1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thế chấp quyền đòi nợ theo quy định pháp luật việt nam

137 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thế Chấp Quyền Đòi Nợ Theo Quy Định Pháp Luật Việt Nam
Tác giả Lê Đoàn Kiều Trinh
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Trương Tín
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại Khóa Luận Chuyên Ngành
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,03 MB

Cấu trúc

  • Chương 1 (14)
    • 1.1. Khái quát chung về thế chấp quyền đòi nợ theo pháp luật Việt Nam (14)
      • 1.1.1. Khái niệm thế chấp quyền đòi nợ (14)
      • 1.1.2. Đặc điểm thế chấp quyền đòi nợ (21)
      • 1.1.3. Phân loại quyền đòi nợ (22)
      • 1.1.4. Ý nghĩa thế chấp quyền đòi nợ (25)
    • 1.2. Điều kiện quyền đòi nợ đƣợc thế chấp (27)
      • 1.2.1. Quyền đòi nợ phát sinh từ giao dịch hợp pháp (27)
      • 1.2.2. Quyền đòi nợ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp (28)
      • 1.2.3. Quyền đòi nợ không bị tranh chấp (30)
    • 1.3. Những mối quan hệ liên quan đến thế chấp quyền đòi nợ (31)
      • 1.3.1. Quan hệ giữa bên có nghĩa vụ trả nợ và bên thế chấp quyền đòi nợ (31)
      • 1.3.2. Quan hệ giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp quyền đòi nợ (32)
      • 1.3.3. Quan hệ giữa bên có nghĩa vụ trả nợ và bên nhận thế chấp quyền đòi nợ (33)
    • 1.4. Phạm vi thế chấp và xử lý quyền đòi nợ đƣợc thế chấp (35)
      • 1.4.1. Phạm vi thế chấp quyền đòi nợ (35)
      • 1.4.2. Xử lý quyền đòi nợ được thế chấp (0)
  • Chương 2 (39)
    • 2.1. Vướng mắc trong việc xác định phạm vi thế chấp quyền đòi nợ và giải pháp hoàn thiện pháp luật (39)
      • 2.1.1. Xử lý lãi phát sinh từ quyền đòi nợ được thế chấp (0)
      • 2.1.2. Thế chấp quyền đòi nợ hình thành trong tương lai (40)
    • 2.2. Vướng mắc trong quy định về hình thức đối với giao dịch thế chấp quyền đòi nợ và giải pháp hoàn thiện pháp luật (42)
    • 2.3. Vướng mắc trong quy định về nghĩa vụ thông báo quyền đòi nợ được thế chấp và giải pháp hoàn thiện pháp luật (44)
    • 2.4. Vướng mắc trong việc xử lý quyền đòi nợ được thế chấp và giải pháp hoàn thiện pháp luật (49)
      • 2.4.1. Phương thức xử lý quyền đòi nợ được thế chấp (49)
      • 2.4.2. Thời điểm thực hiện nghĩa vụ trong thế chấp quyền đòi nợ (50)
      • 2.4.3. Thế chấp quyền đòi nợ trong mối quan hệ với phương tiện phòng vệ của bên có nghĩa vụ trả nợ (53)
  • PHỤ LỤC (71)

Nội dung

Khái quát chung về thế chấp quyền đòi nợ theo pháp luật Việt Nam

1.1.1 Khái niệm thế chấp quyền đòi nợ

 Khái niệm quyền đòi nợ

Quyền đòi nợ là quyền yêu cầu người có nghĩa vụ thực hiện thanh toán một khoản tiền hoặc tài sản cụ thể Đây không chỉ là mối quan hệ pháp lý mà còn được coi là một loại tài sản.

Theo pháp luật về nghĩa vụ dân sự, quyền đòi nợ được quy định tại Điều 281 Bộ luật Dân sự năm 2015, cho phép bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ thanh toán một khoản tiền theo thỏa thuận trong hợp đồng Bên có quyền chỉ có thể yêu cầu thanh toán từ bên có nghĩa vụ, không thể yêu cầu từ bên thứ ba, vì đây là mối quan hệ trực tiếp giữa hai bên.

Theo quy định của pháp luật về tài sản, quyền đòi nợ được xác định là một loại quyền tài sản, được nêu rõ tại Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 Quyền đòi nợ cũng nằm trong bốn loại tài sản được quy định tại Điều 105 cùng bộ luật này Do đó, quyền đòi nợ được công nhận là một loại tài sản hợp pháp.

Mặc dù Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 không quy định cụ thể về bảo đảm bằng quyền tài sản như trong BLDS năm 2005, nhưng Điều 295 của BLDS năm 2015 khẳng định rằng bất kỳ tài sản nào cũng có thể được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Điều này đồng nghĩa với việc quyền đòi nợ, là một loại quyền tài sản, hoàn toàn có thể được sử dụng để bảo đảm nghĩa vụ dân sự theo quy định của BLDS năm 2015.

