8
1.1 Quy định của Luật hình sự Việt Nam về hành vi khách quan của tội tham ô tài sản
Tội tham ô tài sản là tội phạm vật chất, bao gồm hành vi khách quan, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa chúng Trong nhóm tội phạm về chức vụ, hành vi khách quan là yếu tố quan trọng để phân biệt tội tham ô tài sản với các tội phạm khác Hành vi này được thể hiện qua việc “chiếm đoạt tài sản” của người có chức vụ, quyền hạn trong quản lý tài sản Đặc trưng của tội tham ô tài sản là việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản.
Người phạm tội tham ô tài sản phải lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản, với hành vi chiếm đoạt này liên quan trực tiếp đến chức vụ của họ Nếu không có chức vụ, quyền hạn, họ sẽ không thể thực hiện việc chiếm đoạt Chức vụ, quyền hạn là điều kiện cần thiết để thực hiện hành vi tham ô Ngược lại, nếu hành vi chiếm đoạt không liên quan đến chức vụ, quyền hạn, thì dù có chức vụ, quyền hạn, họ cũng không bị coi là tham ô tài sản.
Nguyễn Văn A, thủ quỹ của công ty X, đã rơi vào tình trạng nợ nần do chơi hụi và không còn khả năng thanh toán Để giải quyết vấn đề tài chính, A cùng vợ Đào Thị T đã quyết định thế chấp giấy tờ nhà để vay 800.000.000 đồng từ công ty, với mục đích đầu tư vào nuôi tôm Sau khi nhận được khoản vay, vợ chồng A đã sử dụng tiền để trả nợ cho các chủ nợ Tuy nhiên, đến hạn thanh toán, họ lại không xuất hiện để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Công ty phát hiện bộ hồ sơ mà vợ chồng A thế chấp là giả, mặc dù A giữ chức vụ có quyền hạn và trách nhiệm quản lý tài sản A không trực tiếp chiếm đoạt tài sản mà chỉ lợi dụng chức vụ để thuyết phục giám đốc công ty cho vợ chồng mình vay tiền Chức vụ và quyền hạn của A chỉ là công cụ để thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của công ty.
15 Ts Trần Thị Quang Vinh, Ts Vũ Thị Thúy (2018), Luật hình sự Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr 478
KHÁCH QUAN CỦA TỘI THAM Ô TÀI SẢN
Quy định của Luật hình sự Việt Nam về hành vi khách quan của tội tham ô tài sản
Tội tham ô tài sản được coi là tội phạm vật chất, bao gồm các yếu tố như hành vi khách quan, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa chúng Trong nhóm tội phạm về chức vụ, hành vi khách quan là yếu tố quan trọng giúp phân biệt tội tham ô tài sản với các tội phạm khác Hành vi này cụ thể là “chiếm đoạt tài sản” do người có chức vụ, quyền hạn quản lý Đặc trưng của tội tham ô tài sản nằm ở việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
Người phạm tội tham ô tài sản là người lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản Hành vi chiếm đoạt này phải liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ; nếu không có chức vụ, quyền hạn, họ sẽ không thể thực hiện hành vi chiếm đoạt Do đó, chức vụ, quyền hạn là điều kiện cần thiết để thực hiện hành vi tham ô Nếu hành vi chiếm đoạt không liên quan đến chức vụ, quyền hạn, thì dù người đó có chức vụ, quyền hạn, họ cũng không bị coi là tham ô tài sản.
Nguyễn Văn A, thủ quỹ của công ty X, đã rơi vào tình trạng nợ nần do chơi hụi và không còn khả năng thanh toán Để giải quyết, A đã thảo luận với vợ, Đào Thị T, và quyết định dùng giấy tờ nhà để thế chấp vay 800.000.000 đồng từ công ty với mục đích đầu tư nuôi tôm Sau khi nhận được khoản vay, vợ chồng A đã dùng tiền để trả nợ cho các chủ nợ, nhưng đến hạn, họ lại không thể thanh toán.
