CHƯƠNG III: THỰC TIỂN QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI QUỐC DOANH Ở VIỆT NAM
1. Khái quát chung về cổ phần hóa NHTM ngọai thương
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng ngọai thương (NHNT)
1.1.1. Lịch sử hình thành:
Ngày 01 tháng 04 năm 1963, NHNT chính thức thành lập theo Quyết định số 115/CP do Hội đồng chính phủ ban hành ngày 30 tháng 10 năm 1962 trên cơ sở tách ra từ Cục quản lý Ngoại hối trực thuộc ngân hàng Trung ương (nay là NHNN). Theo quyết định nói trên, NHNT đóng vai trò là ngân hàng chuyên doanh đầu tiên và duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bao gồm cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các dịch vụ kinh tế đối ngoại khác (vận tải, bảo hiểm …), thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, quản lý vốn ngoại tệ gửi tại các ngân hàng nước ngoài làm đại lí cho Chính phủ trong các quan hệ thanh toán vay nợ viện trợ với các nước Xã hội Chủ nghĩa (cũ). Ngoài ra, NHNT còn tham mưu cho Ban lãnh đạo NHNN về các chính sách quản lý ngoại tệ, vàng, bạc, quản lý quỹ ngoại tệ của nhà nước và về quan hệ với ngân hàng trung ương các nước, các Tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế.
Ngày 21 tháng 09 năm 1996, được sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN đã ký quyết định số 286/QĐ-NH5 về việc thành lập lại NHNT theo mô hình tổng công ty 90, 91 được quy định tại Quyết định số 90/QĐ-TTg ngày 07 tháng 03 năm 1994 của Thủ tướng Chính phủ.
Trải qua gần 45 năm xây dựng và trưởng thành, tính đến thời điểm cuối năm 2006, NHNT đã phát triển lớn mạnh theo mô hình ngân hàng đa năng với 58 chi nhánh, 01 sở giao dịch, 87 Phòng Giao dịch và 04 Công ty con trực thuộc trên toàn quốc; 02 văn phòng đại diện và 01 Công ty con tại nước ngoài, với đội ngũ cán bộ gần 6500 người. Ngoài ra, NHNT còn tham gia góp vốn, liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước trong nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau như kinh doanh bảo hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư,… Tổng tài sản của NHNT cuối năm 2006 lên tới xấp xỉ 170 nghìn tỷ VND (tương đương 10,4 tỷ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
USD), tổng dư nợ đạt gần 68 nghìn tỷ VND (4,25 tỷ USD), vốn chủ sở hữu đạt hơn 11,127 tỷ VND, đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% theo chuẩn quốc tế.14
1.1.2 Quá trình phát triển của NHNT:
Giai đoạn từ 1963-1975:
Trong giai đoạn này NHNT đã hoànthành nhiệm vụ đối nội và đối ngoại được Nhà nước giao phó: thực hiện chức năng ngân hàng đối ngoại độc quyền, tiếp nhận viện trợ nước ngoài phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế ở miền Bắc và phục vụ công cuộc giải phóng miền Nam.
Giai đoạn từ 1975-1990:
Sau ngày giải phóng miền Nam, NHNT đã tham gia tiếp quản các Ngân hàng cũ, hoàntất các thủ tục pháp lý, thực hiện và hoànthành các nhiệm vụ đượcgiao vớivai trò hội viên của Việt Nam tại IMF, WB xác định quyền sở hữu về tài sản quốc gia đối với các tài sản là hàng hóa đặc biệt, ngoại tệ hiện đang ở bên ngoài.
Trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế đất nước trước việc bị Mỹ cấm vận, viện trợ của các nước XHCN giảm sút, cán cân thương mại mất cân đối nghiêm trọng, cán cân thanh ngoài quốc tế luôn bị bội chi, NHNT đã thực hiện chủ trương mở rộng đầu tư cho xuất khẩu, kiến nghị nhà nước ban hành các cơ chế khuyến khích xuất khẩu, mở rộng dịch vụ thu ngoại tệ thông qua cơ chế thưởng ngoại tệ cho nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất, phân bón thuốc trừ sâu và lương thực.
Giai đoạn 1990-1996:
Ngày 14 tháng 11 năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Chị thị số 403/CT chuyển NHNT theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng thành NHTM Quốc doanh, lấy tên là ngân hàng Ngoại thương Việt Nam gọi tắt là Ngân hàng Ngoại thương. Cùng với việc Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh NHNN và Pháp lệnh ngân hàng, Hợp tác xã tín dụng và Công ty Tài chính ngày 23 tháng 5 năm 1990, NHNT chính thức được chuyển từ ngân hàng chuyên doanh, độc quyền trong hoạt động kinh tế đối ngoại sang một NHTM Quốc doanh hoạt động đa năng và tự do cạnh tranh với các loại hình NHTM và các tổ chức tài chính khác.Năm 1995, NHNT đã tham gia vào hệ thống thanh ngoài SWIFT và trở thành đầu mối thanh ngoài quốc tế quan trọng của cả nước.
