- Xác định được nguyên nhân gây bệnh Newcastle.
- Mô tả được triệu chứng, bệh tích bệnh Newcastle
- Chẩn đoán và đưa ra biện pháp phòng, chống bệnh Newcastle đạt hiệu quả cao.
A. Nội dung:
1.1. Xác định nguyên nhân gây bệnh
- Đặc điểm bệnh: Bệnh Newcastle hay còn gọi là bệnh gà rù là một bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan mạnh của loài gà với đặc điểm chủ yếu là gây xuất huyết, viêm loét niêm mạc đường tiêu hoá. Bệnh do một loại virut thuộc họ paramyxo gây ra.
- Nguyên nhân: Virut Newcastle là loại ARN virut, có vỏ bọc ngoài là lipit nên nó rất mẫn cảm với các chất làm tan mỡ như: ete, cloroform.
Virut có nhiều chủng gây bệnh, tuỳ theo độc lực của chúng mà người ta xếp các chủng này vào các nhóm khác nhau:
+ Nhóm Lentogene: Gồm những chủng không có độc lực hoặc độc lực thấp, chỉ có khả năng gây phản ứng nhẹ cho gà con mới nở như: Sổ mũi, hắt hơi.
Đại diện của nhóm này là chủng Lasota, B1, F. Có thể sử dụng các chủng này đẻ làm giống gốc sản xuất vacxin phòng bệnh.
+ Nhóm Mesogene: Gồm những chủng có độc lực vừa, chỉ có khả năng gây bệnh cho gà dưới 2 tháng tuổi, đặc biệt là gà dưới 6 tuần tuổi. Đại diện của nhóm này là chủng Mukterwar và chủng Herforshire. Có thể dùng các chủng này làm giống gốc để sản xuất vacxin phòng bệnh cho gà từ 2 tháng tuổi trở lên.
+ Nhóm Velogene: Gồm những chủng virut gây bệnh ngoài tự nhiên.
- Sức đề kháng: Virut có sức đề kháng tương đối yếu: trong thịt thối rữa, phân, rác, xác chết virut tồn tại không quá 24 giờ. Trong nền chuồng ẩm ướt
virut bị diệt nhanh. Các chất sát trùng thông thường đều dễ dàng tiêu diệt được virut.
- Loài mắc bệnh: Gà cảm thụ với bệnh nặng nhất rồi đến gà tây, gà càng lớn càng ít cảm thụ bệnh. Bồ câu, chim sẻ..., các loài thuỷ cầm, đặc biệt là ngỗng cũng cảm thụ với bệnh. Người có thể bị nhiễm bệnh gây viêm kết mạc mắt.
- Đường xâm nhập: Bệnh lây chủ yếu qua đường tiêu hoá: do thức ăn, nước uống có mầm bệnh hoặc gà khoẻ ăn phải chất thải khi làm thịt gà bệnh.
Bệnh còn lây trực tiếp qua da và niêm mạc.
- Cơ chế sinh bệnh: Sau khi xâm nhập vào cơ thể, nó qua niêm mạc hầu họng rồi vào máu gây nhiễm trùng máu. Từ máu virut đi đến các cơ quan phủ tạng gây viêm, hoại tử. Thành huyết quản bị phá vỡ gây xuất huyết và thâm nhiễm dịch vào các xoang trong cơ thể. Virut tác động gây rối loạn tuần hoàn và trung khu hô hấp làm cho con vật khó thở. Phần lớn gà nhiễm bệnh thường chết ở thời kỳ nhiễm trùng huyết.
1.2. Xác định triệu chứng bệnh
Gà nung bệnh từ 5-6 ngày và biểu hiện lờ đờ, kém ăn, uống nhiều nước ngực ướt, thở khó, ho. Phân lỏng màu xanh trắng có mùi tanh khẳm, đôi khi có máu, hậu môn phân ướt dính bết. Mào tím, có thể phù nề quanh đầu. Gà đẻ giảm sản lượng trứng, trứng có vỏ mềm. Tỷ lệ chết tăng dần và đạt tới 50 - 90% tùy theo đàn. Một số con không chết có triệu chứng động kinh, quay tròn, đầu rúc vào bụng.
