Tiền tệ và lưu thông tiền tệ

Một phần của tài liệu giao thương đàng trong với các nước trên thế giới thế kỷ xvii xviii (Trang 51 - 55)

TRÊN TH Ế GIỚI THẾ KỶ XVII - XVIII

2.1. CHÍNH SÁCH GIAO THƯƠNG CỦA CHÚA NGUYỄN Ở ĐÀNG TRONG

2.1.2. Tiền tệ và lưu thông tiền tệ

Sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa cùng với đòi hỏi mở rộng hơn nữa ngành kinh tế đối ngoại làm xuất hiện nhu cầu cao lưu thông tiền tệ và quan hệ tiền tệ. Trên thực tế trong hai thế kỷ XVII - XVIII, quan hệ tiền tệ Đàng Trong được mở rộng cao hơn nhiều so với Đàng Ngoài. Li Tana đã lấy dẫn chứng qua tài liệu của Vũ Minh

Giang khi so sánh việc đóng góp để xây dựng hai ngôi chùa Phật giáo vào giữa thế kỷ XVII, một ở Hội An, một ở Phố Hiến và kết luận rằng: đóng góp cho ngôi chùa ở phía nam trung bình cao hơn 8 lần các đóng góp cho ngôi chùa ở phía bắc, và rằng, phần lớn các đóng góp ở phía Bắc chủ yếu là thóc gạo, trong khi đó, ở phía Nam, những đóng góp này thường là bằng tiền [85, tr. 135].

Trong quá trình buôn bán giữa Đàng Trong với nước ngoài, tiền kim loại được dùng trong việc giao dịch, trao đổi mua bán. Richard Cooks viết: "(tơ) đem đến (Đàng Trong) theo một giá phải chăng nên nhiều khi (người Hoa) có thể lời (theo tỉ lệ) 3 lời 1 , nhưng tất cả hay một phần lớn được trao đổi bằng tiền mặt" [85, tr. 139].

Quan hệ tiền tệ càng được mở rộng khi chúa Nguyễn thực hiện chính sách trả tiền thay cho một số loại thuế hay những nghĩa vụ khác đối với nhà nước. Li Tana đã khăng định: "Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Đàng Trong của thế kỷ XVII và XVIII đã trở thành một xã hội trong đó đa số các cuộc trao đổi thông thường được thực hiện bằng tiền tệ hơn là bằng hiện vật”P9P [85, tr. 117].

Thế kỷ XVII - XVIII, trong điều kiện thiếu nguyên liệu để đúc tiền đồng, tiền đồng của chúa Nguyên lại kém giá trị trong nền ngoại thương quốc tế, nên chính quyền Đàng Trong phải cho lưu hành cùng lúc nhiều loại tiền khác nhau.

Vào đầu thế kỷ XVII, cùng với việc sử dụng đồng tiền do nhà Mạc đúc có in chữ Thái Bình An pháp, ở Đàng Trong còn có một loại tiền đồng do các chúa Nguyễn đúc vào dịp lên ngôi. Loại tiền này thường được nhái lại đồng tiền đúc của nhà Mạc.

Tuy nhiên, loại tiền này không nhiều, thường là để mừng việc lên ngôi hơn là để lưu hành trong hệ thống tiền tệ.

Nhu cầu cao về tiền tệ làm nảy sinh hiện tượng nhập tiền từ nước ngoài. Tiền kim loại Nhật Bản được gọi là tiền Eiraku, trở thành một thứ hàng hóa được ưa chuộng nhất và là loại tiền lưu thông chủ yếu ở Đàng Trong. Năm 1608, chính quyền Nhật cấm lưu hành tiền Eiraku nhằm thống nhất tiền tệ của họ. Đây là cơ hội để thương nhân Nhật Bản kiếm lợi nhuận lớn khi đem loại tiền đồng này bán tại Đàng Trong vào ba thập kỷ đầu thế kỷ XVII. Hàng năm, các Châu Ấn thuyền Nhật Bản

thường mang thứ hàng hóa đặc biệt này đến bán ở Hội An. Thương nhân Hà Lan, thương nhân Trung Hoa cũng tích cực tham gia buôn bán loại đông tiên này. Năm 1688, khi tiền đồng Nhật Bản nhập vào Đàng Trong ngày một ít đi, chúa Nguyễn Phúc Trăn đã gửi thư và quà biếu đến hoàng đế và chính phủ Tokugawa yêu cầu họ đúc tiền nhân danh ông, nhưng yêu cầu này không được đáp ứng.

Tiền đồng Nhật Bản có vai trò quan trọng trong nền thương nghiệp Đàng Trong.

Việc lưu hành loại đồng tiền này trước hết là để thỏa mãn nhu cầu như đã nói ở trên, khách quan nó còn có tác dụng kích thích các yêu cầu của nền thương mại của Đàng Trong vào thế kỷ XVII.