1 Bùi Đức Giang (2013), “Khoảng trống pháp luật về quyền đòi nợ”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 08, tr 33

Mặt khác theo điểm c khoản 7 Điều 6 của Thông tư 08/2018/TT-BTP của Bộ

Ngày 20 tháng 6 năm 2018, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư 08/2018/TT-BTP, hướng dẫn về đăng ký và cung cấp thông tin liên quan đến biện pháp bảo đảm, hợp đồng và việc trao đổi thông tin tại các trung tâm đăng ký giao dịch Thông tư quy định rằng các quyền tài sản theo Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015, ngoại trừ quyền sử dụng đất, bao gồm cả quyền đòi nợ, đều được coi là quyền tài sản và có thể được đăng ký biện pháp bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký khi có yêu cầu.

Quyền đòi nợ là quyền dân sự được pháp luật Việt Nam công nhận, phát sinh từ các hợp đồng như mua bán hàng hóa, xây dựng, hay cho thuê Sau khi hoàn thành nghĩa vụ như giao hàng đúng số lượng và chất lượng, bên có quyền đòi nợ có thể yêu cầu bên còn lại thanh toán các khoản nợ Đây là tài sản vô hình, phản ánh khoản phải thu của cá nhân hoặc doanh nghiệp, và có tầm quan trọng ngày càng cao trong quan hệ pháp luật dân sự Quyền đòi nợ bao gồm quyền yêu cầu thanh toán một khoản tiền vào thời điểm xác định trong tương lai, với bên có nghĩa vụ trả nợ phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với bên có quyền.

Quyền đòi nợ được hình thành từ ba yếu tố chính: trái chủ (chủ thể có quyền), thụ trái (chủ thể có nghĩa vụ) và đối tượng là khoản nợ Đến nay, pháp luật vẫn chưa đưa ra định nghĩa cụ thể về quyền đòi nợ Trước đây, Thông tư số 04/2007/TT-BTP đã định nghĩa quyền đòi nợ dựa trên các hợp đồng như vay, mua bán, thuê tài sản và dịch vụ, nhưng danh sách này đã bị hủy bỏ theo Thông tư số 05/2011/TT-BTP.

Thông tư số 08/2018/TT-BTP đã quy định quyền đòi nợ là quyền tài sản phát sinh từ nhiều loại hợp đồng liên quan đến bất động sản, như hợp đồng mua bán nhà ở, hợp đồng góp vốn xây dựng, và hợp đồng cho thuê Tuy nhiên, quy định này vẫn chưa đầy đủ, vì quyền đòi nợ không chỉ giới hạn trong các giao dịch này Thiếu sót trong quy định pháp luật khiến các chủ thể chưa nhận thức đúng về bản chất pháp lý của quyền tài sản, từ đó không thúc đẩy được các giao dịch liên quan trong tương lai.

Quyền đòi nợ được hiểu là quyền dân sự của chủ thể, cho phép bên có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với mình.

 Khái niệm thế chấp tài sản

2 Lê Trọng Dũng (2020), “Điều kiện để quyền đòi nợ được làm tài sản thế chấp theo pháp luật Việt Nam”,

Tạp chí Kiểm sát, số 20, tr 33

“Thế chấp” là một từ có nguồn gốc Hán – Việt: “Thế là bỏ đi, thay cho” còn

Thế chấp là hình thức cầm giữ tài sản để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ, theo định nghĩa từ điển tiếng Việt, thế chấp tài sản là phương thức sử dụng tài sản làm bảo đảm cho khoản vay, thay thế cho số tiền vay nếu bên vay không thể trả đúng hạn Điều này có nghĩa là bên có quyền và bên có nghĩa vụ đã thống nhất sử dụng tài sản có giá trị để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ, nhằm bảo vệ quyền lợi cho cả hai bên trong giao dịch.

Thế chấp, một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, đã có từ thời La Mã cổ đại Các học giả La Mã cho rằng luật về cầm cố và thế chấp là luật thứ hai được hình thành sau luật về quyền dụng ích.

Khái niệm thế chấp trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 và 2015 cơ bản không thay đổi Theo khoản 1 Điều 317 BLDS năm 2015, thế chấp tài sản là việc bên thế chấp sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà không giao tài sản cho bên nhận thế chấp Điều này cho thấy BLDS năm 2015 tiếp cận thế chấp như một giao dịch hợp đồng dựa trên lý thuyết trái quyền, nằm trong phần “nghĩa vụ và hợp đồng” Đồng thời, đặc điểm vật quyền trong quan hệ thế chấp cũng được thể hiện qua quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm tại Điều 298 BLDS năm 2015.

Khi so sánh khái niệm thế chấp giữa pháp luật Việt Nam và hệ thống pháp luật Anh cũng như nhiều quốc gia theo hệ thống tiền án lệ, chúng ta nhận thấy sự khác biệt rõ rệt về việc chuyển giao quyền sở hữu Pháp luật Việt Nam không yêu cầu chuyển giao quyền sở hữu trong quá trình thế chấp, trong khi pháp luật Anh và các nước khác lại coi thế chấp là một hình thức chuyển giao quyền sở hữu, có hiệu lực ngay tại thời điểm thế chấp Điều này thường được quy định trong hợp đồng thế chấp, với điều kiện rằng quyền sở hữu sẽ được chuyển giao nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả khoản vay.