Triệu chứng động kinh
Triệu chứng phù đầu nhắm mắt chảy nước mắt, nước mũi
Gà há miệng để thở (giống IB) Gà chảy nước mắt, nước mũi, há miệng để thở (giống IB)
Gà tụ từng nhóm bỏ ăn Gà ỉa chảy phân xanh
Gà chết tỷ lệ cao 1.3. Xác định bệnh tích
Thực quản, dạ dày tuyến và cơ, ruột, lỗ huyệt xuất huyết, lách sưng to. Khí quản, phế quản có dịch nhờn, đôi khi xuất huyết. Gà đẻ buồng trứng sung huyết và có một số trứng teo. Da chân và da lườn bình thường, vành tim bình thường.
Viêm kết mạc Khí quản, thanh quản xuất huyết
Dạ dày tuyến xuất huyết điểm Mỡ xuất huyết
Phế năng đục với dịch mầu vàng Khí quản thanh quản đỏ
Xuất huyết dạ dày tuyến đầu nối thực quản và ruột xuất huyết
Xuất huyết và viêm loét dạ dày cơ Xung huyết lỗ huyệt
Nang trứng xung huyết đỏ Buồng trứng dị hình
Viêm loét van hồi manh tràng 1.4. Chẩn đoán bệnh
- Chẩn đoán dựa vào triệu chứng và bệnh tích.
- Cần chẩn đoán phân biệt với một số bệnh:
+ Bệnh tụ huyết trùng: Quá trình xảy ra bệnh nhanh, gà chết đột ngột, gan hoại tử.
+ Bệnh viêm khí quản truyền nhiễm (IB): Tổn thương nặng đường hô hấp, khó thở nặng, không bị xuất huyết đường tiêu hoá.
+ Bệnh Gumboro: Da, cơ có những điểm xuất huyết hoạc những vệt xuất huyết, ít viêm loét đường hô hấp.
+ Chứng thiếu Vitamin: Có màng giả ở vùng hầu họng, không xuất huyết ở dạ dày và ruột.
1.5. Đƣa ra biện pháp phòng, chống bệnh
- Phòng bệnh: Bằng vacxin theo quy trình, nếu đàn gà bị dịch, xác gà phải chôn rắc vôi hoặc đun chín kỹ, lông chôn sâu, khu chuồng nuôi và dụng cụ rửa sạch, rắc vôi sau đó phun sát trùng kỹ bằng hóa chất, để chuồng nghỉ 1 - 2 tháng mới nuôi tiếp.
- Điều trị: Không có thuốc trị bệnh. Tuy nhiên phát hiện sớm thì dùng kháng thể gumboro tiêm 2 lần, mỗi lần cách nhau 3 ngày, nếu gà khỏe dần lên và không chết thì sau đó 7 - 8 ngày phải tiêm vacxin nhược độc Newcastle hệ 1 ngay theo đúng quy trình sử dụng vacxin.
B. Câu hỏi và bài tập thực hành
- Nguyên nhân gây bệnh Newcastle là gì?
- Gà bị mắc bệnh Newcastle có những biểu hiện triệu chứng gì?
- Gà bị mắc bệnh Newcastle có những bệnh tích gì?
- Cần chẩn đoán phân biệt bệnh Newcastle với những bệnh nào?
- Đưa ra biện pháp phòng trị bệnh Newcastle đạt hiệu quả?
- Thực hiện thu thập triệu chứng và bệnh tích bệnh Newcastle ở gà?
- Thực hiện tiêm, nhỏ vacxin phòng bệnh Newcastle cho gà.
C. Ghi nhớ:
- Xác định nguyên nhân gây bệnh - Xác định triệu chứng bệnh
- Xác định bệnh tích - Chẩn đoán bệnh
- Đưa ra biện pháp phòng, trị bệnh
Bài 4: Phòng, trị bệnh Gumboro Mục tiêu:
- Xác định được nguyên nhân gây bệnh Gumboro.