Công ty mới phát hiện hồ sơ thế chấp của vợ chồng A là giả mạo, mặc dù A giữ chức vụ có quyền hạn và trách nhiệm quản lý tài sản A không lợi dụng quyền hạn để chiếm đoạt tài sản trực tiếp, mà chỉ sử dụng chức vụ để thuyết phục giám đốc công ty cho vợ chồng A vay tiền Chức vụ của A chỉ là công cụ để thực hiện hành vi gian dối nhằm lừa đảo và chiếm đoạt tài sản của công ty.
15 Ts Trần Thị Quang Vinh, Ts Vũ Thị Thúy (2018), Luật hình sự Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr 478
Tội phạm chiếm đoạt tài sản thường diễn ra khi người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí của mình để chuyển dịch tài sản một cách bất hợp pháp từ chủ sở hữu sang tài sản của bản thân hoặc tổ chức, cá nhân khác Hành vi này thể hiện sự lạm dụng quyền hạn và có thể được thực hiện qua nhiều thủ đoạn khác nhau, gây thiệt hại nghiêm trọng cho quyền lợi của chủ sở hữu.
Người phạm tội lợi dụng chức vụ và quyền hạn để vi phạm nguyên tắc quản lý tài sản, dẫn đến việc chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý Hành vi này có thể bao gồm việc thủ quỹ tự ý lấy tiền từ quỹ để tiêu xài cá nhân, hoặc thủ kho lấy tài sản trong kho để bán ra ngoài Những hành động này không chỉ vi phạm chế độ quản lý tài sản mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng cho tổ chức.
+Người phạm tội có hành vi làm trái với chức trách, nhiệm vụ của mình để chiếm đoạt tài sản.
Người phạm tội lợi dụng quyền quyết định để ép buộc người khác chuyển giao tài sản cho mình, như trường hợp Chủ tịch UBND xã yêu cầu thủ quỹ đưa tiền Hành vi này có thể diễn ra từ những người đứng đầu cơ quan, tổ chức hoặc từ những cá nhân được giao nhiệm vụ có quyền tự quyết trong công vụ.
Thủ đoạn tham ô tài sản của người có chức vụ, quyền hạn thường lợi dụng chức vụ để chiếm đoạt tài sản trái pháp luật, biến tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc công dân thành của riêng Hành vi này có nhiều điểm tương đồng với các tội phạm như trộm cắp, công nhiên chiếm đoạt, lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm Các thủ đoạn này thường diễn ra lén lút, bí mật hoặc công khai với mục đích chiếm đoạt tài sản mà họ có trách nhiệm quản lý.
Bài viết của Trần Văn Luyện, Phùng Thế Vắc, Lê Văn Thư, Nguyễn Mai Bộ, Phạm Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Hà và Phạm Thị Thu (2018) tập trung vào việc bình luận khoa học về Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 2017, đặc biệt là phần liên quan đến các tội phạm Tài liệu này được xuất bản bởi NXB Công an Nhân dân và cung cấp những phân tích sâu sắc về các quy định pháp lý hiện hành.
Hậu quả của tội tham ô tài sản bao gồm thiệt hại vật chất và phi vật chất đối với cơ quan, tổ chức và xã hội Thiệt hại chính là tổn thất về tài sản, bên cạnh đó còn có những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động bình thường, sự đúng đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức.
Tội tham ô tài sản được coi là hoàn thành khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản Tuy nhiên, thời điểm hoàn thành tội phạm còn phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cán bộ quản lý tài sản, như thủ kho hay thủ quỹ, những người có trách nhiệm trực tiếp với tài sản Ngoài ra, các lãnh đạo cơ quan, tổ chức cũng có trách nhiệm gián tiếp trong việc quản lý tài sản Do đó, tội phạm có thể được xem là hoàn thành khi tài sản bị đưa ra khỏi nơi cất giữ hoặc khi người phạm tội nhận được tài sản một cách trái pháp luật.
