ các tổ chức, các doanh nghiệp, trang trại và kể cả hộ chăn nuôi đều phải thay đổi tƣ duy; đổi mới, hoàn thiện hệ thống quản lý và phƣơng thức sản xuất để tham gia hội nhập. Hội nhập quốc tế, ngành chăn nuôi nƣớc ta sẽ thu hút đƣợc nhiều dự án đầu tƣ mới vào ngành chăn nuôi, nhất là chăn nuôi công nghệ caọ

3.8 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHĨ KHĂN CỦA

CƠNG TY 3.8.1 Thuận lợi:

- Thƣơng hiệu: Cargill có đƣợc thƣơng hiệu mạnh nổi tiếng trên thị trƣờng nên

các hệ thống phân phối bán hàng rất dể dàng do ngƣời chăn nuôi biết đến từ lâụ

- Nhân viên: nhân viên chuyên nghiệp đƣợc đào tạo chuyên nghiệp để tƣ vấn hệ

thống phân phối về quản lý tài chính, quản lý khách hàng, hội thảo, làm các thử nghiệm minh chứng với các đối thủ khác giúp ngƣời chăn nuôi tự tin hơn để mua cám Cargill …

- Công nghệ: hiện tại Cargill có cơng nghệ vƣợt trội chính vì vậy giúp ngƣời chăn ni giảm đƣợc chi phí thức ăn, hạn chế dịch bệnh và lãi nhiều hơn cám đối thủ, từ đó giúp hệ thống phân phối tự tin hơn và hợp tác với công ty lâu dài hơn

- Chất lƣợng sản phẩm: hệ thống phân phối ngày càng có nhiều khách hàng hơn

do cám Cargill có chất lƣợng tốt.

- Tài chính: hiện tại Cargill có lợi thế là tài chính rất mạnh hổ trợ tín dụng cho

đại lý, hỗ trợ này là điều kiện rất tốt để đại lý có vốn đầu tƣ cho ngƣời chăn nuôi, giúp gia tăng sản lƣợng.

- Giá: hiện nay Cargill bán sản lƣợng rất lớn (1 triệu tấn tháng 12.2015/ năm),

chính vì vậy mà cơng ty giảm đƣợc rất nhiều chi phí, từ đó hạ đƣợc giá bán, từ đó sản phẩm bán đến ngƣời chăn ni hợp lý hơn, giúp đại lý cạnh tranh đƣợc với đối thủ và gia tăng thị phần.

- Sức ép ngƣời mua hàng: hiện tại ngƣời chăn nuôi tại Tỉnh Đồng Tháp nói riêng và cả nƣớc nói chung ngƣời chăn ni địi hỏi cám cho heo thịt có chất lƣợng tốt, có thƣơng hiệu nổi tiếng, nên giúp cho hệ thống phân phối bán đƣợc nhiều hàng hơn.

- An toàn vệ sinh thực phẩm: hiện tại Cargill nổi tiếng về cam kết về an toàn vệ

sinh thực phẩm, khơng sử dụng chất cấm, từ đó giúp ngƣời ni tự tin hơn khi mua thức ăn chăn ni của cơng ty Cargill.

3.8.2 Khó khăn:

Bên cạnh thuận lợi trên, hiện tại các hệ thống đại lý tại Tỉnh Đồng tháp cịn gặp nhiều khó khăn nhƣ:

Công ty mới xuất hiện: hiện tại rất nhiều cơng ty mới nhƣ: Hùng vƣơng, Hịa Phát, Pilmico của Philippin …xuất hiện và đầu tƣ qui mô, các công ty này đến tận ngƣời chăn ni chào hàng, bán tìn dụng, khuyến mãi nhiểu hơn …chính vì vậy thị phần tại đồng tháp giảm …

Đối thủ cạnh tranh trực tiếp: nhƣ CP, MASAN, GREENFEED ….đầu tƣ khép kín

3F (FARM-FEED-FOOD ), các cơng ty này hổ trợ cho ngƣời chăn nuôi nhƣ: con giống, tinh heo, trang thiết bị chăn nuôi, khuyến mãi hấp dẫn hơn, chính vì vây rất nhiều ngƣời chăn ni không sử dụng cám Cargill nửa, họ chuyển sang sử dụng các sản phẩm của các

Công ty trên.

Kênh phân phối: kênh phân phối Cargill hiện nay tại đồng tháp rất ít chƣa phủ khắp Tỉnh Đồng Tháp nên ngƣời chăn ni tiếp cận để mua cịn gặp nhiều khó khăn. Hoạt động Marketing: hiện nay hoạt động Marketing còn kém hiệu quả, cho nên 1 số khu vực tại Đồng Tháp chƣa biết nhiều về chất lƣợng sản phẩm cho heo của công ty

Cargill

Chăn nuôi truyền thống: hiện tại đại đa số ngƣời chăn nuôi tại Tỉnh Đồng Tháp cịn chăn ni theo truyền thống nhƣ: ni heo với nƣơc bột cặn, nuôi heo bằng hèm bia, nuôi heo bằng tấm cám trộn với đậm đặc cho heo ….và tận dụng các phụ phẩm nơng nghiệp, chính vì vậy Cargill rất khó tiếp cận với các đối tƣợng này tại Đồng

Một phần của tài liệu (LUẬN văn THẠC sĩ) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thức ăn cargill cho heo của các hộ nuôi tại tỉnh đồng tháp (Trang 54)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(98 trang)