- Mô tả được triệu chứng, bệnh tích bệnh Gumboro.
- Chẩn đoán và đưa ra biện pháp phòng, trị bệnh Gumboro đạt hiệu quả cao.
A. Nội dung:
1.1. Xác định nguyên nhân gây bệnh
- Đặc điểm bệnh: Bệnh Gumbero là 1 bệnh truyền nhiễm cấp tính của loài gà, đặc biệt là gà 3-6 tuần tuổi. Do virut Gumboro gây bệnh tích chủ yếu ở túi Fabracius làm túi Fabracius sưng, xuất huyết hoặc teo đi.
Bệnh được phát hiện lần đầu tiên ở làng Gumboro của nước Mỹ năm 1957. ở Việt Nam bệnh được phát hiện 1982 tại trại gà của quân khu V. Tỷ lệ nhiễm bệnh cao, tỷ lệ chết thấp 10-30%.
Túi Fabracius là cơ quan sản sinh miễn dịch dịch thể của gà, do đó khi túi Fabracius bị phá huỷ gà sẽ suy giảm miễn dịch hoặc mất khả năng đáp ứng miễn dịch đối với các loại vacxin phòng các bệnh khác và gà dễ bị nhiễm với các bệnh truyền nhiễm khác.
- Nguyên nhân: Virut Gumboro thuộc họ Birnaviridcae và thuộc giống Birna virut. Virut có cấu tạo là hai sợi ARN xoắn lại với nhau. Là virut dạng trần không có vỏ bọc bên ngoài.
Virut Gumboro gồm hai typ gây bệnh chính: Typ 1: Gây bệnh ở gà ta.
Typ 2: Gây bệnh ở gà tây.
Tuy nhiên gà tây có thể cảm nhiễm Typ 1 và ngược lại nhưng không gây miễn dịch chéo. Đích tấn công của vi rút Gumboro là túi Fabracius nên lứa tuổi gà nhiễm với bệnh gắn liền với tuổi phát triển của túi Fabracius.
- Sức đề kháng: Virut có sức đề kháng với điều kiện ngoại cảnh. Nó có thể tồn tại trong phân, nền chuồng 54 - 122ngày. Đây chính là nguồn tàng trữ virut, nhưng virut lại bị vô hoạt ở điều kiện pH = 12 hoặc pH = 2, virut bị tiêu diệt ở
600C trong 30 phút. Các chất sát trùng thông thường có thể diệt được virut:
phelnol 0,5% trong 1h, chloramin 0,5% trong 10 phút...
- Loài mắc bệnh: Gà là loài nhiễm bệnh duy nhất. Tỷ lệ ốm cao, tỷ lệ chết thấp nhưng thiệt hại về kinh tế trong công nghiệp rất lớn vì gà còi cọc chậm lớn, hệ thống miễn dịch dịch thể bị phá huỷ làm cho gà dễ bị mắc 1 số loại bệnh khác.
- Đường lây nhiễm: Mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gà khoẻ mạnh qua phân, chất độn chuồng, qua thức ăn, nước uống nhiễm bệnh vào đường tiêu hoá.
Gà mổ cắn nhau.
- Cơ chế gây bệnh: Virut xâm nhập vào cơ thể gà qua đường tiêu hoá sau 4-5h nó đã có mặt trong máu và đến các cơ quan phủ tạng đặc biệt là túi Fabracius. Khi vào máu virut kết hợp với lượng bổ thể có trong máu tạo ra các cục huyết khối, làm vỡ thành mạch gây xuất huyết cơ và các cơ quan khác, túi Fabracius sưng phù, xuất huyết.