Giai đoạn 1996-1999:
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Giai đoạn này NHNT tiếp tục đầu tư, phát triển mở rộng các lĩnh vực hoạt động kinh doanh, đi tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ vào hoạt động ngân hàng như hoànthành hệ thống ngân hàng trực tuyến, hệ thống ngân hàng lõi – Core Banking (Vietcombank Vision 2010), trở thành thành viên của tổ chức thanh ngoài thẻ quốc tế Visa Card, Mater Card… cũng trong giai đoạn này, NHNT cũng đã tham gia đầu tư vào một các dự án lớn trong các lĩnh vực trọng yếu của đất nước như đường ống Nam Côn Sơn, Đạm Phú Mỹ, Thủy Điện Yaly…
Giai đoạn từ 1999-2006:
Với bề dày kinh nghiệm hoạt động Ngân hàng đối ngoại và sau nhiều bước đi quá độ, NHNT đã từng bước tiếp cận, nhanh chóng thích nghi với nền kinh tế thị trường, giữ vai trò chủ lực trong hệ thống NHTM Việt Nam và là NHTM hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực tài trợ thương mại, thanh ngoài quốc tế, kinh doanh ngoại hối và ứng dụng công nghệ tiên tiến vào hoạt động ngân hàng. Bên cạnh đó, NHNT tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo trên thị trường tiền tệ góp phần thực hiện tốt chính sách tiền tệ quốc gia. Thương hiệu Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được cộng đồng trong nước và quốc tế biết đến như một biểu trưng của hệ thống NHTM Việt Nam.
Cũng trong giai đoạn này, NHNT là một trong những thành viên đầu tiên của Hiệp hội Ngân hàng Châu Á (ABA), tổ chức thanh ngoài thẻ quốc tế Amex Express năm 2002. Tính đến thời điểm hiện tại, NHNT đã có quan hệ ngân hàng đại lý với khoảng 1.200 ngân hàng và định chế tài chính tại 85 quốc gia và vùng lãnh thổ trên biên giới, đảm bảo thực hiện tốt các yêu cầu của khách hàng trên phạm vi toàn cầu. Ngoài ra NHNT còn là NHTM duy nhất tại Việt Nam được tạp chí “The Banker”- tạp chí ngân hàng uy tín trong giới tài chính quốc tế của Anh quốc bình chọn là “Ngân hàng tốt nhất của Việt Nam” liên tục trong 05 năm 2000-2004.
Để có đủ điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và chuẩn bị cho quá trình triển khai cổ phần hóa, từ cuối năm 1999, ban lãnh đạo NHNT đã xây dựng chiến chiến lược phát triển tới năm 2010 với mục tiêu trở thành một Tập đầu tư tài chính ngân hàng hoạt động đa năng,kết hợp với bán lẻ, đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng, giữ vị trí ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam và phấn đấu trở thành ngân hàng quốc tế trong khu vực. Nhằm cụ thể hóa chiến lược phát triển nói trên, NHNT đã xây dựng Đề án Tái cơ cấu NHNT giai đoạn 2001-2005 được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 162/2001/QĐ-TTg ngày 23 tháng 10 năm 2001.
Mục tiêu cơ bản của đề án bao gồm: nâng cao năng lực tài chính; mở rộng hoạt
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
động kinh doanh; hiện đại hóa công nghệ và phát triển sản phẩm mới; xây dưng mô hình quản lý hiện đại, đặc biệt là trong công tác quản trị rủi ro và kiểm tra, kiểm ngoài nội bộ.
Sau 05 năm thực hiện Đề án Tái cơ cấu, đến nay, NHNT đã hoànthành thắng lợi các mục tiêu đề ra thông qua việc: xử lý về cơ bản nợ xấu và từng bước năng cao năng lực tài chính, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, mở rộng các hoạt động kinh doanh nhằm tiến tới xây dựng Tập đầu tư tài chính ngân hàng đa năng; tạo dựng một nần tảng công nghệ hiện đại, nâng cao trình độ quản lý toàn hệt thống, phát triển sản phẩm mới, mở rộng tiện ích cho khách hàng; và từng bước áp dụng các mô thức quản lý theo chuẩn mực quốc tế thông qua việc cơ cấu lại tổ chức, phát triển mạng lưới, ứng dụng các chuẩn mực quản lý tốt nhất.