Hành vi tham ô tài sản và lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản có những điểm khác biệt quan trọng Tham ô tài sản là việc sử dụng chức vụ để biến tài sản quản lý thành tài sản cá nhân, vi phạm trách nhiệm và quy định quản lý tài sản, với tài sản chiếm đoạt thường thuộc về Nhà nước, cơ quan, tổ chức hoặc doanh nghiệp Ngược lại, lạm dụng chức vụ, quyền hạn là việc sử dụng quyền lực để thực hiện hành vi vượt quá trách nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, có thể thông qua uy hiếp hoặc lừa dối, và tài sản chiếm đoạt thường là của người khác dưới sự quản lý của họ.
Hành vi tham ô tài sản là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố Để được coi là tham ô, người có chức vụ phải có những hành động vi phạm liên quan đến tài sản.
Bài viết của Trần Văn Luyện, Phùng Thế Vắc, Lê Văn Thư, Nguyễn Mai Bộ, Phạm Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Hà và Phạm Thị Thu (2018) đã cung cấp những phân tích sâu sắc về Bộ luật hình sự năm 2015, bao gồm các sửa đổi và bổ sung năm 2017 Tài liệu này, được xuất bản bởi NXB Công an Nhân dân, tập trung vào phần các tội phạm, mang lại cái nhìn toàn diện và chi tiết về các quy định pháp luật hiện hành.
Bài viết của 18 tác giả, bao gồm Trần Văn Luyện, Phùng Thế Vắc, Lê Văn Thư, Nguyễn Mai Bộ, Phạm Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Hà và Phạm Thị Thu (2018), đã phân tích một cách khoa học Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với trọng tâm là các tội phạm Nội dung chính của nghiên cứu nhấn mạnh việc lợi dụng chức vụ và quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà cá nhân có trách nhiệm quản lý, qua đó làm rõ các khía cạnh pháp lý liên quan đến vấn đề này.
Thực tiễn xác định hành vi tham ô tài sản
Hiện nay, nhiều cơ quan tiến hành tố tụng vẫn xác định sai bản chất của hành vi tham ô tài sản, đặc biệt là về khái niệm “chiếm đoạt tài sản” và thời điểm cấu thành tội phạm Điều này đã dẫn đến một số vụ án đáng chú ý trong thực tiễn.
Nguyễn Thanh Đ, giáo viên Trường tiểu học LK, được giao nhiệm vụ thủ quỹ theo quyết định số 05 vào ngày 16/01/2008, với trách nhiệm quản lý quỹ của trường Ngày 20/01/2011, do thiếu tiền lương và phụ cấp cho tháng 01 và 02 năm 2011 trước Tết Nguyên đán, trường đã xin tạm ứng Hiệu trưởng Nguyễn Văn H đã ký giấy rút dự toán ngân sách số 01/01, tổng số tiền 281.348.000đ, bao gồm lương cán bộ, giáo viên 163.257.948đ, phụ cấp ưu đãi 54.390.840đ, và kinh phí hoạt động 63.699.212đ Nguyễn Thanh Đ đã trực tiếp rút số tiền này tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ.
Sau khi rút tiền, bị cáo Nguyễn Thanh Đ đã đến Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Đ để nộp hộ cho ông Nguyễn Văn H số tiền gốc và lãi vay 1.041.000đ vào tháng 01/2011 Đồng thời, bị cáo cũng nộp lại 78.686.525đ cho Kho bạc Nhà nước huyện Đ, đây là số tiền gốc và lãi vay của cán bộ, giáo viên trường đã vay từ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi nhánh huyện Đ trong tháng 01 và 02 năm 2011 Kho bạc Nhà nước huyện Đ thu hộ số tiền này theo hợp đồng ủy nhiệm thu nợ Ngoài ra, ông Trương Văn K, Phó Hiệu trưởng Trường tiểu học LK, đã mượn 5.000.000đ từ số tiền nhận tại Kho bạc.
