1.1 Quy định của Luật hình sự Việt Nam về hành vi khách quan của tội tham ô tài sản
Tội tham ô tài sản được cấu thành từ các yếu tố vật chất, bao gồm hành vi khách quan, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa chúng Trong nhóm tội phạm về chức vụ, hành vi khách quan là yếu tố quan trọng để phân biệt tội tham ô tài sản với các tội phạm khác Cụ thể, hành vi khách quan của tội này là "chiếm đoạt tài sản" mà người có chức vụ, quyền hạn có trách nhiệm quản lý Đặc trưng của tội tham ô tài sản là việc chiếm đoạt tài sản thông qua việc lợi dụng chức vụ và quyền hạn của mình Các dấu hiệu cụ thể của hành vi khách quan trong tội tham ô tài sản cần được xác định rõ ràng.
Hành vi tham ô tài sản được xác định khi người phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản Việc chiếm đoạt này phải có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của họ; nếu không có chức vụ, quyền hạn, họ sẽ không thể thực hiện hành vi này Do đó, chức vụ, quyền hạn là điều kiện tiên quyết để thực hiện hành vi tham ô Nếu người có chức vụ thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản mà không liên quan đến chức vụ của họ, thì họ sẽ không bị coi là tham ô tài sản, bất kể họ có chức vụ hay không.
Nguyễn Văn A, thủ quỹ công ty X, gặp khó khăn tài chính do nợ nần từ việc chơi hụi Để giải quyết, A và vợ Đào Thị T đã sử dụng giấy tờ nhà làm tài sản thế chấp để vay 800 triệu đồng từ công ty với mục đích đầu tư nuôi tôm Sau khi nhận được tiền, họ đã trả nợ cho các chủ nợ, nhưng đến hạn, vợ chồng A lại không thể thanh toán.
Công ty mới phát hiện hồ sơ mà vợ chồng A thế chấp là giả, mặc dù A nắm giữ chức vụ và có trách nhiệm quản lý tài sản A không lợi dụng quyền hạn để chiếm đoạt tài sản trực tiếp, mà chỉ sử dụng chức vụ để thuyết phục giám đốc công ty cho vay tiền Chức vụ của A thực chất chỉ là phương tiện để thực hiện hành vi gian dối, lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của công ty.
15 Ts Trần Thị Quang Vinh, Ts Vũ Thị Thúy (2018), Luật hình sự Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr 478
KHÁCH QUAN CỦA TỘI THAM Ô TÀI SẢN
Quy định của Luật hình sự Việt Nam về hành vi khách quan của tội tham ô tài sản
Tội tham ô tài sản được cấu thành từ hành vi khách quan, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hai yếu tố này Trong nhóm tội phạm về chức vụ, hành vi khách quan là yếu tố quan trọng để phân biệt tội tham ô tài sản với các tội phạm khác Hành vi này bao gồm việc "chiếm đoạt tài sản" của người có chức vụ, quyền hạn trong quá trình quản lý Đặc trưng của tội tham ô tài sản là việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, và các dấu hiệu cụ thể của hành vi này cần được xác định rõ ràng.
Hành vi tham ô tài sản xảy ra khi người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí của mình để chiếm đoạt tài sản Việc chiếm đoạt này phải có liên quan trực tiếp đến chức vụ, quyền hạn của người phạm tội; nếu không có chức vụ, quyền hạn, họ sẽ không thể thực hiện hành vi này Do đó, chức vụ và quyền hạn là điều kiện tiên quyết để thực hiện hành vi tham ô Nếu người có chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản mà không liên quan đến chức vụ của họ, thì họ sẽ không bị coi là tham ô.
Nguyễn Văn A, thủ quỹ của công ty X, đã rơi vào tình trạng nợ nần do chơi hụi và không còn khả năng thanh toán Để giải quyết vấn đề tài chính, A đã thỏa thuận với vợ, Đào Thị T, sử dụng giấy tờ nhà làm tài sản thế chấp để vay 800.000.000 đồng từ công ty với mục đích đầu tư nuôi tôm Sau khi nhận được khoản vay, vợ chồng A đã dùng tiền để trả nợ cho các chủ nợ, nhưng khi đến hạn, họ lại không thể thanh toán.
