Tình hình chung về vật liệu tại Công ty Cổ phần Phong Đại Lợi

Một phần của tài liệu Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Phong Đại Lợi (Trang 41 - 46)

CHƯƠNG II: THỰC TẾ CÔNG TÁC KẾ TOÁN NGUYÊN VẬT LIỆU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN PHONG ĐẠI LỢI

2.2. Thực tế công tác kế toán NVL tại Công ty Cổ phần Phong Đại Lợi

2.2.1. Tình hình chung về vật liệu tại Công ty Cổ phần Phong Đại Lợi

Đặng Thị Ngọc - 43K7 41 Báo cáo thực tập NKCT

Số 1, 2, 4...

NKCT

Số 1, 2, 4... Sổ chi tiết Số 2 (TK 331) Sổ chi tiết Số

2 (TK 331) Bảng kê nhập Bảng kê

nhập Thẻ

kho Thẻ

kho Sổ chi tiết NVL Sổ chi

tiết NVL Bảng kê xuất Bảng

kê xuất CHỨNG TỪ GỐC

CHỨNG TỪ GỐC

NKCT Số 5 NKCT

Số 5 Bảng TH

nhập Bảng TH

nhập Bảng

tổng hợp N-X-T Bảng tổng hợp

N-X-T

Bảng TH xuất Bảng

TH xuất

Bảng phân bổ số 2 Bảng phân

bổ số 2 Bảng kê

số 3 Bảng kê

số 3

Sổ cái TK 152 Sổ cái TK

152

Bảng phân bổ số 4, 5,

6 Bảng phân

bổ số 4, 5, 6

NKCT số 7 NKCT số 7 Báo cáo tài

chính Báo cáo tài

chính

Ghi chú:

Ghi

chú: Ghi cuối thángGhi cuối tháng Ghi hàng ngày Ghi hàng ngày

Quan hệ đối chiếu

Quan hệ đối chiếu

* Đặc điểm vật liệu tại Công ty Cổ phần Phong Đại Lợi:

Công ty Cổ phần Phong Đại Lợi là một doanh nghiệp nhà nước có quy mô sản xuất tương đối lớn, sản phẩm của công ty nhiều về số lượng, đa dạng về chủng loại như: sợi, sản phẩm dệt kim, sản phẩm dệt thoi... do đó vật liệu dùng để sản xuất sản phẩm ở công ty cũng rất đa dạng về chủng loại và chúng có đặc điểm riêng hết sức khác biệt. Thực tế đó đã đặt ra cho công ty những yêu cầu cấp thiết trong công tác quản lý, hạch toán các quá trình thu mua, vận chuyển, bảo quản dự trữ và sử dụng vật liệu.

Cũng giống như các công ty thuộc Tổng Công ty Dệt may Việt Nam, sản phẩm của Công ty Cổ phần Phong Đại Lợi đã không ngừng được đáp ứng nhu cầu nội địa mà còn được xuất khẩu sang nhiều nước khác. Do vậy, việc quản lý chặt chẽ và hạch toán chi tiết đầy đủ, chính xác từng thứ vật liệu là điều kiện cần giúp cho công ty thực hiện kế hoạch giảm giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ưu thế cạnh tranh cho sản phẩm của mình trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay.

* Phân loại NVL tại Công ty Cổ phần Phong Đại Lợi:

Để quản lý chặt chẽ và có hiệu quả vật liệu cần thiết phải tiến hành phân loại vật liệu. Căn cứ vào vai trò và tác dụng của NVL trong sản xuất, NVL sử dụng tại công ty được chia thành các loại sau:

- Vật liệu chính: gồm các loại bông xơ, chủ yếu nhập từ nước ngoài như xơ PE (eslon), xơ PE (sunkyong), bông Nga cấp I, II, bông Việt Nam, bông Trung Quốc cấp I, II...

- Vật liệu phụ: các loại ghim, chỉ các loại, khuy, chun, phấn may, thuốc nhuộm, hóa chất...

- Nhiên liệu: điện, xăng, dầu công nghiệp...

- Phụ tùng thay thế: máy bay, máy kéo sợi, thoi suốt...