3 Đào Duy Anh (2000), Từ điển Hán - Việt, Nxb Khoa học xã hội, tr.129, tr 788

4 Viện Ngôn ngữ (2000), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 934

5 Nguyễn Văn Xô (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Thanh niên, tr 675

6 Vũ Thị Hồng Yến (2017), Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của Bộ luật dân sự năm

2015, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tr 16

Khi bên vay hoàn thành nghĩa vụ trả nợ (bao gồm cả lãi nếu có), bên cho vay sẽ có trách nhiệm chuyển giao lại tài sản cho bên vay Điều này đảm bảo quyền sở hữu tài sản được khôi phục cho bên vay sau khi họ đã thanh toán đầy đủ khoản vay.

Khi so sánh quyền và nghĩa vụ cơ bản trong quan hệ thế chấp, có sự tương đồng và khác biệt giữa Bộ luật Dân sự Pháp và Bộ luật Dân sự Nhật Bản Cụ thể, Điều 2114 của Bộ luật Dân sự Pháp định nghĩa thế chấp là quyền tài sản đối với bất động sản nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ.

Cùng với quan điểm đó, Điều 369 Bộ luật Dân sự của Nhật Bản cũng quy định:

Điều kiện quyền đòi nợ đƣợc thế chấp

1.2.1 Quyền đòi nợ phát sinh từ giao dịch hợp pháp

Chỉ những giao dịch dân sự hợp pháp mới phát sinh quyền và nghĩa vụ cho các bên tham gia, với cam kết và thỏa thuận có hiệu lực bắt buộc và được pháp luật bảo vệ Để giao dịch có thể được đảm bảo bằng biện pháp thế chấp và phát sinh quyền đòi nợ, cần đáp ứng các điều kiện theo Điều 117 BLDS năm 2015, bao gồm: (i) Các bên tham gia phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự phù hợp; (ii) Giao dịch phải hoàn toàn tự nguyện; (iii) Mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội; (iv) Hình thức giao dịch phải tuân thủ quy định của pháp luật.

Về điểm này, BLDS năm 2015 đã có một số thay đổi so với BLDS năm

2005 Về năng lực xác lập giao dịch, so với điểm a khoản 1 Điều 122 BLDS năm

Năm 2005, Điều 117 BLDS năm 2015 đã bổ sung cụm từ “năng lực pháp luật dân sự” và yêu cầu “phải phù hợp với giao dịch được xác lập”, điều này hợp lý vì giao dịch dân sự rất đa dạng và nội dung khác nhau Năng lực hành vi dân sự của cá nhân phụ thuộc vào từng giao dịch cụ thể Ví dụ, theo khoản 4 Điều 21 BLDS năm 2015, người bị hạn chế năng lực hành vi chỉ được tham gia giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày hoặc theo quy định của luật, còn các giao dịch liên quan đến tài sản cần có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Do đó, không phải ai có năng lực hành vi dân sự cũng có quyền tham gia giao dịch dân sự.

Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, cụm từ “pháp luật” đã được thay thế bằng “luật” trong các điều cấm, nhằm giảm thiểu sự hạn chế đối với quyền tự do thỏa thuận của các bên Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định rằng điều cấm dẫn đến giao dịch vô hiệu có thể xuất phát từ chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là không hợp lý Do đó, sự thay đổi này trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là hợp lý và phản ánh tinh thần cải cách của bộ luật.

12 Đỗ Văn Đại (chủ biên) (2015), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức, tr 145

21 giới hạn quyền hay tự do của các chủ thể phải do luật (tức văn bản do Quốc hội ban hành) quy định 13

So với Điều 123 BLDS năm 2005, Điều 118 BLDS năm 2015 đã loại bỏ từ "hợp pháp" để tránh quy định thừa, vì nội dung và mục đích của giao dịch đã được yêu cầu không vi phạm điều cấm của luật.

Giao dịch dân sự thể hiện ý chí và nguyện vọng của các bên, và hình thức của giao dịch là cách thức thể hiện ý chí đó Bộ luật Dân sự năm 2015 cho phép tự do về mặt hình thức giao dịch, nhưng vẫn yêu cầu tuân thủ một số quy định pháp luật để giao dịch có hiệu lực Việc thu hẹp phạm vi quy định từ “pháp luật” sang “luật” là hợp lý và thúc đẩy tự do cho các chủ thể, phù hợp với tinh thần chung của Bộ luật Dân sự năm 2015 Điều kiện phát sinh quyền đòi nợ từ giao dịch hợp pháp là yếu tố quan trọng, vì chỉ giao dịch hợp pháp mới tạo ra quyền đòi nợ hợp pháp và có thể trở thành đối tượng của thế chấp quyền đòi nợ Ngược lại, nếu giao dịch không hợp pháp, quyền đòi nợ sẽ không hợp pháp và không thể được thế chấp.