Số tiền còn lại 196.620.475đ (trong đó có tiền lương, tiền phụ cấp ưu đãi tháng 01 và 02 của bị cáo đương nhiên được nhận là 5.323.890đ) bị cáo Nguyễn
19 Bản án số 36/2021/HS-PT ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Thanh Đ không đem về trường mà bỏ trốn với số tiền Ngân sách bị chiếm đoạt là 191.296.585đ.
Trong quá trình bỏ trốn, bị cáo Nguyễn Thanh Đ đã chiếm đoạt số tiền 45.500.000đ từ quỹ học sinh nghèo theo chương trình 135 của Chính phủ năm 2010, cùng với 5.012.910đ từ khoản trích 02% bảo hiểm xã hội của cán bộ, giáo viên nhà trường trong các tháng 10, 11 và 12 năm 2010.
Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HS-ST ngày 04/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Đ phạm tội "Tham ô tài sản" Sau phiên xét xử sơ thẩm, vào ngày 18/3/2021, bị cáo Nguyễn Thanh Đ đã kháng cáo với yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và xin giảm nhẹ trách nhiệm dân sự.
Theo quan điểm của tác giả:
Bị cáo Nguyễn Thanh Đ đã thực hiện hành vi tham ô tài sản khi rút 281.348.000 đồng từ Kho bạc Nhà nước huyện Đ Sau khi nộp các khoản tiền như lãi vay cho ông Nguyễn Văn H, số tiền gốc và lãi vay của cán bộ, giáo viên nhà trường, và cho ông Trương Văn K mượn 5.000.000 đồng, Nguyễn Thanh Đ đã bỏ trốn và chiếm đoạt số tiền còn lại để tiêu xài cá nhân Hành vi phạm tội đã hoàn thành từ thời điểm này Trong quá trình bỏ trốn, Đ còn chiếm đoạt thêm 45.500.000 đồng tiền kinh phí học sinh nghèo theo chương trình 135 và 5.012.910 đồng từ tiền bảo hiểm xã hội của cán bộ, giáo viên nhà trường.
Vụ án thứ hai liên quan đến Đinh Thị L, người được giao nhiệm vụ làm thủ kho vật tư hành chính văn phòng phẩm của Công ty T Vào ngày 18/12/2019, Công ty T đã ký hợp đồng với Công ty P về việc cung cấp vật tư.
Bản án số 13/2021/HS-PT, ban hành vào ngày 17/3/2021 bởi Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam, liên quan đến vụ việc cung ứng máy tính và máy văn phòng Vào ngày 11/3/2020, Công ty T đã đặt hàng 60 hộp mực máy phô tô loại MP3055 từ Công ty P với giá 1.620.000đ mỗi hộp Tiếp đó, vào ngày 13/3/2020, Công ty T tiếp tục đặt mua 30 hộp mực máy phô tô Fuji V4070 với đơn giá 1.680.000đ mỗi hộp.
Đinh Thị L, do nhu cầu tài chính cá nhân, đã quyết định chiếm đoạt một số hộp mực trong đơn đặt hàng của Công ty nhằm mục đích trục lợi.
T, trong quá trình trao đổi thỏa thuận với P qua điện thoại, L nói với P “cho chị gửi lại 20 hộp, có gì nói chuyện sau” Hiểu ý L bảo P bớt lại 20 hộp mực khi giao hàng, song trong phiếu giao hàng vẫn ghi đủ số lượng như trong đơn đặt hàng, do nể L là người đại diện của khách hàng nên P đồng ý.
