Phòng, trị bệnh viêm đường hô hấp mãn tính (CRD)

Một phần của tài liệu GT modun 04 - phòng trị bệnh cho gà (Trang 72 - 77)

- Xác định được nguyên nhân gây bệnh CRD.

- Mô tả được triệu chứng, bệnh tích bệnh CRD

- Chẩn đoán và đưa ra biện pháp phòng, trị bệnh CRD đạt hiệu quả cao.

A. Nội dung:

1.1. Xác định nguyên nhân gây bệnh

- Đặc điểm của bệnh: Bệnh CRD - còn gọi là bệnh hô hấp mạn tính - là một bệnh truyền nhiễm của nhiều loài gia cầm, trong đó phổ biến nhất là ở gà tây. Bệnh gây viêm thanh dịch có fibrin ở niêm mạc mũi, niêm mạc đường hô hấp trên và các thành túi hơi.

- Nguyên nhân: Vi khuẩn Mycoplasma Gallisepticum gây nên, chúng ít mẫn cảm với kháng sinh thông thường nên điều trị phải lựa chọn, và chúng có nhiều serotype khác nhau có loại gây viêm đường hô hấp, có loại gây viêm khớp, có loại gây viêm túi khí.

- Sức đề kháng: Mycoplasma có sức đề kháng rất yếu, ngoài thiên nhiên nó bị tiêu diệt rất nhanh. Các chất sát trùng thông thường cũng dễ dàng tiêu diệt.

Nó có khả năng tồn tại trong phân, chất độn chuồng ẩm ướt khá lâu. Đặc biệt là Mycoplasma có sức đề kháng cao với kháng sinh như: Penicilin và Thalium axetat.

- Loài mắc bệnh: Trong thiên nhiên gà và gà tây dễ mắc bệnh. Bồ câu, vịt, ngan, ngỗng ít bị bệnh hơn. Thường gà lớn và gà đẻ tỷ lệ mắc bệnh cao hơn gà con nhưng tỷ lệ chết thấp hơn. Gà nuôi theo hướng công nghiệp bị bệnh nhiều hơn gà nuôi gia đình vì mật độ gia cầm cao rất thuận tiện cho việc lan truyền bệnh theo đường hô hấp.

- Đường lây nhiễm: Mầm bệnh lấy trực tiếp từ ngoài không khí (do gà bệnh hắt hơi sổ mũi bắn ra) vào cơ thể gà khoẻ mạnh qua đường hô hấp. Căn bệnh có khả năng truyền qua thai trứng, nên trứng đẻ ra từ dàn gà bệnh có ý

nghĩa về mặt dịch tễ rất quan trọng. Các nghiên cứu cho thấy mầm bệnh xâm nhập vào trứng không phải từ buồng trứng gà bệnh mà từ ống dẫn trứng trong quá trình tạo vỏ cứng. Gà con nở ra từ trứng bị bệnh sẽ phát bệnh và lây lan. Gà trống bị bệnh có khả năng truyền bênh sang gà mái qua đường sinh dục.

- Cơ chế sinh bệnh: Sau khi mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia cầm, nó ký sinh và gây viêm nhẹ niêm mạc đương hô hấp, niêm mạc mũi và các xoang quanh mũi, thành túi hơi. Nếu sức đề kháng của gia cầm tốt thì quá trình viêm nhẹ có khi không nhìn thấy. Nếu sức đề kháng giảm sút bệnh sẽ nặng hơn và khi này các vi khuẩn khác có sẵn trong đường hô hấp sẽ kết phát gây bệnh, gây viêm đường hô hấp nặng, niêm mạc đường hô hấp bị tổn thương con vật gầy, kiệt sức dần rồi chết.

1.2. Xác định triệu chứng bệnh

Gà con những ngày đầu bị bệnh thấy dịch chảy ra ở mũi, mắt, lúc đầu trong sau đặc lại và nhầy trắng. Gà ho, thở khò khè về đêm, ăn ít, gầy. Ở gà lớn thở khò khè, chậm lớn, đẻ giảm, trứng đổi màu, vỏ xù xì.

