Th ực trạng phát triển du lịch theo ngành

Một phần của tài liệu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh phú yên (Trang 83 - 96)

Chương 2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC LÃNH TH Ổ DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN

2.2. Th ực trạng phát triển và tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Yên

2.2.1. Th ực trạng phát triển du lịch theo ngành

2.2.1.1. Khách du lịch - Số lượt khách du lịch

Bảng 2.2. Diễn biến khách du lịch đến Phú Yên giai đoạn 2000 – 2013

Năm Lượt khách Trong đó

Khách quốc tế Khách nội địa Tổng số Tỷ trọng % Tổng số Tỷ trọng %

2000 35.011 1.073 3,1 33.938 96,9

2001 52.670 1.580 3,0 51.090 97,0

2002 54.736 1.944 3,6 52.792 96,4

2003 61.912 1.812 2,9 60.100 97,1

2004 70.479 2.106 3,0 68.373 97,0

2005 80.500 2.700 3,4 77.800 96,6

Tăng TB 18,1% 20,3% - 18,0% -

2006 95.000 2.600 2,7 92.400 97,3

2007 120.100 4.773 4,0 115.327 96,0

2008 165.312 6.517 3,9 158.795 96,1

2009 231.100 8.100 3,5 222.900 96,5

2010 361.000 20.500 5,6 340.500 94,4

Tăng TB 39,6% 67,6% - 38,6% -

Tăng TB (200–2010)

26,3% 34,3% - 25,9% -

2011 530.900 30.900 5,8 500.000 94,2

2012 540.800 40.100 7,4 500.700 92,6

2013 640.500 60.500 9,4 580.000 90,6

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên, năm 2014

Thời gian qua nhờ chính sách Đổi mới của Đảng và Nhà nước trong hoạt động du lịch, Phú Yên đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận về số lượt khách. Đặc biệt trong khoảng 10 năm trở lại đây (2000 - 2010), tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 26,3

%. Có thể đánh giá diễn biến phát triển du khách Phú Yên theo các giai đoạn:

Giai đoạn 2000 - 2005: Tốc độ tăng trưởng bình quân về du khách hằng năm là 18,1 %. Năm 2001, lượng khách du khách du lịch đến Phú Yên đạt 52.670 lượt khách và vẫn duy trì tăng đều ở các năm tiếp theo. Năm 2003, 2004, du lịch thế giới chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh và các cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị… thì Phú Yên vẫn duy trì được lượng khách và đến cuối năm 2005 cùng với xu hướng hồi phục của du lịch Việt Nam, lượng du khách đến Phú Yên đạt 80.500 người, tăng 2,3 lần so với năm 2000.

Giai đạn 2006 - 2010: cùng với sự hồi phục của du lịch thế giới và Việt Nam, khách du lịch đến Phú Yên vẫn duy trì mạch tăng trưởng đều đặn. Du khách đến Phú Yên qua các năm 2006, 2007, 2008, 2009, 2010 tăng ổn định. Năm 2010, lượng khách du lịch đến Phú Yên đạt 361.000 lượt khách, duy trì mức tăng trưởng 39,6%.

Tính chung cho cả giai đoạn 2000 - 2010, lượng khách du lịch đến Phú Yên có nhịp tăng trưởng tương đối bền vững ở mức 26,3 %/năm. Khách đến với mục đích nghỉ dưỡng - tắm biển, tham dự lễ hội là lớn nhất. Tuy nhiên lượng khách này vẫn còn thấp so với các chỉ tiêu dự báo đã đề ra. Nguyên nhân cơ bản là một số dự án chậm đưa vào hoạt động, bên cạnh đó là việc xác định chưa chính xác luồng khách và các thị trường gửi khách du lịch đến với Phú Yên.

Giai đoạn từ năm 2011 cho đến nay, khách du khách lịch đến Phú Yên có nhiều thay đổi khởi sắc. Năm 2011, Phú Yên đăng cai Năm du lịch quốc gia duyên hải Nam Trung Bộ. Sự kiện này đã tạo cú huých cho du lịch tỉnh nhà. Năm 2011, khách du lịch đến Phú Yên là 530.900 lượt, tăng 47 % so với năm 2010, trong đó khách quốc tế đạt 30.900 lượt, tăng 50,7 % so với năm 2010. Từ sự kiện này khách du lịch tìm đến Phú Yên ngày càng đông và có sự gia tăng đáng kể tỷ trọng khách nước ngoài, trong đó luồng khách chủ yếu đến từ Nga. Năm 2013, lượng khách đến Phú Yên là 640.500 lượt trong đó du khách quốc tế là 60.500 lượt.