Vào ngày 11/3/2020, P đã chuyển 05 hộp mực MP3055 đến Công ty T để thử nghiệm Đến ngày 19/3/2020, P tiếp tục gửi 20 hộp mực Fuji và lập phiếu giao hàng ghi số lượng 30 hộp HMV4070 Khi kiểm tra, L phát hiện số lượng thực tế không đủ và đã thỏa thuận trước với P Để tránh bị phát hiện, L yêu cầu chị Nguyễn Thị H không mở thùng hàng và đóng dấu "Đã vào cổng" Sau đó, L ký xác nhận vào hai phiếu giao hàng và lập biên bản nghiệm thu hàng hóa với số lượng 30 hộp mực Fuji V4070, hoàn tất thủ tục nhập kho P khai rằng 10 hộp mực còn lại đã được bán cho một số người khác.
P không nhớ tên tuổi địa chỉ Tương tự như trên, ngày 30/3/2020, P giao cho công ty
Vào ngày 06/4/2020, P đã trả lại 5 hộp mực MP3055 cho Công ty T&D, mặc dù trong phiếu giao hàng ghi là 50 hộp Đến ngày 09/5/2020, khi biết Công ty T sẽ kiểm tra vật tư, L đã gọi điện yêu cầu P mang vào 10 hộp mực Fuji V4070 nhằm che giấu hành vi sai trái của mình.
Vào ngày 10/5/2020, P đã liên hệ với Công ty T&D để đặt mua 10 hộp mực Fuji V4070 và 10 hộp mực MP3055 nhằm bổ sung vào kho vật tư văn phòng phẩm Để khắc phục hậu quả, Công ty T&D đã nhanh chóng chuyển giao 10 hộp mực MP3055 cho L sau khi nhận hàng từ Công ty Đông Á vào chiều cùng ngày.
Vào ngày 11/5/2020, Công ty T đã kiểm tra kho vật tư và phát hiện 20 hộp mực các loại chưa dán tem của Công ty T&D, bao gồm 10 hộp mực V4070 không có tem nhãn hiệu và 10 hộp mực MP3055 dán tem của Công ty Đông Á Tại kho văn phòng hành chính, có 18 hộp mực V4070 dán tem “BOE” từ Công ty T&D, 10 hộp V4070 không có tem, và 44 hộp MP3055 có tem của Công ty T&D Tại kho nhà 8 tầng, có 10 hộp MP3055 dán tem “Đông Á, 10/5/2020” Do phát hiện 10 hộp mực V4070 và 10 hộp MP3055 không đúng thông số kỹ thuật và số lượng nhập xuất kho, Công ty T đã báo cáo sự việc cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.
Tòa án nhân dân huyện T đã ra Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2021/HS-ST vào ngày 15/01/2021, tuyên bố các bị cáo Đinh Thị L và Trịnh Thế P phạm tội "Tham ô tài sản".
Kiến nghị hướng dẫn xác định dấu hiệu khách quan của tội tham ô tài sản
Hành vi khách quan của tội tham ô tài sản liên quan đến việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà người phạm tội quản lý Nghiên cứu thực tiễn cho thấy việc xác định mặt khách quan của tội này còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc nhận diện hành vi khách quan, dẫn đến sai sót trong việc định tội danh.
Quá trình định tội danh trong các vụ án tham nhũng, đặc biệt là tội tham ô tài sản, vẫn còn nhiều ý kiến trái chiều Điều này xuất phát từ việc các tội phạm tham nhũng có những đặc điểm tương đồng, với các đối tượng phạm tội thường là những người có chức vụ và quyền hạn.
Xác định dấu hiệu khách quan của người phạm tội là yếu tố quan trọng giúp cơ quan tiến hành tố tụng và các bên liên quan nhận diện chính xác tội danh trong nhóm tội phạm tham nhũng Đặc biệt, với các tội như tham ô tài sản, việc nhận diện này càng cần thiết do chủ thể phạm tội thường là những người có chức vụ, quyền hạn.