- Văn phòng phẩm: giấy, mực in, bút bi... các đồ dùng phục vụ cho công

tác văn phòng.

- Vật liệu xây dựng: sắt, thép, xi măng, kính...

- Bao bì đóng gói: bao tải dứa, dây buộc, vành chống bẹp...

- Phế liệu thu hồi: sản phẩm hỏng, kém phẩm chất không sử dụng được như bông phế F2, F3, xơ hồi vón cục, sợi tụt lõi, vải vụn... xuất chủ yếu là xuất bán, và xuất cho các nhà máy làm giẻ lau máy, vệ sinh máy.

Việc phân loại vật liệu như trên tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức quản lý một cách khoa học vật liệu phục vụ cho việc mở các sổ kế toán chi tiết nhằm kiểm tra, giám sát tình hình nhập, xuất, tồn kho vật liệu trên cơ sở phân loại tỉ mỉ chính xác từng thứ vật liệu.

2.2.1.2. Công tác quản lý và tình hình thực hiện kế hoạch cung cấp NVL.

Vật liệu chiếm một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất, tỷ trọng của vật liệu trong giá thành sản phẩm sợi là 65% đến 75%, trong sản phẩm dệt kim là 60% đến 70%, nên quản lý tốt vật liệu sẽ là biện pháp tích cực nhằm hạ thấp giá thành sản phẩm góp phần không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và đó là mục tiêu mà các doanh nghiệp đều hướng tới.

Công tác quản lý vật liệu của công ty được thực hiện từ khâu thu mua vật liệu. Do yêu cầu về đặc điểm kỹ thuật cũng như quy trình công nghệ nên phần lớn vật liệu của công ty được nhập từ nước ngoài. Bông thiên nhiên nhập từ Nga, Thái Lan, Singapo, Trung Quốc... xơ hóa học Polieste nhập từ Đài Loan, Nhật Bản, Ấn Độ... Như vậy, ta có thể thấy rằng công ty phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập và hầu như không có nguồn nguyên liệu trong nước để thay thế. Vật liệu của công ty được mua về, sau khi kiểm nghiệm về số lượng, chất lượng quy cách, mẫu mã sẽ được phép nhập kho. Lượng vật liệu được xác định dựa trên kế hoạch và nhu cầu sản xuất do bộ phận cung ứng thuộc phòng kế hoạch thị trường xây dựng nên.

Công ty Cổ phần Phong Đại Lợi sử dụng trên 100 loại vật tư với Đặng Thị Ngọc - 43K7 43 Báo cáo thực tập

đủchủng loại và tính năng khác nhau nên chúng được quản lý một cách khoa học trong hệ thống kho tàng của công ty với đầy đủ trang thiết bị bảo quản phù hợp với đặc tính của từng loại vật liệu, nhằm hạn chế tối đa sự hư hỏng, mất mát, hao hụt.

Vật liệu của công ty được lưu trữ và bảo quản tại các kho:

- Kho bông xơ - Kho xăng dầu - Kho vật tư bao gói - Kho hóa chất - Kho thiết bị - Kho vật liệu xây dựng - Kho vật liệu phụ - Kho phế liệu - Kho phụ tùng

Công ty luôn tìm các biện pháp để tiết kiệm nguyên vật liệu. Một trong những biện pháp đó là tận dụng bông xơ phế liệu bị rơi ra trong các giai đoạn sản xuất của dây truyền sản xuất sợi. Công ty đã tận dụng những bông xơ rơi này để làm nguyên liệu cho dây chuyền OE tận dụng bông phế để sản xuất các loại sợi dệt mành, vải bò...

Đối với công tác định mức tiêu hao vật tư, công ty luôn có một bộ phận theo dõi việc thực hiện các định mức này và tiến hành hoàn thiện chúng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng NVL và tiết kiệm NVL trong sản xuất tạo điều kiện hạ giá thành sản xuất sản phẩm.

Để công tác quản lý vật liệu có hiệu quả và chặt chẽ hơn, cứ sáu tháng một lần công ty thực hiện kiểm kê vật liệu nhằm xác định chính xác số lượng, chất lượng giá trị của từng thứ vật liệu.

