1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và ở Việt Nam
Sắn hiện được trồng trên 100 nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc 3 châu lục: châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Tổ chức Nông lương thực thế giới xếp sắn là cây lương thực quan trọng ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và mì. Tinh bột sắn là một thành phần quan trong trong chế
độ ăn của hơn một tỷ người thế giới. Đồng thời, sắn cũng là cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị để chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm. Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol), năm 2008, Trung Quốc đã sản xuất một triệu tấn ethanol, họ đã thỏa thuận với các quốc gia lân cận để cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất ethanol. Tại Thái Lan, nhiều nhà máy sản xuất ethanol sử dụng sắn đã được xây dựng năm 2008. Indonesia đã lên kế hoạch sử dụng sắn sản xuất ethanol để pha vào xăng theo tỷ lệ bắt buộc 5% bắt đầu từ năm 2010. Các nước như Lào, Papua New Guinea, đảo quốc Fiji, Nigeria, Colombia và Uganda cũng đang nghiên cứu thử nghiệm cho sản xuất ethanol[23].
Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới được thể hiện ở bảng 1.1.
Bảng 1.1. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới qua các năm Năm Diện tích
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
2008 19.102.140 12,2238 223.501.317
2009 19.317.201 12,2914 237.436.347
2010 1.549.013 12,4330 243.052.520
2011 20.462.267 12,7928 261.768.730
2012 20.820.977 12,9257 269.125.962
2013 20.732.193 13,4740 275.721.584
(Nguồn: FAOSTAT)
Kết quả bảng cho thấy: diện tích năng suất và sản lượng trên thế giới có chiều hướng gia tăng từ năm 2008 đến nay. Năm 2008, sản lượng sắn thế giới đạt 223.501.317 triệu tấn củ tươi so với 233,75 triệu tấn năm 2013 là 275.721.584 triệu tấn. Nước sản xuất nhiều nhất là Nigeria (45,72 triệu tấn), kế đến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92 triệu tấn). Nước có năng suất cao nhất Ấn Độ (31,43 tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha), so với năng suất bình quân của thế giới là 12,87 tấn/ha.
Tình hình sản xuất sắn tại châu Á
Bảng 1.2. Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng sắn tại châu Á
Năm Diện tích
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu/tấn)
2008 3.939.023 19,0580 76.046.076
2009 4.024.865 20,2106 81.345.012
2010 3.877.490 19,3299 74.951.543
2011 4.084.364 19,7037 80.477.236
2012 4.229.727 21,0354 88.973.800
2013 4.181.772 21,0965 88.220.552
(Nguồn: FAOSTAT)
Qua bảng 1.2 cho thấy tình hình sản xuất sắn ở châu Á có biến động nhẹ qua các năm về diện tích trồng sắn năm 2008 là 3.939.023 ha, năm 2009 tăng lên đến 4.024.865ha đến năm 2013 diện tích đã tăng lên 4.181.772 ha, đến năm 2010 diện tích trồng sắn có phần giảm nhẹ xuống chỉ còn 3.877.490 và đến năm 2013 diện tích đã tăng lên là 4.181.772 ha. Năng suất của sắn cũng không có sự chênh lệch quá cao ở các năm bình quân đạt 20,07 tấn/ha. Sản lượng đạt cao nhất là năm 2012 đạt 88.220.552 triệu tấn và sản lượng đạt thấp vào năm 2010 chỉ đạt 74.951.543 triệu tấn. [17]
1.2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn tại Việt Nam
Một số kết quả nghiên cứu về cây sắn tại Việt Nam - Tình hình sản xuất sắn trong nước
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng đứng thứ ba sau lúa và cây ngô. Cây sắn hiện nay đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực, thực phẩm thành cây công nghiệp hàng hóa có lợi thế cạnh tranh cao. Sản xuất sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ dân nghèo do sắn dễ trồng, ít tốn kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế hộ.
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trong nước qua các năm Năm Diện tích
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
2010 498.000 17.2602 8.595.600
2011 558.173 17.7327 9.897.913
2012 550.810 17.6931 9.745.546
2013 544.300 17.8991 9.472.500
(Nguồn: FAOSTAT)
Giai đoạn từ năm 2010 - 2013 tốc độ tăng trưởng diện tích bình quân hàng năm là 6% và tốc độ tăng trưởng sản lượng bình quân hàng năm đạt 10%. Năng suất của sắn Việt Nam hiện nay đứng khoảng thứ 10 trong số các quốc gia năng suất cao. Tuy nhiên, năng suất 17,6 tấn/ha chỉ là tương đương 50% so với năng suất sắn tại Ấn Độ, thấp hơn năng suất sắn tại Campuchia khoảng 18%, thấp hơn Indonesia 15% và thấp hơn Thái Lan là 9%. Như vậy, nếu như diện tích sắn của Việt Nam khó có khả năng gia tăng trong những năm tới do sự cạnh tranh của các loại cây khác cũng như do quy hoạch sử dụng đất thì chúng ta vẫn còn triển vọng tăng trưởng sản lượng nhờ gia tăng năng suất nếu đầu tư đúng hướng về công tác chọn tạo giống và kỹ thuật canh tác sắn bền vững.
Việt Nam hiện đã trở thành điển hình của châu Á trong việc ứng dụng công nghệ chọn tạo giống sắn lai, sắn cao sản (Kawano, 2001; Reinhardt Howeler, 2004). Những nguyên nhân chính để có những thành tựu này là:
- Giống sắn cao sản mới có năng suất tinh bột cao gấp đôi so với các giống sắn địa phương đã thực sự mang lại năng suất và lợi nhuận cao cho người trồng sắn.
- Toàn quốc hiện nay có 8 nhà máy chế biết tinh bột sắn và sản xuất cồn với tổng công suất ước khoảng 7 triệu tấn củ tươi/năm, và 6 nhà máy chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) đang được triển khai, tạo thuận lợi cho sản xuất sắn. Các nhà máy có địa điểm xây dựng trải rộng trên toàn quốc, thuận
lợi cho việc thu mua nguyên liệu và giảm chi phí vận chuyển. Ngoài ra, còn có trên 4000 cơ sở chế biến sắn lát, tinh bột sắn thủ công có công suất dưới 10 tấn củ tươi/ngày nằm rải rác ở hầu như hết các tỉnh trồng sắn, chủ yếu ở các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai.
- Sản phẩm sắn cao sản Việt Nam có nhu cầu cao đối với thị trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa. Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm gần 10 triệu sắn củ tươi, trong đó khoảng 70% dành cho xuất khẩu và 30% cho tiêu thụ trong nước. Việt Nam hiện trở thành nước xuất khẩu tinh bột sắn đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan.
- Cây sắn cao sản dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế nông hộ. Nông dân Việt Nam tích cực áp dụng giống và tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất sắn [7].