1.2.2 Quyền đòi nợ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp

Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng bảo đảm liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm, Tòa án cần xác định tính hợp lệ của hợp đồng bằng cách kiểm tra quyền sở hữu và quyền định đoạt của bên bảo đảm đối với tài sản Đối với tài sản hình thành trong tương lai, Tòa án phải xác minh xem tài sản đó đã được hình thành và thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm hay chưa tại thời điểm giải quyết tranh chấp.

Trong quan hệ pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ, bên thế chấp thường là bên có nghĩa vụ hoặc một người thứ ba, người này sử dụng chính quyền đòi nợ của mình để thực hiện nghĩa vụ.

13 Đỗ Văn Đại, tlđd (12), tr 145

14 Đỗ Văn Đại, tlđd (12), tr 146

15 Lê Trọng Dũng, tlđd (2), tr 36

Theo quy định tại khoản 1 Điều 295 BLDS năm 2015, bên thế chấp phải có quyền sở hữu đối với tài sản thế chấp, nhằm đảm bảo an toàn cho bên nhận thế chấp trong trường hợp nghĩa vụ không được thực hiện Quy định này yêu cầu tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm, và trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung, cần có sự đồng ý của tất cả chủ sở hữu khi thế chấp So với BLDS năm 2005, BLDS năm 2015 đã bổ sung hai biện pháp bảo đảm mới là cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu, nhằm tăng cường bảo vệ quyền lợi cho bên nhận thế chấp.

Có quan điểm cho rằng bên thế chấp nên được phép sử dụng cả những tài sản mà họ không sở hữu hoàn toàn, mà chỉ có một phần quyền và lợi ích nhất định để làm tài sản bảo đảm trong giao dịch Hướng dẫn của UNCITRAL về giao dịch bảo đảm cho thấy rằng các khuyến nghị này có thể áp dụng cho mọi quốc gia, bao gồm cả các nước theo luật dân sự và thông luật Điều này đặt ra câu hỏi liệu quy định yêu cầu tài sản bảo đảm phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm có đi ngược lại với xu hướng quốc tế và có mâu thuẫn với quy định tại khoản 3 Điều 295 BLDS hay không.

Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định rằng tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, trong đó tài sản hình thành trong tương lai có thể chưa hình thành hoặc đã hình thành nhưng chỉ thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm sau khi giao dịch bảo đảm được xác lập (khoản 2 Điều 108 BLDS năm 2015) Quyền đòi nợ hình thành trong tương lai, mặc dù chưa trở thành tài sản của bên thế chấp, nhưng việc sử dụng quyền này làm tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là đối với bên nhận thế chấp.

I don't know!

17 Lê Trọng Dũng, tlđd (2), tr 38

23 vậy nên dù được pháp luật cho phép nhưng quyền đòi nợ hình thành trong tương lai vẫn khó có thể được nhận làm tài sản bảo đảm

1.2.3 Quyền đòi nợ không bị tranh chấp Để quyền đòi nợ được thế chấp thì không chỉ phải thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp mà còn phải không bị tranh chấp bởi các chủ thể khác nhằm giảm thiểu rủi ro cho bên nhận thế chấp Bên nhận thế chấp không nên quá tin tưởng vào thông tin do bên thế chấp cung cấp, mà nên chủ động tìm kiếm thông tin về tài sản trên hệ thống đăng ký giao dịch bảo đảm, tình trạng pháp lý của tài sản đó ra sao để bên nhận thế chấp cân nhắc về tính an toàn của tài sản thế chấp và quyết định chấp nhận tài sản đó là đối tượng thế chấp hay không Tuy nhiên trên thực tế, để xác định quyền đòi nợ có đang bị tranh chấp hay không là rất khó, bởi lẽ xuất phát từ tâm lý che đậy của bên đi vay để được vay tiền Đứng trước nguy cơ đó, bên cho vay thường yêu cầu bên đi vay ký bản cam kết rằng tài sản bảo đảm không có tranh chấp tại thời điểm giao kết hợp đồng thế chấp và các hợp đồng giao kết khác

Khi quyền đòi nợ đang có tranh chấp, chỉ khi các tranh chấp này được giải quyết thông qua thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên hoặc bằng bản án của Tòa án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì quyền đòi nợ mới có thể được thế chấp để đảm bảo cho khoản vay Lúc này, quyền đòi nợ sẽ trở thành đối tượng hợp pháp trong hợp đồng thế chấp.

Khi quyền đòi nợ không có tranh chấp, cần xem xét các điều kiện khác để đảm bảo quyền đòi nợ được thế chấp Ngoài ba điều kiện cơ bản đã phân tích, bên nhận thế chấp có thể đặt ra các yêu cầu bổ sung để quyết định cho vay Không phải quyền đòi nợ nào cũng đủ điều kiện nhận thế chấp, do đó, bên nhận thế chấp có thể áp dụng các quy định nội bộ riêng biệt Những điều kiện này có thể bao gồm cách thức kiểm tra, định giá quyền đòi nợ, thẩm định khả năng trả nợ, cũng như cam kết hợp tác từ bên thế chấp Việc này nhằm bảo vệ quyền lợi các bên và giảm thiểu rủi ro tiềm ẩn, đồng thời ổn định hoạt động kinh doanh và thúc đẩy cho vay phát triển theo các tiêu chí đã đề ra.