Công ty đã phát hiện rằng bộ hồ sơ mà vợ chồng A thế chấp là giả Mặc dù A có chức vụ và quyền hạn trong việc quản lý tài sản, nhưng A không lợi dụng quyền hạn để chiếm đoạt tài sản trực tiếp Thay vào đó, A chỉ sử dụng chức vụ của mình để thuyết phục giám đốc công ty cho vợ chồng A vay tiền Chức vụ và quyền hạn của A chỉ là công cụ để thực hiện hành vi gian dối nhằm lừa đảo và chiếm đoạt tài sản của công ty.
15 Ts Trần Thị Quang Vinh, Ts Vũ Thị Thúy (2018), Luật hình sự Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, tr 478
Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội phạm này thường diễn ra khi người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng vị trí của mình để chuyển dịch tài sản một cách bất hợp pháp từ chủ sở hữu sang tài sản của bản thân hoặc của cơ quan, tổ chức khác Hành vi này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự quản lý và uy tín của các tổ chức.
Người phạm tội lợi dụng chức vụ và quyền hạn của mình để vi phạm nguyên tắc quản lý tài sản, như việc làm sai chế độ thu chi, quản lý chứng từ và sổ sách kế toán, nhằm chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý Ví dụ điển hình là thủ quỹ tự ý lấy tiền từ quỹ để sử dụng cho mục đích cá nhân hoặc thủ kho lấy tài sản trong kho để bán ra ngoài.
+ Người phạm tội có hành vi làm trái với chức trách, nhiệm vụ của mình để chiếm đoạt tài sản
Người phạm tội lợi dụng quyền quyết định của mình để ép buộc người khác chuyển giao tài sản, ví dụ như Chủ tịch UBND xã yêu cầu thủ quỹ đưa tiền cho mình Hành vi này có thể xuất phát từ những cá nhân như thủ trưởng hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cũng như những người được giao nhiệm vụ có quyền tự quyết trong quá trình thực hiện công vụ.
Thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của người có chức vụ, quyền hạn thường liên quan đến việc lợi dụng chính chức vụ và quyền hạn của mình để biến tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc công dân thành tài sản cá nhân một cách trái pháp luật Hành vi này có những biểu hiện tương tự như trộm cắp, chiếm đoạt công nhiên, lừa đảo, và lạm dụng tín nhiệm, với các phương thức như lén lút, bí mật hoặc gian dối Do đó, tội tham ô tài sản được xem như một hình thức trộm cắp, vì những người có chức vụ, quyền hạn đã vi phạm trách nhiệm quản lý tài sản của mình.
Bình luận khoa học về Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của các tác giả Trần Văn Luyện, Phùng Thế Vắc, Lê Văn Thư, Nguyễn Mai Bộ, Phạm Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Hà và Phạm Thị Thu cung cấp cái nhìn sâu sắc về phần các tội phạm Tài liệu được xuất bản bởi NXB Công an Nhân dân, trang 769, là nguồn tham khảo quý giá cho nghiên cứu và áp dụng luật hình sự tại Việt Nam.
Hậu quả của tội tham ô tài sản bao gồm những thiệt hại vật chất và phi vật chất cho cơ quan, tổ chức và xã hội Thiệt hại chính là mất mát về tài sản, bên cạnh đó còn có những ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động bình thường, uy tín và sự chính xác trong hoạt động của cơ quan, tổ chức.
Tội tham ô tài sản được coi là hoàn thành khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản Tuy nhiên, thời điểm hoàn thành tội phạm còn phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cán bộ quản lý tài sản, như thủ kho, thủ quỹ, hay người đứng đầu cơ quan Do đó, tội phạm có thể được xem là hoàn thành khi tài sản bị đưa ra khỏi kho hoặc khi người phạm tội nhận tài sản từ người khác một cách trái pháp luật.
