Hanh vi xam pham dén ban quyén sách điện tử được thực hiện dễ dàng hơn so với các loại hình sách truyền thống trên giấy in bởi đặc tính kĩ thuật và khả năng lưu trữ của nó. Các hoạt động đánh cắp bản quyền ngày càng tinh vi và hữu hiệu hơn khi đồng hành với khoa học công nghệ. Ngoài những biện pháp mang tính kĩ thuật mà chính những người có quyền và lợi ích liên quan tự bảo vệ trước. Thì cần có sự bảo vệ của cơ quan Nhà nước có thâm quyền, của pháp luật về những hành vi xâm phạm đối với sở hữu trí tuệ đặc biệt là quyền tác giả.
2.5.1. Hành vi xâm phạm quyền tác giả đối sách điện tử
Xâm phạm quyền tác giả đối với sách điện tử là bất cứ hành vi nào vi phạm quyền tác giả.
Vi du: Việc sử dụng quyên sao chép của quyển tác giả, vốn là quyền cá nhân thuộc về tác giả, chủ sở hữu quyên tác giả mà không được phép hay việc một người không phái là chủ sở hữu quyên tác giả đăng kí quyền tác giả.
Quyền tác giả được bảo hộ cả trong nước cũng như quốc tế theo pháp luật và các thỏa thuận của mỗi nước. Tuy nhiên, tình trạng xâm phạm quyền tác giả ngày càng phố
biến bởi sự phát triển của khoa học — kĩ thuật hiện đại, đặc biệt là Internet. Trong đời
sống hàng ngày một hành vi trộm cắp tài sản của người khác là một việc phi pháp thì đối với tài sản sở hữu trí tuệ là quyền tác giả cũng như vậy.
Hanh vi bị xem xét bị coi là hành vi xâm phạm quyên tác giả khi có đủ các căn cứ sau đây:
Đối tượng xem là xâm phạm quyền tác giả thuộc phạm vi các đối tượng đang được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; Có yếu tố xâm phạm trong đối tượng bị xem xét; Người thực hiện hành vi bị xem xét không phải là chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và không phải là người được pháp luật hoặc cơ quan có thấm quyền cho phép theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ; Hành vi bị xem xét xảy ra tại Việt Nam (Điều 5 Nghị định 105/2006/NĐ-CP).
Đồng thời, theo Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ thì hành vi xâm phạm quyền tác giả bao gồm:
© Chiém doat quyén tac giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học.
Như việc lấy tác phẩm, công trình nghiên cứu cúa người khác và đề tên minh
GVHD: Ths. Nguyễn Phan Khôi 45 SVTH: Nguyễn Văn Thạch
lên ngay phán tác giả của tác phẩm và thực hiện các thao tác của tác giả đổi với tác phẩm;
¢ Mao danh tac gid. Nhu hanh vì lấy tác phẩm của người khác hoặc của mình đề tên một tác gid nổi tiếng;
© _ Công bó, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác gia;
© Công bó, phân phối tác phẩm có đông tác giá mà không được phép của đồng tác giả đó. Hành vi này không chỉ người khác mà có thể chính bản thân một đông tác giá khác cũng bị xem xét;
© Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kì hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả;
© Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyên tác giả, trừ trường hợp tự sao chép một bản nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cá nhân, sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu.
Nếu dẫn chiếu đến khoản 10 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ thì: “Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bán ghi âm, ghỉ hình bằng bắt kì phương tiện hay hình thức nào, bao gom cả việc tạo ra bản sao đưới hình thức điện tử”.
Việc sao chép bao gồm cả việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời dưới hình thức
điện tử. Hành vi sao chép bị điều chỉnh bởi các điều khoản liên quan, cụ thể là phải xin
phép tác giả nếu không sẽ bị coi là vi phạm bản quyền. Như vậy, bất kì hành vi sao chép nào mà không được sự đồng ý của tác giả, chủ thể có quyền đều coi là xâm phạm bản quyền do định nghĩa của luật quá rộng.
Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả
đối với tác phẩm được dùng dé làm tác phẩm phái sinh, trừ trường hợp chuyên tác phẩm
sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị.
Sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả
tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật. Trừ trường
hợp sau:
© Tw sao chép một bản nhằm mục địch nghiên cứu khoa học, giảng dạy của cả nhân;
© Trich dan hop lý tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để bình luận
hoặc mình họa trong tác phẩm của mình;
© Trích dẫn tác phẩm mà không làm sai ý tác giả để viết báo, dùng trong ấn phẩm định kỳ, trong chương trình phát thanh, truyền hình, phim tài liệu;
©_ Trích dẫn tác phẩm để giảng dạy trong nhà trường mà không làm sai ÿ tác giả, không nhằm mục đích thương mại;
© Sao chép tác phẩm để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên
cứu; biểu diễn tác phẩm sân khẩu, loại hình biểu diễn nghệ thuật
khác trong các buối sinh hoạt văn hóa, tuyên truyên cổ động không
thu tiền dưới bất kì hình thức nào;
© Ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để
giảng dạy;
© Chup ảnh, truyền hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy;
©_ Chụp ảnh, truyền hình tác phẩm tạo hình, kiến trúc, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng dụng được trưng bày tại nơi công cộng nhằm giới thiệu
hình ảnh của tác phẩm đó;
® Chuyển tác phẩm sang chữ nổi hoặc ngôn ngữ khác cho người khiếm thị;
© Nhập khẩu bản sao tác phẩm của người khác để sử dụng riêng;
© Cho thuê tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyên lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sớ hữu quyên tác giả;
© Nhân bán, sản xuất bản sao, phân phối, trưng bày hoặc truyền đạt tác phẩm đến công chúng qua mạng truyền thông và các phương tiện kĩ
thuật số mà không được phép của chủ sở hữu quyên tác giả;
©_ Xuất bản tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyên tác gia;
© C64 hity b6 hodc lam v6 hiéu cac bién phap ki thudt do chủ sở hữu quyên tác giả thực hiện để bảo vệ quyên tác giả đối với tác phẩm của mình;
e©_ Cá ÿ.xóa, thay đối thông tin quản lý quyên dưới hình thức điện tử có trong tác phẩm;
© Sản xuất, lắp rap, bién déi, phan phối nhập khẩu, xuất khẩu, bán
hoặc cho thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó làm vô
hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyên tác giá thực hiện để bảo vệ quyên tác giả đối với tác phẩm của mình;
® Làm và bản tác phẩm mà chữ kí của tác giả bị giả mạo;
e_ Xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyên tác giả.
2.5.2. Biện pháp bảo vệ quyền tác gid
Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ chủ thể quyền
sở hữu trí tuệ có quyền áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm
GVHD: Ths. Nguyễn Phan Khôi 47 SVTH: Nguyễn Văn Thạch
quyên tác giả băng việc các chủ thê quyên đưa các thông tin quản lý quyên găn với bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; đưa thông tin quản lý quyền xuất hiện cùng với việc truyền đạt tác phẩm tới công chúng nhằm xác định tác phẩm, tác giả của tác phẩm, chủ sở hữu quyền, thông tin về thời hạn, điều kiện sử dụng tác phẩm và mọi số liệu hoặc mã, ký hiệu
thể hiện thông tin đó để bảo vệ quyền tác giả.
Đồng thời các chủ thể quyền có thể áp dụng các biện pháp công nghệ đề bảo vệ các thông tin quản lý quyền, ngăn chặn các hành vi tiếp cận tác phẩm, khai thác bất hợp pháp quyền sở hữu của mình.
Ngoài ra, pháp luật quy định những chế tài đối với những hành vi xâm phạm tùy theo tính chất và mức độ vi phạm người vi phạm có thể bị áp dụng các biện pháp chế tài như dân sự, hành chính hoặc hình sự.
2.5.2.1. Biện pháp tự bảo vệ (Điêu 198 Luật Sở hữu trí tuệ)
Chủ thể quyền tác giả sách điện tử có quyền áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền tác giả (điểm a khoản 1 Điều 198 Luật Sở hữu trí tuệ). Đó là việc các chủ thể quyền đưa các thông tin quán lý quyền gắn với bản gốc hoặc bản sao tác phẩm; đưa thông tin quản lý quyền xuất hiện cùng với việc truyền đạt tác phẩm đến công chúng nhằm xác định tác phẩm, tác giả của tác phẩm, chủ sở hữu quyền,
thông tin về thời hạn, điều kiện sử dụng tác phẩm và mọi số liệu hoặc mã, kí hiệu thể
hiện thông tin đó để bảo vệ quyền tác giá.
Vi du: Tac giả có thể đăng kí bản quyên tác giả qua các hiệp hội bảo vệ quyển tác giả, cục bản quyên tác giả Việt Nam, khi xảy ra tranh chấp tác giá không
phải mắt công chứng mình tác phẩm là của mình. Mặc dù luật không bắt buộc
phải đăng kí quyền tác giá mới được pháp luật báo hộ. Việc đăng kí trong trường hợp có tranh chấp xáy ra, Giấy chứng nhận đăng ký này là bằng chứng tốt nhất chứng mình quyên sở hữu của tác giả đối với tác phẩm.
Đồng thời, các chủ thể quyền có thể áp dụng các biện pháp công nghệ đề bảo vệ các thông tin quản lí quyền, ngăn chặn các hành vi tiếp cận tác phẩm, khai thác bất hợp pháp quyền sở hữu của mình theo quy định của pháp luật dé bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình (khoản 1 Điều 43 Nghị định 100/2006/NĐ-CP). Sử dụng phương tiện hoặc biện
pháp kĩ thuật nhằm đánh dấu, nhận biết, phân biệt, bảo vệ sản phẩm được bảo hộ (điểm b