Những mối quan hệ liên quan đến thế chấp quyền đòi nợ

1.3.1 Quan hệ giữa bên có nghĩa vụ trả nợ và bên thế chấp quyền đòi nợ Đây là mối quan hệ giữa bên có nghĩa vụ trả nợ và bên có quyền đòi nợ ban đầu Hai bên thường xác lập các hợp đồng mua bán hàng hóa, thực hiện một công việc, hay hợp đồng dịch vụ Bên bán có nghĩa vụ giao đủ, đúng hàng hóa, chất lượng hàng hóa cho bên mua, và bên mua có nghĩa vụ phải trả đủ tiền cho bên bán Lúc này, khi bên bán đã hoàn thành xong nghĩa vụ của mình thì bên bán có quyền đòi nợ bên mua Bên mua lúc này trở thành bên có nghĩa vụ trả nợ cho bên có quyền của mình là bên bán (bên thế chấp quyền đòi nợ) Do đó chỉ có bên bán (bên thế chấp quyền đòi nợ) là chủ sở hữu duy nhất của quyền đòi nợ này, là bên có quyền duy nhất của bên mua Đây là mối quan hệ đơn thuần phát sinh từ các hợp đồng mua bán, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng cho thuê, giữa hai bên, bên có quyền và bên có nghĩa vụ trả nợ mà thôi Ví dụ cho mối quan hệ này như sau: A và B ký kết một hợp đồng mua bán thủy sản, giá trị của hợp đồng là 500.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận A phải giao hàng vào lúc 9h ngày 20/05/2021 tại trụ sở của công ty B, A phải giao hàng đúng số lượng như đã giao kết, đảm bảo chất lượng như đã thỏa thuận Hoàn thành xong nghĩa vụ B sẽ thanh toán cho A vào ngày 20/12/2021 qua tài khoản ngân hàng của công ty A Như vậy đây là mối quan hệ hai bên, giữa bên mua và bên bán Sau khi

A hoàn thành nghĩa vụ giao hàng đầy đủ về số lượng, chất lượng, chứng từ và đúng thời gian sẽ trở thành bên có quyền đòi nợ B (bên mua) Lúc này, B trở thành bên có nghĩa vụ trả nợ cho A Điều này phù hợp với quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của hai bên theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005.

Mối quan hệ giữa hai bên trong hợp đồng là bình đẳng và công bằng, trong đó quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia Dù bên có quyền có thể thế chấp quyền đòi nợ để vay tiền, nhưng các điều khoản như thời hạn và phương thức thanh toán vẫn giữ nguyên Nếu bên thế chấp vi phạm nghĩa vụ, bên nhận thế chấp sẽ thực hiện quyền đòi nợ, và bên có nghĩa vụ có thể thanh toán cho bên nhận thế chấp theo thỏa thuận Quan hệ giữa hai bên vẫn duy trì tính chất hợp đồng ban đầu.

Hợp đồng có thể chấm dứt trong 25 trường hợp, bao gồm việc bên có quyền bán quyền đòi nợ cho bên thứ ba, hoặc khi hai bên đạt được thỏa thuận chấm dứt nghĩa vụ Ngoài ra, còn có những trường hợp chấm dứt khác theo quy định của pháp luật.

1.3.2 Quan hệ giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp quyền đòi nợ

Quan hệ giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp được thiết lập thông qua một nghĩa vụ, thường là giao dịch vay tài sản như hợp đồng tín dụng Bên thế chấp cung cấp quyền đòi nợ để vay tiền từ bên nhận thế chấp Khi đến hạn, nếu bên thế chấp hoàn trả khoản vay, quyền đòi nợ sẽ được giải chấp Ngược lại, nếu bên thế chấp không trả được khoản vay, bên nhận thế chấp có quyền xử lý tài sản bảo đảm để bù trừ nghĩa vụ Nếu việc xử lý không đủ để hoàn trả khoản vay, bên thế chấp vẫn phải tiếp tục nghĩa vụ trả nợ, và phần thiếu sẽ trở thành khoản nợ không có tài sản bảo đảm Tuy nhiên, nếu sau khi xử lý tài sản bảo đảm mà còn dư tiền, bên nhận thế chấp phải hoàn trả số tiền thừa cho bên thế chấp.

Thế chấp tài sản là một hình thức giao dịch bảo đảm phổ biến, thường được sử dụng để đảm bảo nghĩa vụ, đặc biệt trong các hợp đồng vay giữa cá nhân và tổ chức tín dụng Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, bên thế chấp có quyền bán, trao đổi hoặc tặng cho quyền đòi nợ nếu có sự đồng ý của bên nhận thế chấp Bên nhận thế chấp cũng có quyền và nghĩa vụ như đăng ký thế chấp, xử lý tài sản và trả lại giấy tờ cho bên thế chấp khi kết thúc giao dịch Quan hệ giữa hai bên còn thể hiện ở việc bên nhận thế chấp có quyền truy đòi tài sản bảo đảm, ngay cả khi tài sản đã được chuyển giao cho bên thứ ba mà không có căn cứ pháp luật.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, bên nhận thế chấp có quyền truy đòi tài sản bảo đảm nhằm bảo vệ quyền lợi của mình Điều này giúp ngăn chặn tình trạng bên thế chấp tự ý tặng, trao đổi, chuyển nhượng hoặc mua bán tài sản đã đăng ký biện pháp bảo đảm mà không có sự đồng ý của bên nhận thế chấp Việc này rất quan trọng để tránh rủi ro mất tài sản bảo đảm, từ đó bảo vệ quyền lợi và lợi ích kinh tế cho bên nhận thế chấp.