Hành vi tham ô tài sản và lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản có những điểm khác biệt quan trọng Tham ô tài sản là việc sử dụng chức vụ để biến tài sản mình quản lý thành tài sản cá nhân, thường thông qua việc thực hiện không đúng chức trách hoặc vượt quá quyền hạn để chiếm đoạt tài sản thuộc về Nhà nước, cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp Ngược lại, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản liên quan đến việc sử dụng quyền lực để thực hiện những hành vi vượt ngoài trách nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, có thể bao gồm việc uy hiếp hoặc lừa dối chủ sở hữu tài sản, trong đó tài sản bị chiếm đoạt thường thuộc quyền quản lý của người khác, kể cả tài sản của Nhà nước.
Hành vi tham ô tài sản là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp của nhiều dấu hiệu để xác định Đặc biệt, người có chức vụ phải có trách nhiệm trong việc thực hiện hành vi này.
Bài viết của Trần Văn Luyện, Phùng Thế Vắc, Lê Văn Thư, Nguyễn Mai Bộ, Phạm Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Hà và Phạm Thị Thu (2018) trình bày những phân tích khoa học về Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 2017, với trọng tâm là phần các tội phạm Nguồn tài liệu này được xuất bản bởi NXB Công an Nhân dân, trang 769.
Bài viết của 18 tác giả, bao gồm Trần Văn Luyện, Phùng Thế Vắc, Lê Văn Thư, Nguyễn Mai Bộ, Phạm Thanh Bình, Nguyễn Ngọc Hà và Phạm Thị Thu (2018), đã bình luận khoa học về Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tập trung vào phần các tội phạm Nguồn tài liệu này, xuất bản bởi NXB Công an Nhân dân, chỉ ra rằng có những trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt tài sản mà họ có trách nhiệm quản lý.
Thực tiễn xác định hành vi tham ô tài sản
Hiện nay, nhiều cơ quan tiến hành tố tụng vẫn xác định sai bản chất của hành vi tham ô tài sản, đặc biệt là trong việc hiểu rõ khái niệm “chiếm đoạt tài sản” và thời điểm cấu thành tội phạm Một số vụ án thực tế đã cho thấy những sai lầm này.
Nguyễn Thanh Đ, giáo viên tại Trường tiểu học LK, được giao nhiệm vụ thủ quỹ theo quyết định số 05 ngày 16/01/2008, có trách nhiệm quản lý quỹ thu chi của trường Vào ngày 20/01/2011, do chưa có tiền lương và phụ cấp cho tháng 01 và tháng 02, trường đã xin tạm ứng trước Hiệu trưởng Nguyễn Văn H đã ký giấy rút dự toán ngân sách số 01/01, với tổng số tiền 281.348.000đ, bao gồm lương tháng 01 và 02 là 163.257.948đ, phụ cấp ưu đãi 54.390.840đ, và kinh phí hoạt động 63.699.212đ Nguyễn Thanh Đ đã trực tiếp rút số tiền này tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ.
Sau khi rút tiền, bị cáo Nguyễn Thanh Đ đã nộp 1.041.000đ cho ông Nguyễn Văn H tại Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Đ vào tháng 01/2011, bao gồm cả gốc và lãi vay Đồng thời, Đ cũng nộp lại 78.686.525đ cho Kho bạc Nhà nước huyện Đ, đây là số tiền gốc và lãi vay của cán bộ, giáo viên nhà trường từ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn trong tháng 01 và 02 năm 2011 Kho bạc Nhà nước huyện Đ đã thu hộ số tiền này theo hợp đồng ủy nhiệm thu nợ Ngoài ra, Đ cũng đã cho ông Trương Văn K, Phó Hiệu trưởng Trường tiểu học LK, mượn 5.000.000đ từ số tiền nhận tại Kho bạc.