1.2. Xác định triệu chứng bệnh
Nung bệnh 2 - 3 ngày và biểu hiện gà bay nhảy náo loạn trong chuồng, mổ nhau, sau đó ủ rũ từng đám, lông xù, tụ đống, lù đù và sốt cao, phân ỉa chảy nhớt màu trắng sữa hoặc màu xám xanh, trọng lượng giảm nhanh, đi run rẩy, tiếp theo gà chết với tỷ lệ tăng nhanh mỗi ngày từ 5 - 30% nếu không ghép với bệnh cầu trùng, CRD…nếu ghép tỷ lệ chết tới 70%, khi gà chết thường kêu ré lên, bị liệt chân. Gà thịt tuổi phát bệnh thường từ 20 - 40 ngày, gà hậu bị tuổi nhiễm bệnh 30.-.80 ngày, cũng có trường hợp phát bệnh sớm hơn từ 4 ngày gọi là nhiễm bệnh sớm.
Phân nước mầu trắng Lông xơ rụng
Gà mắc bệnh ở 5 tuần tuổi Phân trắng loãng
Đồ thị tỷ lệ chết theo ngày tuôi
1.3. Xác định bệnh tích
Những ngày đầu túi Fabracious sưng to, có dịch nhầy bao quanh, các ngày sau túi sưng đỏ và xuất huyết bên trong, thận sưng. Tiền mề xuất huyết vệt như quệt máu, ruột sưng có nhiều dịch nhầy bên trong. Cơ đùi và cơ ngực xuất huyết vệt đỏ hoặc thâm đen. Xác gà chết nhanh khô và cơ ngực thâm.
Xuất huyết cơ đùi
Xuất huyết dạ dày tuyến Chất Gelatin phủ túi huyệt
Thận phù nhẹ Lách sưng to
Túi Fabricius sưng to và xuất huyết 1.4. Chẩn đoán bệnh
- Chẩn đoán dựa vào đặc điểm dịch tễ, triệu chứng lâm sàng và bệnh tích.
- Cần phân biệt với một số bệnh:
+ Hội chứng thiếu máu xuất huyết (Viêm gan thể vùi): Gà cũng suy nhược, lờ đờ nhưng hay ngồi xổm và lông dựng ngược. Gan sưng, màu hơi vàng, xuất huyết điểm hoặc từng đám và dễ vỡ.
+ Bệnh Newcastle: Cũng yếu, lờ đờ, tiêu chảy phân xanh phân trắng.
Nhưng biểu hiện thần kinh như liệt chân, cánh, ngoẹo đầu cổ. Có tiếng kêu toóc toóc. Xuất huyết đỉnh ống tuyến. Xuất huyết và loét ruột non, van hồi manh tràng, lỗ huyệt. Không xuất huyết cơ đùi, ngực. Gà mọi lứa tuổi đều bị bệnh.
1.5. Đƣa ra biện pháp phòng, trị bệnh - Phòng bệnh:
+ Vệ sinh phòng bệnh: Khi dịch chưa xảy ra phải định kì tẩy uế, vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi bằng các dung dịch sát trùng: chloramin 0,5%
hoặc giội nước sôi. Chọn gà giống không bị bệnh ...Khi dịch đã xảy ra phải cách li ngay nhưng con có triệu chứng bị bệnh và những con nghi mắc bệnh. Xử lý những con chết, phân rác độn chuồng phải chôn hoặc ủ.
+ Vacxin phòng bệnh: Hiện nay có rất nhiều loại vacxin phòng bệnh Gumboro. Thông thường ở những đàn gà hướng thịt người ta có thể cho gà uống vacxin nhược độc Gumboro hai lần vào lúc 7 - 10 ngày tuổi và lúc 21 - 25 ngày tuổi.
Với gà con 1 ngày tuổi: Cho uống vacxin Gumboro nhược độc nhằm đưa virut Gumboro nhược độc vào chiếm chỗ túi Fabracius.
Cũng có hướng dẫn: dùng vacxin Gumboro vô hoạt nhũ dầu tiêm cho đàn gà bố mẹ để gà con nở ra từ chúng có kháng thể thụ động trong máu.
Với đàn gà bố mẹ, ngoài hai lần uống vacxin nhược độc như trên thì vào lúc hai tháng tuổi tiêm vacxin Gumboro vô hoạt nhũ dầu và trước khi gà đẻ bói (4-5 tháng tuổi) tiêm nhắc lại lần hai.