Gà bị CRD 1.3. Xác định bệnh tích

Bệnh cấp tính ở xoang mũi và khí quản chứa đầy dịch viêm keo nhầy màu trắng hơi vàng, màng túi khí trắng đục. Bệnh mạn tính thì màng túi khí dầy và đục trắng như chất bã đậu. Nếu kế phát bệnh E. coli thì bề mặt gan, màng ngoài bao tim và màng bụng tăng sinh, viêm dính vào gan, tim, ruột.

Màng túi khí đục phủ bã đậu Bao tim tăng sinh

Gan bị viêm Túi khí đục

1.4. Chẩn đoán bệnh

- Chẩn đoán dựa vào đặc điểm dịch tễ và triệu trứng lâm sàng - Cần chẩn đoán phân biệt với 1 số bệnh:

+ Bệnh tụ huyết trùng gia cầm: thường xảy ra ở gia câm lớn, và vào những khi thời tiết thay đổi vi khuẩn tác động chủ yếu đến bộ máy hô hấp gây khó thở bại huyết và chết rất nhanh. Ngoài ra còn có các bệnh tích đặc trưng là:

Xuất huyết lớp mỡ vành tim và cơ tim, gan có những điểm hoại tử nhỏ, xoang ngực, xoang bao tim tích nước vàng. Gia cầm chết nhanh sau những tác động mạnh.

+ Bệnh Neweastle: Xác chết gầy, cũng có triệu chứng hắt hơi, sổ mũi nhưng gia cầm còn có triệu chứng thần kinh, đi đứng không vững thức ăn không

tiêu. Bệnh tích đặc trưng ở đường tiêu hoá: viêm xuất huyết, loét ruột, dạ dày cơ và dạ dày tuyến.

+ Bệnh viêm thanh khí quản truyền nhiễm: Chỉ xảy ra ở gà đẻ ( 5-12 tháng), gà con không bị bệnh, bệnh cũng có những triệu chứng hô hấp nhưng không có bệnh tích ở buồng trứng, không viên mắt, bệnh rất khó chẩn đoán.

+ Bệnh nấm phổi: Chủ yếu ở gà con, phổi gà bệnh có những u nấm màu vàng xám to nhỏ không đều.

1.5. Đƣa ra biện pháp phòng, trị bệnh - Phòng bệnh:

+ Đối với trứng giống: Nhúng trứng vào dung dịch kháng sinh gồm một trong các thuốc sau: Tylosin 2500mg/lit nước, Tiamulin 1000mg/lit nước, Gentamycin 2500mg/lit nước. Trứng nhúng 10 phút trước khi ấp

+ Đối với gà:

Vacxin phòng bệnh: Nobivac.Mg: tiêm dưới da cho gà bố mẹ từ 35 - 40 ngày tuổi.

Phòng bệnh dùng Tiamulin 1g/8 lít nước uống 3 ngày/tuần, gà đẻ uống 1 tuần/tháng.

- Điều trị bệnh:

Dùng tiamulin: liều chữa dùng liều gấp đôi liều phòng và uống trong 3 - 5 ngày.

Ngoài ra nếu dùng Tylosin phòng bệnh 1 g/4 lít và chữa dùng liều 1 g/2 lít nước, điều trị 3 - 5 ngày.

Các thuốc khác cũng tốt như Gentamycin, Gentadox, Tetramycin. Kết hợp uống B.complex và cải thiện môi trường nuôi gà, giảm mật độ, giữ ấm khi trời lạnh

B. Câu hỏi và bài tập thực hành - Nguyên nhân gây bệnh CRD là gì?

- Gà bị mắc bệnh CRD có những biểu hiện triệu chứng gì?

- Gà bị mắc bệnh CRD có những bệnh tích gì?

- Cần chẩn đoán phân biệt bệnh CRD với những bệnh nào?

- Đưa ra biện pháp phòng trị bệnh CRD đạt hiệu quả?

- Thực hiện thu thập triệu chứng và bệnh tích bệnh CRD.

- Thực hiện vệ sinh chuồng trại, thức ăn, nước uống phòng bệnh CRD cho gà.

C. Ghi nhớ:

- Xác định nguyên nhân gây bệnh.

- Phương pháp xác định triệu chứng bệnh.

- Phương pháp xác bệnh tích.

- Phương pháp chẩn đoán bệnh.

- Đưa ra biện pháp phòng, trị bệnh.

Một phần của tài liệu GT modun 04 - phòng trị bệnh cho gà (Trang 72 - 77)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(94 trang)