Tội tham ô tài sản xảy ra khi người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí của mình để chiếm đoạt tài sản mà họ có trách nhiệm quản lý Hành vi này liên quan đến việc chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, cơ quan hoặc tổ chức mà người đó trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, thông qua việc lạm dụng quyền hạn của mình.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thể hiện qua hành vi gian dối sau khi chủ thể nhận tài sản một cách hợp pháp, thông qua các hình thức hợp đồng Sau khi nhận tài sản với mục đích chiếm đoạt, chủ thể không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận, mà sử dụng thủ đoạn gian dối để từ chối trả lại tài sản hoặc thực hiện nghĩa vụ đã cam kết.
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản xảy ra khi người phạm tội lợi dụng vị trí của mình để chiếm đoạt tài sản không thuộc quyền quản lý của họ Hành vi này chỉ có thể thực hiện được nhờ vào chức vụ và quyền hạn mà họ đang nắm giữ; nếu không có những yếu tố này, việc chiếm đoạt tài sản sẽ không thể xảy ra.
Hành vi khách quan của tội tham ô tài sản được định nghĩa là việc người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí của mình để chiếm đoạt tài sản mà họ có trách nhiệm quản lý Nếu cá nhân đó không có trách nhiệm quản lý tài sản, thì hành vi này sẽ không cấu thành tội phạm.
Thứ ba, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các cơ quan tiến hành tố tụng còn lúng túng, vướng mắc trong một số trường hợp:
Việc xác định sai bản chất của hành vi tham ô tài sản, cụ thể là khái niệm "chiếm đoạt tài sản", dẫn đến sai lệch trong việc xác định thời điểm cấu thành tội phạm và có nguy cơ bỏ lọt tội phạm Hạn chế trong việc nhận diện hành vi chiếm đoạt trong giai đoạn điều tra khiến cho quá trình xét xử không thể chứng minh rõ ràng hành vi này, dẫn đến Tòa án phải xác định tội danh khác Ví dụ, trong Bản án sơ thẩm số 40/2010 HSST ngày 04/02/2010 của TAND thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Đặng Nam T bị truy tố về tội tham ô tài sản theo Điểm a Khoản 4 Điều 278 BLHS.
Năm 1999, các cơ quan có thẩm quyền không đủ chứng cứ để chứng minh bị cáo T chiếm đoạt 1.300.000.000 đồng của Công ty IDC, chỉ có thể xác minh bị cáo T vi phạm nguyên tắc tài chính gây thiệt hại cho công ty với số tiền tương ứng Tòa án đã tuyên án bị cáo T phạm tội cố ý làm trái quy định về quản lý kinh tế theo khoản 3 Điều 165 BLHS năm 1999 Trong trường hợp chưa làm rõ hành vi chiếm đoạt tài sản, Tòa án cấp phúc thẩm đã hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại Ví dụ, tại Bản án phúc thẩm số 464/2014/HSPT, Tòa phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM đã xem xét vụ án của bị cáo Lê Tuấn K, trong đó bản án sơ thẩm quy kết bị cáo chiếm đoạt 50.000.000 đồng nhưng chưa làm rõ liệu số tiền này có được sử dụng để mua sắm tài sản cho cơ quan hay không, dẫn đến việc cấp phúc thẩm không thể bổ sung thông tin và tuyên hủy phần này của bản án sơ thẩm.
Việc xử lý tội phạm tham ô tài sản trong lĩnh vực tư gặp khó khăn do thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể, dẫn đến nhiều vụ việc thực chất là tham nhũng nhưng lại bị xử lý dưới các tội danh khác như vi phạm quy định về cho vay Tại tỉnh B, một vụ việc liên quan đến cán bộ ngân hàng đã vi phạm quy định cho vay, nhưng không xác định được thiệt hại và do đó vụ án bị đình chỉ Tuy nhiên, theo chỉ đạo của Trung ương, vụ án đã được phục hồi điều tra và chuyển sang tội tham ô tài sản, với 6 bị can bị khởi tố Việc tách bạch các trường hợp tham nhũng sẽ giúp cải thiện tính khả thi trong việc xử lý hành vi tham ô tài sản trong lĩnh vực tư.