Hình 2.3. Biểu đồ thể hiện lượt khách du lịch đến Phú Yên giai đoạn 2000 - 2013 So với các tỉnh khác trong vùng Duyên hải Nam Trung Bộ như Bình Định, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, lượng du khách đến Phú Yên còn rất khiêm tốn (lượng khách đến Phú Yên chỉ bằng 24,4 % tới Bình Định, và 10,4 % đến Khánh Hòa). Điều này cho thấy sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh của Phú Yên còn yếu.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế cao hơn các địa phương khác (25,2 %). Nguyên nhân chính là do sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch với các bãi biển đẹp và môi trường ở đây còn khá trong lành và nguyên sơ, mặc khác là sự cải thiện của hệ thống giao thông.

- Ngày lưu trú trung bình

Số liệu thống kê của Cục thống kê tỉnh Phú Yên cho biết số ngày lưu trú của du khách có xu hướng tăng lên, đặc biệt là khách quốc tế. Giai đoạn 2000 - 2005 khách quốc tế lưu trú tại Phú Yên dao động từ 1,6 - 1,8 ngày; giai đoạn từ 2006 – 2008 là 1,7 - 2 ngày, và đến năm 2010 là 2,5 ngày. Ngày lưu trú trung bình của khách nội địa cũng dao động từ 1,2 - 1,7 ngày. Năm 2013, ngày lưu trú trung bình của khách du lịch đến Phú Yên là 1,79 ngày, so với dự báo quy hoạch du lịch đưa ra năm 1996 là còn thấp

35,011 52.670 54,736 61,912 70,479 80.500 95.000 120.100 165,312

231.100 361.000

530.900 540.800

640.500

0,000 100,000 200,000 300,000 400,000 500,000 600,000 700,000

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Lượt khách

(dự báo từ 2,8 - 3,0 ngày). Nguyên nhân vì Phú Yên còn thiếu các sản phẩm du lịch đặc trưng, có nhiều hạn chế về các dịch vụ bổ sung như vui chơi giải trí, thể thao… do đó không thể giữ chân du khách dài ngày.

- Mức chi tiêu của khách du lịch

Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên thì giai đoạn 2000 - 2010, chi tiêu của khách du lịch tại Phú Yên trung bình một khách quốc tế là 900.000 - 1.000.000 VNĐ/ngày (tương đương với 46 USD/ngày); khách du lịch nội địa khoảng 650.000 - 700.000 VNĐ/ngày (tương ứng với 33,4 USD/ngày). Mức chi tiêu thực tế này thấp hơn nhiều so với dự báo quy hoạch năm 1996 là khoảng 80 - 120 USD/ngày (khách quốc tế) và 35 - 45 USD/ngày (khách nội địa).

2.2.1.2. Doanh thu du lịch - Doanh thu du lịch

Doanh thu du lịch gồm các khoản do du khách chi trả: lưu trú, ăn uống, bán hàng, vận chuyển… Ngoài ra còn có một số ngành dịch vụ khác không phải do ngành du lịch trực tiếp thu: y tế, ngân hàng, bưu điện, phim ảnh, bảo hiểm… là những ngành vừa phục vụ cộng đồng, vừa phục vụ du khách. Tổ chức du lịch thế giới đã áp dụng hệ thống thống kê cho các nước thành viên về thu nhập du lịch. Nó được tính bằng toàn bộ số tiền mà khách du lịch phải chi trả khi đi thăm một nước khác (trừ chi phí cho việc vận chuyển hàng không quốc tế). Tuy nhiên ở nước ta nói chung, và Phú Yên nói riêng, hệ thống thống kê chưa được hoàn chỉnh nên toàn bộ khoảng chi trả của du khách chưa được thống kê chính xác.