Việc kiểm kê được tiến hành ở tất cả các kho và ở mỗi kho sẽ thành lập một ban kiểm kê gồm 3 người:

- Thủ kho

- Nhân viên thống kê kho - Kế toán vật liệu

Sau khi kết thúc công việc kiểm kê, thủ kho lập biên bản kiểm kê, trên

Thực tế cho thấy sự kết hợp chặt chẽ giữa kế toán và thủ kho nên ở Công ty Cổ phần Phong Đại Lợi hầu như không có sự chênh lệch giữa số tồn kho thực tế và sổ sách. Hơn nữa, hệ thống kho tàng của công ty rất tốt được đặt gần các nhà máy sản xuất, các điều kiện bảo quản đầy đủ nên việc vận chuyển vật liệu từ kho tới nơi sản xuất thuận tiện tránh được trường hợp mất mát, hao hụt trong quá tình vận chuyển NVL.

2.2.1.3. Đánh giá vật liệu

Tại Công ty Cổ phần Phong Đại Lợi, giá thực tế vật liệu nhập kho được xác định theo từng nguồn nhập:

* Đối với vật liệu mua ngoài nhập kho:

Tại công ty khối lượng vật liệu mua ngoài phục vụ cho SXKD rất lớn.

Khi đó, giá thực tế vật liệu nhập kho bao gồm giá mua ghi trên hóa đơn cộng (+) các CP khác phát sinh thực tế như CP thu mua (chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí lưu kho, lưu bãi, công tác phí cho nhân viên cung ứng...) và các loại thuế không được hoàn lại trừ (-) các khoản chiết khấu thương mại, khoản giảm giá hàng mua và hàng mua được trả lại.

Chi phí thu mua gồm chi phí vận chuyển, bốc dỡ, công tác phí của cán bộ thu mua. Tuy nhiên, vật liệu thu mua thường được chuyển đến và giao tại kho của công ty nên ít khi phát sinh các chi phí có liên quan ngoài giá ghi trên hóa đơn. Công ty áp dụng phương pháp khấu trừ trong việc tính thuế VAT nên giá ghi trên hóa đơn là chưa có thuế VAT.

* Đối với vật liệu nhập kho do công ty tự sản xuất như ống giấy các loại, túi polieste, giá thực tế nhập kho là giá thành công xưởng của vật liệu đó.

* Đối với vật liệu thuê ngoài gia công chế biến: giá thực tế nhập kho của vật liệu được tính theo giá thanh toán với người nhận gia công, chế biến.

* Phiếu nhập kho: giá thực tế nhập kho của phế liệu là giá bán ước tính theo mặt bằng thị trường.

Đặng Thị Ngọc - 43K7 45 Báo cáo thực tập

Đối với những vật liệu xuất kho, công ty đang áp dụng phương pháp giá hạch toán để tính giá trị của vật liệu xuất kho. Trong kỳ, khi nhận được các chứng từ xuất kho kế toán ghi sổ giá trị vật liệu xuất kho theo giá hạch toán mà doanh nghiệp mình đã chọn. Đến cuối kỳ, kế toán tính được giá trị thực tế của sổ vật liệu đã xuất kho trong kỳ trên cơ sở hệ số chênh lệch giữa giá thực tế của vật liệu và giá hạch toán của vật liệu theo công thức sau:

=  Trong đó:

=

Giá thực tế vật liệu nhập kho là giá ghi trên hóa đơn cộng với các chi phí khác thực tế phát sinh như chi phí vận chuyển, bốc dỡ chi phí lưu kho, lưu bãi... còn giá hạch toán vật liệu nhập kho là giá ghi trên phiếu nhập kho. Giá thực tế và giá hạch toán chỉ khác nhau nếu có các chi phí khác phát sinh ngoài hóa đơn tài chính.

Một phần của tài liệu Kế toán nguyên vật liệu tại Công ty Cổ phần Phong Đại Lợi (Trang 41 - 46)

Tải bản đầy đủ (DOC)

(98 trang)
w