- Điều trị bệnh: Không có thuốc điều trị. Tuy nhiên áp dụng biện pháp tăng sức đề kháng sẽ giảm chết như sau:
+ Tiêm ngay kháng thể Gumboro cho toàn đàn hai mũi cách nhau 3 ngày.
+ Đồng thời pha vào nước uống tính cho 10 lít gồm đường Glucoza 500g, điện giải 100g, acetamin 50g, B.complex 10g, vitamin C và vitamin K mỗi thứ 10g, có thể dùng bột tổng hợp vitamin K và C. Cho gà uống nước suốt ngày đêm, lưu ý tăng cường thêm máng uống vì gà rất khát nước khi bị bệnh này.
+ Tuyệt đối không sử dụng kháng sinh điều trị sẽ làm tăng tỷ lệ chết, nếu ghộp bệnh dựng thuốc trị đỳng bệnh đú với liều ẵ liều trị 3 ngày đầu, sau tăng đúng liều từ 2-3 ngày sau cùng.
B. Câu hỏi và bài tập thực hành
- Nguyên nhân gây bệnh Gumboro là gì?
- Gà bị mắc bệnh Gumboro có những biểu hiện triệu chứng gì?
- Gà bị mắc bệnh Gumboro có những bệnh tích gì?
- Cần chẩn đoán phân biệt bệnh Gumboro với những bệnh nào?
- Đưa ra biện pháp phòng trị bệnh Gumboro đạt hiệu quả?
- Thực hiện thu thập triệu chứng và bệnh tích bệnh Gumboro ở gà.
- Thực hiện tiêm, nhỏ vacxin phòng bệnh Gumboro cho gà.
C. Ghi nhớ:
- Xác định nguyên nhân gây bệnh.
- Xác định triệu chứng bệnh.
- Xác định bệnh tích.
- Chẩn đoán bệnh.
- Đưa ra biện pháp phòng, trị bệnh.
Bài 5: Phòng, trị bệnh Đậu gà Mục tiêu:
- Xác định được nguyên nhân gây bệnh đậu gà.
- Mô tả được triệu chứng, bệnh tích bệnh đậu gà
- Chẩn đoán và đưa ra biện pháp phòng, trị bệnh đậu gà đạt hiệu quả cao.
A. Nội dung:
1.1. Xác định nguyên nhân gây bệnh
- Đặc điểm bệnh: Là một bệnh truyền nhiễm cấp tính của gà với đặc trưng là hình thành mụn đậu ở những vùng không có lông.
- Nguyên nhân: Bệnh do một virut thuộc nhóm Pox - virus gây ra.
- Sức đề kháng: Virut có sức đề kháng rất lớn, khi nằm trong các vẩy đậu nó có thể tồn tại hàng năm ở nền chuồng, chất độn chuồng, ở 800C phải sau hơn 1 giờ mới bị tiêu diệt, các chất sát trùng thông thường phải sau nhiều giờ mới bị tiêu diệt.
- Động vật cảm thụ: Gà, chim các lứa tuổi đều bị (không có ở ngan, ngỗng, vịt)
- Đường lây nhiễm: Virut xâm nhập vào cơ thể do muỗi đốt, vết cắn của côn trùng hoặc qua vết thương cơ giới (sàn chuồng, máng ăn, sự mổ cắn nhau) làm rách niêm nạc ở da.
1.2. Xác định triệu chứng bệnh
Gà nung bệnh 4 - 14 ngày, thể ngoài da xuất hiện mụn mọc ở mắt, mào, tích, mỏ, kẽ ngón chân và những vùng da không có lông, thể bạch hầu mụn mọc trong họng hầu thành đám trắng đục, gà ăn kém, tỷ lệ chết 5-10%.
1.3. Xác định bệnh tích
Xác chết gầy do bệnh kéo dài, làm gà không ăn uống được. Những vết sẹo ở da, vết loét ở vùng hầu họng, xoang mũi nhiều dịch nhờn; gan, thận, hơi sưng và nhạt mầu, cơ tim nhạt màu.