Số liệu thống kê cho thấy, thu nhập du lịch của tỉnh vừa qua đã có sự tăng trưởng đáng kể. Nếu như năm 2000 tổng thu nhập du lịch toàn tỉnh mới chỉ khoảng 12,3 tỷ đồng thì đến 2001 đã tăng 1,2 lần và đạt 14,77 tỷ đồng, năm 2003 là 24,63 tỷ, 2005 là 36,9 tỷ tương đương 1,942 triệu USD (dự báo 17,6 triệu USD). Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2000 – 2005 là 24,4 %. Giai đoạn 2006 - 2010, tiếp tục đà tăng trưởng đó, cùng với sự tăng mạnh mẽ của dòng khách du lịch nội địa đến Phú Yên, thu nhập từ du lịch đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ và đột biến. Năm 2011, Phú Yên đăng cai Năm du lịch quốc gia duyên hải Nam Trung Bộ, doanh thu du lịch tăng vượt bậc, đạt 450 tỷ đồng.

Bảng 2.3. Doanh thu ngành du lịch Phú Yên giai đoạn 2000 - 2013 Đơn vị: Triệu đồng

Năm Doanh thu du lịch Cơ cấu doanh thu (%)

Tổng số Quốc tế Nội địa Tổng số Quốc tế Nội địa

2000 12.389,4 533,0 11.856,4 100,0 4,3 95,7

2001 14.765,4 971,3 13.794,1 100,0 6,6 93,4

2002 18.171,0 1.194,5 16.976,5 100,0 6,6 93,4

2003 24.625,8 1.882,8 22.743,0 100,0 7,7 92,3

2004 26.544,6 2.026,8 24.517,8 100,0 7,6 92,4

2005 36.900,0 3.515,4 33.384,6 100,0 9,5 90,5

2006 57.060,0 4.450,7 52.609,3 100,0 7,8 92,2

2007 85.399,2 6.558,7 78.840,5 100,0 7,7 92,3

2008 162.176,4 15.957,7 146.218,7 100,0 9,8 90,2 2009 253.800,0 24.283,3 229.516,7 100,0 9,6 90,4 2010 450.000,0 50.400,0 399.600,0 100,0 11,2 88,8 2011 456.000,0 51.980,0 404.020,0 100,0 11,4 88,6 2012 500.000,0 60.000,0 440.000,0 100,0 12,0 88,0 2013 540.000,0 72.900,0 467.100,0 100,0 13,5 86,5 Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên, năm 2014 - Cơ cấu doanh thu du lịch

Trong những năm qua, du lịch Phú Yên chủ yếu đáp ứng một phần nhu cầu: lưu trú, ăn uống, vận chuyển khách. Dịch vụ lữ hành đưa khách du lịch đi tham quan danh lam thắng cảnh còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng doanh thu du lịch. Khách du lịch lưu lại đây thường không lâu, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến doanh thu du lịch.

Khách du lịch đến Phú Yên (cả khách quốc tế và địa phương) đều chi tiêu nhiều cho dịch vụ lưu trú và ăn uống. Trong doanh thu, dịch vụ ăn uống chiếm tỷ lệ dao động từ 29 - 30 %, và dịch vụ lưu trú chiếm trên dưới 36 %.

- Giá trị gia tăng (GDP) du lịch:

Giá trị gia tăng ngành du lịch Phú Yên năm 2000 đạt 10.514 tỷ đồng, năm 2005 đạt 24.908 tỷ và 2010 là 176 tỷ (theo giá so sánh 1994), đạt tốc độ tăng trưởng 32,5

%. Theo niên giám thống kê tỉnh Phú Yên, tỷ trọng doanh thu du lịch so với tổng GDP của tỉnh: năm 2000 là 3,8 %, năm 2005 là 3,1 %, năm 2010 là 3,6 %.

Hình 2.4: Biểu đồ thể hiện tổng doanh thu du lịch Phú Yên giai đoạn 2000 - 2013 12.389 14.765 18.171

24.626 26.545 36.900 57.060 85.399

162.176 253.800

450.000 456.000 500.000

540.000

0 100000 200000 300000 400000 500000 600000

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

Trieu dong

Triệu đồng

Bảng 2.4. Cơ cấu doanh thu du lịch Phú Yên phân theo các hạng mục giai đoạn 2001 – 2010 Đơn vị tính: Tỷ đồng