Việc xác định các dấu hiệu khách quan của tội tham ô tài sản là rất quan trọng, giúp nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm Điều này không chỉ giúp tránh oan sai mà còn ngăn chặn việc bỏ lọt tội phạm.
Trên cơ sở phân tích trên, tác giả có một số kiến nghị cụ thể như sau:
Thứ nhất, hướng dẫn xác định hành vi khách quan của tội tham ô tài sản cụ thể theo những hướng sau:
Để chứng minh hành vi chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, cần xác định rõ ràng rằng người thực hiện hành vi đã chuyển giao bất hợp pháp tài sản mà họ quản lý thành tài sản của riêng họ hoặc cho tổ chức khác Điều này không chỉ yêu cầu chứng minh rằng chủ sở hữu đã mất quyền sở hữu thực tế (bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt), mà còn phải chứng minh rằng quyền sở hữu tài sản đã chuyển giao cho người phạm tội Việc quản lý tài sản bao gồm cả chiếm hữu và sử dụng, do đó dễ gây nhầm lẫn với hành vi chiếm đoạt trái pháp luật Nếu chỉ chứng minh được rằng chủ sở hữu mất quyền sở hữu mà không chứng minh được quyền sở hữu đã chuyển sang người phạm tội, thì sẽ không đủ căn cứ để xác định hành vi chiếm đoạt tài sản.
25 Vụ án đang trong quá trình điều tra, xin phép được bảo mật thông tin.
Hành vi chiếm đoạt tài sản không chỉ bao gồm việc chuyển dịch tài sản cho người quản lý mà còn cho người hoặc tổ chức khác có mối quan hệ với họ, nhằm đảm bảo thống nhất với Công ước Liên Hiệp Quốc về chống tham nhũng Theo Điều 17 của Công ước, các quốc gia thành viên phải quy định hành vi tham ô, biển thủ hoặc chiếm đoạt tài sản do công chức quản lý là tội phạm Hướng dẫn này giúp xác định rõ ràng các trường hợp chuyển dịch tài sản cho người thân hoặc bạn bè của người phạm tội, vẫn được coi là hành vi chiếm đoạt tài sản nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác Việc bổ sung hướng dẫn này sẽ hạn chế việc bỏ lọt tội phạm khi người vi phạm cố tình che giấu hành vi chiếm đoạt thông qua việc chuyển giao tài sản cho người khác hoặc tổ chức khác.
Hướng dẫn về hành vi khách quan của tội tham ô tài sản cần phân biệt rõ giữa tham ô trong lĩnh vực công và tư Mối quan hệ công - tư trong hoạt động mua sắm công đã tạo ra nhiều cơ hội cho tham nhũng, đặc biệt là tham ô tài sản Các vụ án tham nhũng liên quan đến hợp đồng giữa doanh nghiệp nhà nước và khu vực tư ngày càng phức tạp, khó phát hiện và nghiêm trọng Những hành vi tham ô dưới hình thức "chi phí không chính thức" trong khu vực tư đang gia tăng, dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng Do đó, cần có văn bản hướng dẫn để giải quyết tình trạng này.
26 TS Đinh Văn Minh, TS Phạm Thị Huệ (2016), Vấn đề tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay, NXB Tư pháp, tr 98.
Tội tham ô tài sản được thể hiện qua hành vi lợi dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt tài sản Người phạm tội phải có hành vi chiếm đoạt liên quan trực tiếp đến chức vụ và quyền hạn của mình Nếu hành vi chiếm đoạt không liên quan đến chức vụ, quyền hạn thì dù có chức vụ, quyền hạn, người đó cũng không bị coi là tham ô tài sản.