Số tiền còn lại 196.620.475đ (trong đó có tiền lương, tiền phụ cấp ưu đãi tháng 01 và 02 của bị cáo đương nhiên được nhận là 5.323.890đ) bị cáo Nguyễn
19 Bản án số 36/2021/HS-PT ngày 25/6/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
Thanh Đ không đem về trường mà bỏ trốn với số tiền Ngân sách bị chiếm đoạt là 191.296.585đ
Trong quá trình bỏ trốn, bị cáo Nguyễn Thanh Đ đã chiếm đoạt số tiền 45.500.000đ từ quỹ học sinh nghèo theo chương trình 135 của Chính phủ năm 2010, cùng với 5.012.910đ là số tiền Bảo hiểm xã hội trích lại 02% từ tổng số tiền mà cán bộ, giáo viên nhà trường đóng bảo hiểm xã hội trong các tháng 10, 11 và 12/2010.
Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2021/HS-ST ngày 04/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh Đ phạm tội "Tham ô tài sản" Sau phiên xét xử, vào ngày 18/3/2021, bị cáo đã kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt và xin giảm nhẹ trách nhiệm dân sự.
Theo quan điểm của tác giả:
Bị cáo Nguyễn Thanh Đ đã thực hiện hành vi tham ô tài sản khi rút 281.348.000 đồng từ Kho bạc Nhà nước huyện Đ, chỉ nộp lại một phần cho các khoản vay và mượn tiền, trong khi số tiền còn lại đã bị Đ chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân Cụ thể, Đ đã nộp 1.041.000 đồng lãi vay cho ông Nguyễn Văn H, 78.686.525 đồng cho Kho bạc Nhà nước huyện Đ, và cho ông Trương Văn K mượn 5.000.000 đồng, nhưng đã bỏ trốn với số tiền còn lại Trong thời gian trốn chạy, Đ cũng chiếm đoạt thêm 45.500.000 đồng tiền hỗ trợ học sinh nghèo và 5.012.910 đồng tiền bảo hiểm xã hội của cán bộ, giáo viên nhà trường.
Vụ án thứ hai 20 liên quan đến Đinh Thị L, người được giao nhiệm vụ làm thủ kho vật tư hành chính văn phòng phẩm tại Công ty T Vào ngày 18/12/2019, Công ty T đã ký hợp đồng với Công ty P để thực hiện các giao dịch liên quan.
Vào ngày 11/3/2020, Công ty T đã đặt hàng 60 hộp mực máy photocopy MP3055 từ Công ty P với giá 1.620.000đ mỗi hộp Tiếp đó, vào ngày 13/3/2020, Công ty T tiếp tục đặt mua 30 hộp mực Fuji V4070 với đơn giá 1.680.000đ mỗi hộp Bản án số 13/2021/HS-PT ngày 17/3/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam liên quan đến vụ việc cung ứng máy tính và máy văn phòng.
Đinh Thị L, do cần tiền cho chi tiêu cá nhân, đã nảy sinh ý định chiếm đoạt một số hộp mực trong đơn đặt hàng của Công ty để hưởng lợi.
T, trong quá trình trao đổi thỏa thuận với P qua điện thoại, L nói với P “cho chị gửi lại 20 hộp, có gì nói chuyện sau” Hiểu ý L bảo P bớt lại 20 hộp mực khi giao hàng, song trong phiếu giao hàng vẫn ghi đủ số lượng như trong đơn đặt hàng, do nể L là người đại diện của khách hàng nên P đồng ý
Vào ngày 11/3/2020, P đã giao 05 hộp mực MP3055 cho Công ty T để thử nghiệm Đến ngày 19/3/2020, P tiếp tục chuyển 20 hộp mực Fuji nhưng lập phiếu giao hàng ghi 30 hộp HMV4070 Khi kiểm đếm, L biết không đủ số lượng nên đã yêu cầu chị Nguyễn Thị H không mở thùng, dẫn đến việc L ký xác nhận vào phiếu giao hàng với số lượng không đúng thực tế L lập biên bản giao nhận hàng hóa và nhập kho 30 hộp mực Fuji, trong khi 10 hộp còn lại P khai bán cho người khác mà không nhớ tên Ngày 30/3/2020, P tiếp tục giao 45 hộp mực MP3055 nhưng lập phiếu ghi 50 hộp, và sau đó trả lại 5 hộp cho Công ty T&D Đến ngày 09/5/2020, khi biết Công ty T sẽ kiểm tra, L đã yêu cầu P mang vào 10 hộp mực Fuji V4070 để tránh bị phát hiện.