Tiền đồng của Trung Hoa cũng được đem bán tại thị trường Đàng Trong, nhiều nhất là vào cuối thế kỷ XVII, khi tiền đồng Nhật Bản trở nên khan hiếm mà nhu cầu lưu thông tiền tệ thì ngày một cao hơn. Bên cạnh tiền đồng, ở Đàng Trong còn sử dụng bạc nén, bạc thoi, vàng trong trao đổi. Thương nhân nước ngoài thường đem bạc Nhật, bạc Trung Quốc đến để mua hàng. Tiền tệ với chức năng là vật trung gian để trao đổi hàng hóa. Tuy nhiên, tiền tệ còn có chức năng là vật ngang giá chung với bạc và vàng nên khi nhập vào Đàng Trong, một phần dùng trong lưu thông tiền tệ, một phần để lưu trữ. Đối với những đồng tiền có chất lượng kém hơn thì được dùng để đúc vũ khí và các vật dụng khác. Lê Quý Đôn đã phản ánh điều đó trong Phủ biên tạp lục: "Họ Nguyễn trước kia cũng dùng tiền đồng cổ hiệu Khang Hy, dân gian hay phá tiền đồng làm đồ, tiền cũ mỗi ngày mỗi hao (...). Năm Giáp Ngọ, quân nhà vua vào Thuận Hoá, biên kho tàng, thấy hơn 30 vạn quan xâu băng mây, đêu là tiền tốt, một đồng không lẫn, mới biết từ trước đều do thuyền buôn chở vào đấy [82, tr.221]. Việc qui đổi giá trị giữa các loại tiền, bạc nén hết sức phức tạp do không có những quy định thống nhất trong việc quy đổi. Điều này đã góp phần làm tăng nạn lạm phát ở Đàng Trong vào hậu bán thế kỷ XVIII. Do tính chất phức tạp của nó, vấn đề tiền tệ luôn là mối bận tâm của chính quyền họ Nguyễn ở Đàng Trong.

Chúa Nguyễn có ý thức độc lập về tiền tệ nên đã tìm cách đúc tiền riêng của mình vào năm 1725, mặc dầu trước đó vào năm 1688 đã xúc tiến việc đúc tiền nhưng

không thành công. Chúa Nguyễn cũng mong muốn đồng tiền Đàng Trong thực sự được gia nhập vào nền thương mại khu vực và thế giới. Tuy nhiên, điều mà các chúa Nguyễn mong muốn vẫn chưa thể đáp ứng được một cách đầy đủ, vì đầu thế kỷ XVIII đồng và tiền kim loại ở Trung Hoa tăng giá. Hơn nữa, việc Trung Hoa cấm xuất khẩu đồng, Nhật Bản cũng giới hạn việc xuất khẩu đồng đến Đàng Trong làm cho giá đồng ở đây tăng cao, vì thế, tiền đồng trở nên đặc biệt khan hiếm. Để giải quyết nhu cầu tiền tệ, chính quyền Đàng Trong đã gia tăng việc đúc tiền ở trong nước. Ngoài những cơ sở đúc tiền của nhà nước, nhiều cơ sở đúc tiền ở các địa phương được phép thành lập. Tư nhân lợi dụng cơ hội này để kiếm lợi. Chỉ trong một thời gian ngắn, "đến hơn 100 lò, gọi là tiên Thiên Minh thông bảo, trộn lân cả chì vào, tiền ngày càng nhỏ mỏng, có thể bẻ gãy được" [82, tr.222].

Việc xuất hiện ồ ạt đồng tiền tự đúc ở Đàng Trong, nhất là tiền kẽm với số lượng ngày càng nhiều. Đồng tiền kẽm giá rẻ, số lượng nhiều, bước đầu có thể đáp ứng được phần nào yêu cầu về mặt tiền tệ. Tuy nhiên, do chất lượng tiền kẽm ngày càng kém đi, nên hiện tượng tích lũy tiền đồng trong dân chúng đã tạo nên một sự khủng hoảng tiền tệ trong giai đoạn này. Chính tình hình đó càng làm cho đồng trở nên đắt giá hơn. Bây giờ, mệnh giá đồng tiền Đàng Trong phụ thuộc vào giá trị chất liệu, và trọng lượng kim loại đồng tạo ra nó. Đồng tiền xấu, kém chất lượng được sản xuất với số lượng nhiều là một trong những nguyên nhân làm cho nạn lạm phát ở xứ Đàng Trong từ giữa thế kỷ XVIII tăng cao. Chúa Nguyễn đã áp dụng một số biện pháp để đúc tiền đồng nhằm ngăn chặn việc đúc và lưu hành tiền xấu, nhưng việc làm này quá tốn kém và do đó, đồng tiền tốt đã sớm bị đồng tiền xấu loại ra khỏi thị trường vì đồng tiền tốt thường được cất giữ làm của cải. Những cố gắng của chính quyền vẫn không cứu vãn nổi diễn biến xấu của tình hình tiền tệ Đàng Trong.

Nhìn chung, các chúa Nguyễn đã chú trọng lưu thông tiền tệ và mở rộng quan hệ tiền tệ để đáp ứng nhu cầu phát triển của nền sản xuất hàng hóa và nhu cầu phát triển thương mại của xứ Đàng Trong. Việc nhập tiền đồng từ Nhật Bản và Trung Hoa, việc sản xuất tiền kim loại ở trong nước là những cố gắng lớn của các chúa Nguyễn trong

bối cảnh xã hội thế kỷ XVII - XVIII. Tuy nhiên, sai lầm của chúa Nguyễn là không biết duy trì giá trị đồng tiền đúc trong nước, nên đồng tiền Đàng Trong vào thế kỷ XVIII không những không có vị trí trong quan hệ thương mại quốc tế mà còn không được chấp nhận trong nền nội thương. Đây là một trong những biểu hiện đồng thời là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng kinh tế Đàng Trong vào cuối thế kỷ XVIII.

Một phần của tài liệu giao thương đàng trong với các nước trên thế giới thế kỷ xvii xviii (Trang 51 - 55)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(182 trang)