BLDS năm 2015 không quy định hình thức giao dịch thế chấp quyền đòi nợ, nhưng vì đây là một dạng thế chấp tài sản, nên vẫn phải tuân thủ các quy định liên quan Theo Điều 343 BLDS năm 2005, việc thế chấp tài sản cần lập thành văn bản và có thể yêu cầu công chứng, chứng thực hoặc đăng ký nếu pháp luật quy định Tuy nhiên, BLDS năm 2015 đã bỏ quy định này, do đó, hình thức thế chấp quyền đòi nợ sẽ tuân theo quy định chung của giao dịch dân sự, cho phép tự do về mặt hình thức, có thể được thực hiện bằng lời nói, văn bản hoặc hành vi cụ thể.

Pháp luật hiện hành không yêu cầu việc thế chấp quyền đòi nợ phải đăng ký, tuy nhiên, các bên có thể đăng ký biện pháp bảo đảm để được hưởng quyền ưu tiên và bảo vệ quyền lợi tốt hơn trước bên thứ ba.

1.3.3 Quan hệ giữa bên có nghĩa vụ trả nợ và bên nhận thế chấp quyền đòi nợ

Khi hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ được thiết lập, bên nhận thế chấp phải thông báo cho bên có nghĩa vụ trả nợ Nếu đến hạn thanh toán mà bên thế chấp không thực hiện nghĩa vụ, bên nhận thế chấp có quyền xử lý quyền đòi nợ Lúc này, bên có nghĩa vụ trả nợ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên nhận thế chấp, nếu có thỏa thuận giữa các bên Theo Điều 22 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, bên nhận thế chấp phải cung cấp thông tin liên quan đến việc thế chấp quyền đòi nợ.

Theo quy định tại Điều 27, bên có nghĩa vụ trả nợ có quyền từ chối thanh toán nếu không nhận được thông tin cần thiết Khi được thông báo, chỉ bên nhận thế chấp mới có quyền nhận thanh toán từ bên có nghĩa vụ Việc ký kết hợp đồng thế chấp quyền đòi nợ không làm thay đổi thời hạn thực hiện nghĩa vụ thanh toán, mà chỉ thay đổi bên nhận tiền Ví dụ, A và B ký hợp đồng xây dựng vào ngày 20/6/2020 với giá trị 3.000.000.000 đồng, thanh toán khi hoàn thành vào ngày 20/6/2021 Trong quá trình xây dựng, A thế chấp quyền đòi nợ cho Ngân hàng để vay 2.000.000.000 đồng Nếu A không thanh toán cho Ngân hàng đúng hạn, Ngân hàng có quyền nhận tiền từ B khi công trình hoàn thành.

Quan hệ giữa bên nhận thế chấp và bên có nghĩa vụ trả nợ được xác định qua việc bên nhận thế chấp đăng ký biện pháp bảo đảm quyền đòi nợ Trong trường hợp có nhiều bên cùng nhận bảo đảm, bên có nghĩa vụ trả nợ phải thanh toán cho bên nhận thế chấp đã đăng ký tài sản bảo đảm trước Bên nhận thế chấp nào đăng ký sớm nhất sẽ được ưu tiên thanh toán Nếu bên có nghĩa vụ trả nợ biết rõ thứ tự ưu tiên nhưng vẫn thanh toán cho bên nhận thế chấp khác, họ vẫn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận thế chấp đã đăng ký trước.

Quan hệ giữa bên thế chấp và bên nhận thế chấp được thể hiện qua việc chuyển giao quyền đòi nợ, trong đó bên nhận thế chấp trở thành chủ sở hữu duy nhất của quyền này Điều này đồng nghĩa với việc bên thế chấp không còn chịu trách nhiệm về khả năng thực hiện nghĩa vụ của bên nợ Mặc dù việc chuyển giao quyền đòi nợ mang lại lợi ích cho cả hai bên, nhưng cũng tồn tại những hạn chế có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của bên nhận thế chấp.

Quan hệ giữa bên nhận thế chấp và bên có nghĩa vụ trả nợ có thể bị ảnh hưởng khi bên có nghĩa vụ viện dẫn các phương tiện phòng vệ để giảm hoặc tránh thanh toán khoản nợ Những phương tiện này bao gồm hợp đồng vô hiệu, việc bù trừ nghĩa vụ, hoặc thỏa thuận chấm dứt nghĩa vụ mà bên nhận thế chấp không hay biết, dẫn đến việc bên nhận thế chấp không thể xử lý quyền đòi nợ Điều này tạo ra bất cập trong pháp luật về thế chấp quyền đòi nợ, khi chưa có quy định rõ ràng để điều chỉnh Thêm vào đó, nếu bên nhận thế chấp cũng là bên có nghĩa vụ trả nợ, họ có quyền bù trừ nghĩa vụ từ khoản tiền hoặc tài sản thu được từ nghĩa vụ của chính mình, theo quy định tại khoản 5 Điều 54 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP.