Vào ngày 10/5/2020, P đã liên hệ với Công ty T&D để đặt mua 10 hộp mực Fuji V4070 và 10 hộp mực MP3055 nhằm bổ sung vào kho vật tư văn phòng phẩm Để khắc phục hậu quả, Công ty T&D đã nhanh chóng chuyển 10 hộp mực loại MP3055 cho L sau khi nhận hàng từ Công ty Đông Á vào cùng ngày.
Vào ngày 11/5/2020, Công ty T tiến hành kiểm tra kho vật tư và phát hiện 20 hộp mực không đúng quy định, bao gồm 10 hộp mực V4070 không có tem nhãn hiệu và 10 hộp mực MP3055 dán tem của Công ty Đông Á đề ngày 10/5/2020 Tại kho văn phòng hành chính, có 18 hộp mực V4070 dán tem “BOE” từ Công ty T&D, 10 hộp V4070 không có tem, và 44 hộp MP3055 dán tem của Công ty T&D Tại kho nhà 8 tầng, có 10 hộp MP3055 dán tem “Đông Á, 10/5/2020” Việc phát hiện này cho thấy sự không phù hợp về thông số kỹ thuật và số lượng hàng hóa, dẫn đến việc Công ty T đã báo cáo sự việc.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T
Tòa án nhân dân huyện T đã ban hành Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2021/HS-ST vào ngày 15/01/2021, tuyên bố các bị cáo Đinh Thị L và Trịnh Thế P phạm tội "Tham ô tài sản".
Vào ngày 28/01/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã ban hành Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKSTL, trong đó kháng nghị về phần tội danh của Bản án số 03/2021/HS-ST, được tuyên án vào ngày 15/01/2021 bởi Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh.
Kiến nghị hướng dẫn xác định dấu hiệu khách quan của tội tham ô tài sản
Hành vi khách quan của tội tham ô tài sản liên quan đến việc lợi dụng chức vụ để chiếm đoạt tài sản mà người phạm tội quản lý Nghiên cứu thực tiễn cho thấy việc xác định mặt khách quan của tội tham ô còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc nhận diện hành vi khách quan, dẫn đến sai sót trong việc định tội danh.
Quá trình định tội danh trong lĩnh vực tham nhũng, đặc biệt là giữa tội tham ô tài sản và các tội danh khác, vẫn đang gây ra nhiều tranh cãi Điều này xuất phát từ việc các tội phạm tham nhũng thường có những đặc điểm tương đồng, với các đối tượng phạm tội thường là những người có chức vụ và quyền hạn.
Việc xác định các dấu hiệu khách quan của người phạm tội là rất quan trọng, giúp cơ quan tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng nhận diện chính xác tội danh của các đối tượng trong nhóm tội phạm tham nhũng Đặc biệt, nhóm tội phạm này thường liên quan đến những người có chức vụ, quyền hạn, như trong trường hợp tội tham ô tài sản.
Tội tham ô tài sản xảy ra khi người có chức vụ và quyền hạn lợi dụng vị trí của mình để chiếm đoạt tài sản mà họ có trách nhiệm quản lý Hành vi này bao gồm việc chiếm đoạt tài sản của Nhà nước, cơ quan hoặc tổ chức mà họ đang trực tiếp hoặc gián tiếp quản lý, thông qua việc lạm dụng chức vụ và quyền hạn của mình.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra khi một cá nhân nhận tài sản một cách hợp pháp thông qua hợp đồng, nhưng sau đó lại có ý định chiếm đoạt tài sản đó Hành vi gian dối xuất hiện khi chủ thể không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận, dẫn đến việc sử dụng các thủ đoạn gian dối để không trả lại tài sản đã nhận.
Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản xảy ra khi người phạm tội chiếm đoạt tài sản ngoài phạm vi quản lý của mình Hành vi này thường dựa vào vị trí và quyền hạn của họ, vì nếu không có chức vụ, quyền hạn, họ sẽ không thể thực hiện việc chiếm đoạt tài sản do người khác quản lý.
Hành vi khách quan của tội tham ô tài sản được định nghĩa là việc "Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý" Điều này có nghĩa là để cấu thành tội tham ô, người phạm tội phải lợi dụng chức vụ và quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản mà họ có trách nhiệm quản lý Nếu không có trách nhiệm quản lý tài sản, hành vi này sẽ không được xem là tội phạm.
Thứ ba, trong thực tiễn áp dụng pháp luật, các cơ quan tiến hành tố tụng còn lúng túng, vướng mắc trong một số trường hợp:
Việc xác định sai bản chất của hành vi tham ô tài sản dẫn đến những hiểu lầm về "chiếm đoạt tài sản" và thời điểm cấu thành tội phạm, từ đó bỏ lọt tội phạm Hạn chế trong việc xác định hành vi chiếm đoạt ở giai đoạn điều tra khiến cho việc chứng minh hành vi này tại phiên tòa trở nên khó khăn, dẫn đến việc Tòa án xác định tội danh không chính xác Ví dụ, trong Bản án sơ thẩm số 40/2010 của TAND TP Hồ Chí Minh, bị cáo Đặng Nam T bị truy tố về tội tham ô tài sản nhưng không có đủ chứng cứ để chứng minh hành vi chiếm đoạt 1.300.000.000 đồng của Công ty IDC Thay vào đó, chỉ có thể chứng minh bị cáo T đã vi phạm các nguyên tắc tài chính, dẫn đến việc Tòa án kết luận bị cáo phạm tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế.
Theo Điều 165 BLHS năm 1999, nếu hành vi chiếm đoạt tài sản chưa được làm rõ, Tòa án cấp phúc thẩm phải hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại Ví dụ, trong Bản án phúc thẩm số 464/2014/HSPT của Tòa phúc thẩm TANDTC tại Thành phố Hồ Chí Minh, vụ án của bị cáo Lê Tuấn K về tội tham ô tài sản đã được xem xét Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định rằng bản án sơ thẩm đã quy kết bị cáo K chiếm đoạt 50.000.000 đồng nhưng chưa làm rõ liệu số tiền này có được sử dụng để mua sắm tài sản cho cơ quan hay không Do đó, việc điều tra chưa đầy đủ dẫn đến quyết định hủy phần bản án sơ thẩm liên quan.
Quy định về hành vi tham ô tài sản trong lĩnh vực tư còn thiếu hướng dẫn cụ thể, dẫn đến nhiều vụ việc tham nhũng nhưng thường bị xử lý theo tội vi phạm quy định cho vay hoặc thiếu trách nhiệm Cần nghiên cứu tách bạch các trường hợp này để xử lý hiệu quả hành vi tham ô tài sản Tại tỉnh B, 25 cán bộ ngân hàng đã cấu kết với đối tượng ngoài ngân hàng để vi phạm quy định, dẫn đến quyết định khởi tố vụ án hình sự liên quan đến BIDV B Mặc dù đã xác định hành vi vi phạm quy chế cho vay, nhưng không xác định được thiệt hại và do đó vụ án ban đầu bị đình chỉ Tuy nhiên, theo chỉ đạo từ Trung ương, vụ án đã được phục hồi điều tra, chuyển sang tội tham ô tài sản và đã khởi tố 6 bị can liên quan.