Nốt đậu ở mào Nốt đậu ở mào và mắt
Nốt đậu ở mắt, miệng Nốt đậu ở mào và mắt 1.4. Chẩn đoán bệnh
- Dựa vào triệu chứng lâm sàng và bệnh tích 1.5. Đƣa ra biện pháp phòng, trị bệnh
- Phòng bệnh: Bằng vacxin theo quy trình. Ngoài ra cần vệ sinh chuồng sạch sẽ, chuồng thông thoáng và diệt muỗi, diệt côn trùng như bọ nhảy, rận, bọ mạt, ve ở chất độn chuồng.
- Điều trị: Không có thuốc. Tuy nhiên phòng bội nhiễm bệnh khác cần cho gà uống thêm Bcomplex, vitamin ADE và kháng sinh như Terramycin, Ampicillin…Tại các vết mụn đậu cậy ra và sát trùng bằng cồn Iodine hoặc bôi thuốc xanh Methylen, nước quả khế chua, nước quả chanh đều có tác dụng tốt.
B. Câu hỏi và bài tập thực hành - Nguyên nhân gây bệnh đậu gà là gì?
- Gà bị mắc bệnh đậu gà có những biểu hiện triệu chứng gì?
- Gà bị mắc bệnh đậu gà có những bệnh tích gì?
- Cần chẩn đoán phân biệt bệnh đậu gà với những bệnh nào?
- Đưa ra biện pháp phòng trị bệnh đậu gà đạt hiệu quả?
- Thực hiện thu thập triệu chứng và bệnh tích bệnh đậu gà ở gà.
- Thực hiện chủng vacxin phòng bệnh đậu gà cho gà.
C. Ghi nhớ:
- Xác định nguyên nhân gây bệnh.
- Xác định triệu chứng bệnh.
- Xác định bệnh tích.
- Chẩn đoán bệnh.
- Đưa ra biện pháp phòng, trị bệnh.
Bài 6: Phòng, trị bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm (ILT) Mục tiêu:
- Xác định được nguyên nhân gây bệnh IB.
- Mô tả được triệu chứng, bệnh tích bệnh IB
- Chẩn đoán và đưa ra biện pháp phòng, trị bệnh IB đạt hiệu quả cao.
A. Nội dung:
1.1. Xác định nguyên nhân gây bệnh
- Đặc điểm của bệnh: Là một bệnh truyền nhiễm do virut gây viêm thanh, khí quản và họng. Bệnh gây tác hại lớn cho gà Broiler chuẩn bị giết thịt.
- Nguyên nhân: Do một virut thuộc nhóm Herpes, chỉ có một serotyp nhưng độc lực lại khác nhau giữa các chủng phân lập được.
- Sức đề kháng: Virut có sức đề kháng kém với ngoại cảnh, nhất là ở nhiệt độ cao: Bị diệt ở 560C trong 10 phút, 600C trong 2 phút.
- Động vật cảm thụ: Gà mọi lứa tuổi, mọi giống đều mắc bệnh nhưng ở gà lớn bệnh nặng hơn.
- Đường lây nhiễm: Lây chủ yếu qua đường hô hấp do gà khoẻ hít phải virut. Ngoài ra bệnh còn lây gián tiếp qua thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi.
1.2. Xác định triệu chứng bệnh
Thời gian nung bệnh từ 4 - 8 ngày. Bệnh thường lây rất nhanh, nếu virut có độc lực cao thì cả đàn gà có thể bị nhiễm bệnh trong thời gian ngắn. Triệu chứng đầu tiên là gà ủ rũ, kém ăn, chảy nước mắt nước mũi. Biểu hiện hô hấp, lắc đầu, ho và hắt hơi, khó thở. Gà bị nhiễm tách khỏi các con khác, viêm mắt, chảy nước mắt và thở thành tiếng. Có máu trên mỏ và lông cánh. Tỷ lệ chết thấp và chết do khó thở. Có thể thấy niêm mạc màu tím ở những con gà chết. Không có biểu hiện thần kinh.