Phạm vi thế chấp và xử lý quyền đòi nợ đƣợc thế chấp

1.4.1 Phạm vi thế chấp quyền đòi nợ

Về phạm vi tài sản được bảo đảm trong các giao dịch dân sự, cả BLDS năm

Năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 không đề cập rõ ràng đến phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm, trong khi Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã quy định cụ thể về quyền đòi nợ Cụ thể, các bên có quyền thế chấp một phần hoặc toàn bộ quyền đòi nợ để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, bao gồm cả quyền đòi nợ hình thành trong tương lai Điều này có nghĩa là quyền đòi nợ trong tương lai cũng có thể trở thành đối tượng của hợp đồng thế chấp.

Quy định cho phép các chủ thể tự do quyết định phạm vi tài sản bảo đảm và thế chấp quyền đòi nợ, giúp bên nhận thế chấp có quyền xử lý một phần hoặc toàn bộ quyền đòi nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng Trong trường hợp quyền đòi nợ có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm, bên thế chấp có thể lựa chọn thế chấp một phần quyền đòi nợ, vừa đảm bảo an toàn cho mình, vừa cho phép kịp thời thu hồi phần nợ cần thiết.

Việc sử dụng 29% tài sản không thế chấp để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh và tăng trưởng doanh thu liên tục là rất quan trọng, vì nó giúp hạn chế tình trạng thiếu vốn và giảm bớt áp lực vay mượn Trong trường hợp tài sản bảo đảm (quyền đòi nợ) có giá trị đủ để đảm bảo nghĩa vụ, bên thế chấp có thể thế chấp toàn bộ quyền đòi nợ, từ đó tạo điều kiện cho giao dịch thế chấp diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Sự tự do trong việc thực hiện giao dịch được thể hiện qua việc cho phép thế chấp quyền đòi nợ hình thành trong tương lai, phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, cho phép tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành sau này Tuy nhiên, việc này cũng dẫn đến nhiều bất cập và khó khăn cho các bên liên quan Đặc biệt, vấn đề liệu quyền đòi nợ thế chấp có bao gồm lãi suất hay không vẫn chưa có quy định rõ ràng, và tác giả sẽ phân tích sâu hơn về vấn đề này trong Chương 2.

1.4.2 Xử lý quyền đòi nợ đƣợc thế chấp

Theo Điều 303 BLDS năm 2015, phương thức xử lý tài sản thế chấp bao gồm bán đấu giá, bên nhận bảo đảm tự bán tài sản, và bên nhận bảo đảm nhận tài sản để thay thế nghĩa vụ Tuy nhiên, bán đấu giá và tự bán tài sản không phù hợp với xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ Bán đấu giá không có ý nghĩa với khoản nợ và thường chỉ thu hút người mua có ý định đầu cơ Trong khi đó, bên nhận bảo đảm chưa thể tự bán tài sản vì tài sản vẫn thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm Cách thức bên nhận bảo đảm nhận tài sản để thay thế nghĩa vụ là hợp lý hơn, cho phép bên nhận thế chấp quyền đòi nợ trở thành chủ sở hữu mới, mang lại nhiều ưu điểm trong quá trình xử lý tài sản.

Bên nhận thế chấp không bị ràng buộc bởi nguyên tắc tạm hoãn xử lý tài sản bảo đảm khi bên thế chấp phá sản, vì lúc này bên thế chấp đã mất quyền sở hữu đối với quyền đòi nợ.

Bên nhận thế chấp đã trở thành chủ sở hữu mới của quyền đòi nợ, cho phép họ thực hiện quyền định đoạt theo Điều 194 BLDS năm 2015 Điều này bao gồm việc chuyển giao quyền yêu cầu và đề nghị ngân hàng thanh toán, nhằm huy động giá trị của quyền đòi nợ trước thời điểm đến hạn.

Mặc dù biện pháp chuyển giao quyền đòi nợ cho bên nhận thế chấp mang lại lợi ích, nhưng nó cũng tiềm ẩn nhược điểm Nếu bên nhận thế chấp trở thành chủ sở hữu mới của quyền đòi nợ, họ sẽ phải đối mặt với rủi ro nếu đến hạn, người có nghĩa vụ không thực hiện thanh toán.