Việc xác định các dấu hiệu khách quan của tội tham ô tài sản là rất quan trọng, vì nó sẽ nâng cao hiệu quả trong công tác phòng, chống tội phạm, đồng thời giúp ngăn chặn oan sai và tránh bỏ sót tội phạm.
Trên cơ sở phân tích trên, tác giả có một số kiến nghị cụ thể như sau:
Thứ nhất, hướng dẫn xác định hành vi khách quan của tội tham ô tài sản cụ thể theo những hướng sau:
Để chứng minh hành vi chiếm đoạt tài sản, cần xác định người thực hiện hành vi đã chuyển giao bất hợp pháp tài sản của Nhà nước mà họ có trách nhiệm quản lý thành tài sản của chính họ hoặc của tổ chức khác Việc này không chỉ đòi hỏi chứng minh rằng chủ sở hữu đã mất quyền sở hữu thực tế (bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt), mà còn phải chứng minh rằng quyền sở hữu tài sản đã được chuyển giao cho người phạm tội Do quản lý tài sản bao gồm cả việc chiếm hữu và sử dụng, nên dễ xảy ra nhầm lẫn với hành vi chiếm đoạt trái pháp luật Nếu chỉ chứng minh chủ sở hữu mất quyền sở hữu mà không chứng minh quyền sở hữu đã chuyển sang người phạm tội, thì sẽ không đủ cơ sở để xác định hành vi chiếm đoạt tài sản.
25 Vụ án đang trong quá trình điều tra, xin phép được bảo mật thông tin
Hành vi chiếm đoạt tài sản không chỉ đơn thuần là việc chuyển dịch tài sản chiếm đoạt thành tài sản của người quản lý, mà còn bao gồm cả việc chuyển giao tài sản cho người khác hoặc tổ chức có mối quan hệ với người quản lý Quy định này phù hợp với Công ước Liên Hiệp Quốc về chống tham nhũng, yêu cầu các quốc gia thành viên áp dụng biện pháp pháp lý để xử lý hành vi tham ô và chiếm đoạt tài sản Việc hướng dẫn này nhằm đảm bảo rằng những trường hợp chuyển giao tài sản cho người thân, bạn bè hay nhóm thành viên vẫn có thể bị xác định là hành vi chiếm đoạt tài sản, nếu đáp ứng đủ các dấu hiệu pháp lý Sự bổ sung này giúp ngăn chặn việc che giấu hành vi chiếm đoạt thông qua việc chuyển giao tài sản cho bên thứ ba hoặc nhân danh tổ chức để thực hiện hành vi chiếm đoạt.
Hướng dẫn về hành vi khách quan của tội tham ô tài sản cần phân biệt rõ giữa tham ô trong lĩnh vực công và tư Trong thời gian qua, mối quan hệ công - tư trong hoạt động mua sắm công đã trở thành môi trường thuận lợi cho tham nhũng, đặc biệt là tham ô tài sản Các vụ án tham nhũng liên quan đến hợp đồng giữa doanh nghiệp nhà nước và khu vực tư đang diễn ra phức tạp, khó phát hiện và ngày càng nghiêm trọng Những vụ việc bị phát hiện gần đây cho thấy tham ô dưới hình thức “chi phí không chính thức” thực chất là hành vi tham ô tài sản trong khu vực tư, tiềm ẩn nhiều hậu quả nghiêm trọng Do đó, cần có văn bản hướng dẫn để giải quyết vấn đề này.
26 TS Đinh Văn Minh, TS Phạm Thị Huệ (2016), Vấn đề tham nhũng trong khu vực tư ở Việt Nam hiện nay, NXB Tư pháp, tr 98
Hành vi tham ô tài sản chỉ được coi là tội phạm khi người thực hiện lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để chiếm đoạt tài sản Việc chiếm đoạt này phải có mối liên hệ trực tiếp với chức vụ, quyền hạn của người phạm tội Nếu hành vi chiếm đoạt không liên quan đến chức vụ, quyền hạn của họ, thì dù người đó có chức vụ hay quyền hạn, hành vi đó cũng không được xem là tham ô tài sản.