Từ nhiều năm trở lại đây, CLVTĐD đã được đưa vào sử dụng trong việc chẩn đoán các khối u ổ bụng, trong đó có bệnh lý u tụy và đạt những kết quả cao.
Trong một nghiên cứu của Freeny PC và cộng sự, đăng trên tạp chí Phẫu thuật của Mỹ năm 1993 đánh giá giá trị của chụp CLVT trong chẩn đoán u tụy và các giai đoạn khác nhau của u tụy so sánh với kết quả của chụp mạch và phẫu thuật trên 213 bệnh nhân. Kết quả là: chụp CLVT đã chẩn đoán đúng 207/213 bệnh nhân (97%), những khối u ở đầu tụy chiếm 64%, u thân tụy 22%, u đuôi tụy 10%, 4% là bệnh lý tụy lan tỏa. Chụp CLVT cho kết quả 25 bệnh nhân (12%) có thể phẫu thuật cắt bỏ u, 188 (88%) bệnh nhân không thể cắt bỏ u do đã có xâm lấn vào cơ quan lân cận (43%), xâm lấn vào mạch máu (82%)và di căn xa (50%). So với chụp mạch, chụp CLVT phát hiện xâm lấn mạch không chính xác 20% các trường hợp, chụp mạch phát hiện không chính xác 5%. So với kết quả phẫu thuật 71 bệnh nhân, chụp CLVT đạt độ chính xác 100% với những trường hợp không thể phẫu thuật và 72% với những trường hợp có thể phẫu thuật được [36].
Năm 1997, trong nghiên cứu của R.K Zeman và cộng sự, đánh giá giá trị của chụp CLVT trong chẩn đoán giai đoạn ung thư tụy theo TNM. Kết quả chụp CLVT chẩn đoán đúng giai đoạn ung thư tụy theo T là 77%, N là 58%, M là 79%. Như vậy chụp CLVT hiệu quả trong việc phân chia các giai đoạn ung thư tụy nhất là đánh giá khối u và mức độ di căn [37].
Trong một nghiên cứu của Diehl SJ, được đăng trên tạp chí Radiology năm 1998, so sánh kết quả của chụp CLVT trước phẫu thuật với kết quả GPB sau phẫu thuật trong số 89 bệnh nhân được chẩn đoán u tụy. Kết quả chụp CLVT chẩn đoán đúng 73/76 trường hợp (97%). Phát hiện di căn gan 21/28
trường hợp (75%), hạch 13/24 trường hợp (55%), phát hiện xâm lấn mạch 35/40 trường hợp (88%) [38].
Năm 2003, trong một nghiên cứu hồi cứu của J.L.Fidler và cộng sự trên 30 bệnh nhân đã được mổ u tụy Insulinoma và đã được chụp CLVT trước mổ, kết quả là chụp CLVT phát hiện ra 25/30 bệnh nhân (83%). Hầu hết các u tăng tỷ trọng, chỉ có 3 u giảm tỷ trọng và 3 u đồng tỷ trọng, Insulinoma thường ngấm thuốc thì sớm (15 trường hợp), chỉ có 3 trường hợp ngấm thuốc ở thì TMC [39].
Như vậy trên thế giới nhờ vào chụp CLVT, các bác sỹ không những đã chẩn đoán xác định mà còn đánh giá giai đoạn, mức độ xâm lấn của u tụy ác tính, điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với các bác sỹ lâm sàng trong chiến lược điều trị cho bệnh nhân.
1.4.2. Tại Việt Nam.
Các nghiên cứu về u tụy đặc biệt u thân và đuôi tụy ác tính còn ít được các tác giả quan tâm, thể hiện bằng số lượng tài liệu tham khảo trong nước rất hạn chế, có thể do số lượng bệnh nhân không nhiều, việc trang bị các máy chụp CLVTĐD tại các cơ sở y tế còn ít nên việc chẩn đoán gặp nhiều khó khăn. Mới chỉ có một số báo cáo về u tụy nói chung, trong đó chủ yếu là báo cáo về u đầu tụy.
Năm 2002 Đoàn Văn Mỹ, Nguyễn Khánh Trạch, Đào Văn Long qua nghiên cứu khả năng chẩn đoán u tụy của siêu âm 2 chiều có so sánh với chụp CLVT và siêu âm nội soi thu được kết quả: độ nhạy, độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị dự báo dương tính, giá trị dự báo âm tính của siêu âm 2 chiều lần lượt là 62%, 50%, 60%, 85,7% và 21,4%, giá trị chẩn đoán đúng của CLVT và siêu âm nội soi là 72,7% và 83,3% [25].
Năm 2004 Nguyễn Văn Đính qua nghiên cứu kết quả cho thấy: u đầu tụy là vị trí tổn thương phổ biến nhất trong bệnh lý u vùng đầu tụy, khả năng
chẩn đoán chính xác u vùng đầu tụy đánh giá giá trị của CLVT trong chẩn đoán u đầu tụy thấy độ nhạy, độ đặc hiệu lần lượt là 96,8% và 90% .
Năm 2007 Trần Văn Phơi qua nghiên cứu 201 trường hợp ung thư tụy, trong đó 146 trường hợp điều trị phẫu thuật nhận xét: điều trị ung thư tụy chủ yếu vẫn là phẫu thuật, kết quả điều trị loại ung thư này phụ thuộc nhiều vào việc chẩn đoán sớm hay muộn. Ở nước ta phần lớn ung thư tụy được chẩn đoán muộn vì thế khối u không còn khả năng phẫu thuật triệt để và kết quả điều trị phẫu thuật không cao. Chẩn đoán ung thư tụy đúng trước mổ là 76,7%. Cần có sự trợ giúp của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh nhiều hơn nữa, trong lô nghiên cứu cho thấy giá trị chẩn đoán u tụy của CLVT và siêu âm trước phẫu thuật là 60% và 58% [40].
Do CLVT mới chỉ được áp dụng tại Việt Nam khoảng hơn 20 năm trở lại đây, đặc biệt là máy CLVTĐD những năm gần đây mới được trang bị nên các nghiên cứu ứng dụng của nó trong chẩn đoán u tụy nói chung, u thân và đuôi tụy ác tính nói riêng lại càng hạn chế. Mặc dù vai trò của chẩn đoán hình ảnh, đặc biệt là CLVTĐD trong chẩn đoán các khối u bụng là không thể phủ nhận, xong cho đến nay chưa thấy có một tài liệu nào nghiên cứu về vai trò của CLVTĐD trong chẩn đoán cũng như mô tả đặc điểm hình ảnh, phân loại của u thân và đuôi tụy ác tính được công bố .
Chương 2