Quyền đòi nợ, với bản chất là tài sản đặc biệt, được xử lý theo quy định riêng tại Nghị định số 163/2006/NĐ-CP Cụ thể, bên nhận thế chấp quyền đòi nợ có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ trả nợ thanh toán khi bên thế chấp không thực hiện nghĩa vụ đúng hạn Ngoài ra, bên nhận bảo đảm có thể nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba, tức là người có nghĩa vụ trả nợ, trong trường hợp bên bảo đảm không thực hiện nghĩa vụ Việc này không ảnh hưởng đến quyền lợi của bên có nghĩa vụ trả nợ, vì thực chất họ thanh toán cho bên thứ ba theo hợp đồng thế chấp đã ký Khi khoản tiền được thanh toán, nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ trả nợ sẽ chấm dứt, đồng thời bên nhận thế chấp cũng được trả nợ đầy đủ, đảm bảo an toàn cho bên nhận thế chấp.

18 Bùi Đức Giang (2013), “Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 05, tr 47

Biện pháp xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ vẫn được duy trì theo khoản 2 Điều 54 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP, cho thấy sự lựa chọn này vẫn được ưu tiên trong việc quản lý và xử lý tài sản bảo đảm.

Tác giả đã tổng hợp, phân tích và đánh giá pháp luật trong nước so với pháp luật nước ngoài, làm rõ các cơ sở lý luận và vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch thế chấp quyền đòi nợ Pháp luật Việt Nam công nhận quyền đòi nợ là quyền tài sản, được sử dụng trong giao dịch bảo đảm nhằm thực hiện nghĩa vụ dân sự Bài viết trình bày khái niệm quyền đòi nợ, thế chấp quyền đòi nợ, các đặc điểm và phân loại quyền đòi nợ, cũng như ý nghĩa và vai trò của thế chấp quyền đòi nợ Tác giả cũng nêu ra các điều kiện cần có cho một giao dịch thế chấp quyền đòi nợ và mối quan hệ xung quanh giao dịch này Ngoài ra, phạm vi thế chấp và xử lý quyền đòi nợ cũng được đề cập, phân tích kỹ lưỡng Hy vọng những kiến thức này sẽ giúp độc giả có cái nhìn toàn diện hơn về tài sản này.

Ngày đăng: 05/05/2022, 11:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2000), Từ điển Hán - Việt, Nxb. Khoa học xã hội, tr.129, tr. 788 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán - Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2000
2. Lê Trọng Dũng (2020), “Điều kiện để quyền đòi nợ được làm tài sản thế chấp theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát, số 20, tr. 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều kiện để quyền đòi nợ được làm tài sản thế chấp theo pháp luật Việt Nam”, "Tạp chí Kiểm sát
Tác giả: Lê Trọng Dũng
Năm: 2020
4. Đỗ Văn Đại (2017), Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam - Bản án và bình luận bản án, Nxb. Hồng Đức, tr. 145 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật nghĩa vụ và bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việt Nam - Bản án và bình luận bản án
Tác giả: Đỗ Văn Đại
Nhà XB: Nxb. Hồng Đức
Năm: 2017
5. Bùi Đức Giang (2011), “Một số hạn chế của chế định thế chấp quyền đòi nợ theo quy định hiện hành”, Tạp chí Ngân hàng, số 21, tr. 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số hạn chế của chế định thế chấp quyền đòi nợ theo quy định hiện hành”, "Tạp chí Ngân hàng
Tác giả: Bùi Đức Giang
Năm: 2011
6. Bùi Đức Giang (2013), “Khoảng trống pháp luật về quyền đòi nợ”, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 08, tr. 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoảng trống pháp luật về quyền đòi nợ”, "Tạp chí nhà nước và pháp luật
Tác giả: Bùi Đức Giang
Năm: 2013
7. Bùi Đức Giang (2013), “Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 05, tr. 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm là quyền đòi nợ”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Bùi Đức Giang
Năm: 2013
8. Nguyễn Hồng Năng (2016), Thị trường vốn nợ luật và hợp đồng, Nxb. Công Thương, tr. 320-321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường vốn nợ luật và hợp đồng
Tác giả: Nguyễn Hồng Năng
Nhà XB: Nxb. Công Thương
Năm: 2016
9. Lê Thị Thu Thủy (2006), Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng, Nxb. Thành phố, tr. 122 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức tín dụng
Tác giả: Lê Thị Thu Thủy
Nhà XB: Nxb. Thành phố
Năm: 2006
10. Nguyễn Văn Xô (2008), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Thanh niên, tr. 675 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Xô
Nhà XB: Nxb. Thanh niên
Năm: 2008
11. Vũ Thị Hồng Yến (2017), Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, tr. 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015
Tác giả: Vũ Thị Hồng Yến
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Năm: 2017
12. Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) (1995), Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 289, tr. 301 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật dân sự Nhật Bản
Tác giả: Viện nghiên cứu khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp)
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
13. Viện Ngôn ngữ (2000), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr. 934. Tài liệu từ internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt", Nxb. Đà Nẵng, tr. 934
Tác giả: Viện Ngôn ngữ
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng
Năm: 2000
1. UNCITRAL, “Legislative Guide on Secured Transactions”, https://uncitral.un.org/sites/uncitral.un.org/files/media-documents/uncitral/en/09-82670_ebook-guide_09-04-10english.pdf, 10/05/2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Legislative Guide on Secured Transactions
3. Đỗ Văn Đại (2015), Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015, Nxb. Hồng Đức, tr. 145 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w