Năm 2000 2001 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tăng TB

(%) Tổng doanh

thu

12,40 14,77 24,63 26,54 36,90 57,06 85,40 162,18 253,80 450,00 43,20

Các hạng mục

Ăn uống 4,42 6,90 8,06 8,44 10,33 13,63 18,28 38,11 75,61 140,6 41,3 Lưu trú 3,43 4,64 7,88 7,68 12,08 20,31 33,26 56,53 76,98 137,5 44,6 Lữ hành 0,84 1,47 1,54 1,75 1,99 3,25 4,76 8,53 15,20 27,10 41,6 Vận chuyển 0,19 0.35 0,49 0,53 0,81 1,43 2,13 4,54 7,61 16,70 56,5 Bán hàng hóa 1,36 2,54 2,96 3,08 5,76 6,93 10,79 23,03 31,42 68,50 48,00 Doanh thu

khác

2,15 2,27 3,69 5,07 5,93 11,51 16,17 31,43 46,98 59,50 39,40

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên, năm 2012

2.2.1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

CSVCKT du lịch bao gồm các cơ sở lưu trú, ăn uống, thể thao, vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển…

Bảng 2.5. Hiện trạng cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Phú Yên

Năm Tổng số cơ sở lưu trú Tổng số buồng Tổng số giường

2000 12 251 512

2002 13 282 560

2003 12 301 602

2004 15 344 669

2005 24 536 1.051

Tăng TB 14,9 % 16,4 % 15,5 %

2006 32 739 1.350

2007 35 792 1.414

2008 44 933 1.691

2009 67 1.484 2.380

2010 100 2.178 4.000

Tăng TB 23,6 % 25,8 % 23,4 %

2011 108 2.500 4.200

2012 117 2.690 4.500

2013 120 2.760 4.630

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên, năm 2012 - Cơ sở lưu trú

Giai đoạn 2000 - 2010, cơ sở lưu trú phục vụ du lịch Phú Yên phát triển khá nhanh. Năm 2000 chỉ có 12 cơ sở hoạt động với 251 buồng và 512 giường. Năm 2005 tăng lên 24 cơ sở với 536 buồng và 1.051 giường. Đến năm 2010, Phú Yên có khoảng 100 cơ sở lưu trú với 2.178 buồng và 4000 giường. Năm 2013, cả tỉnh có 2 khách sạn 5 sao (Cenduluxe hotel, Vietstar Resort & Spa Phú Yên), 2 khách sạn 4 sao (Kaya, Sài Gòn – Phú Yên), 01 khách sạn 3 sao, 04 khách sạn 2 sao, 39 khách sạn 1 sao, 51 nhà nghỉ đạt tiêu chuẩn kinh doanh du lịch. Một số khách sạn, khu du lịch lớn đã đi vào

hoạt động và đang tiếp tục đầu tư theo tiêu chuẩn 4 - 5 sao như: khu du lịch Sao Việt, khu du lịch Hòn Ngọc - Bãi Tràm, khu Thuận Thảo golden beach Resort, khu du lịch Bãi Xép, khách sạn Long Beach... (Xem phụ lục 33, trang 202 – 204)

Trong những năm gần đây, du lịch phát triển khá mạnh, lượt khách du lịch lưu trú giai đoạn 2010 - 2010 tăng bình quân 23,6 %/năm, trong đó khách quốc tế tăng 34

%/năm; số buồng lưu trú tăng 25,8 %/năm, số giường lưu trú tăng 23,4 %/năm. Cơ sở lưu trú ở Phú Yên phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Những nơi phát triển nhanh nhất là TP Tuy Hòa, TX Sông Cầu, huyện Tuy An…

Công suất sử dụng buồng đang ngày càng tăng lên. Năm 2000, công suất sử dụng buồng trung bình là 31 %, năm 2005 là 36 % , năm 2010 là 55,7 %. Chất lượng cơ sở lưu trú luôn chú trọng nâng cao như tăng cường trang thiết bị, tiện nghi đầy đủ, hiện đại, đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Quy mô cơ sở lưu trú chủ yếu là quy mô vừa và nhỏ, đạt trung bình 22,09 buồng/cơ sở. Số cơ sở dưới 20 buồng chiếm 55,2 %, từ 20 - 40 buồng chiếm 26,86 %, trên 40 buông chiếm 11,94 %. Một số khách sạn có số buồng lưu trú nhiều: Cendeluxe có 218 buồng, Sài Gòn - Phú Yên có 90 buồng, Kaya có 82 buồng… Trong số các cơ sở lưu trú, có 9,5 % thuộc về doanh nghiệp nhà nước, 90,5 % thuộc về doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp liên doanh nước ngoài.

- Cơ sở ăn uống, nhà hàng

Cơ sở ăn uống, nhà hàng có thể nằm trong hoặc độc lập với các cơ sở lưu trú, cơ sở vui chơi giải trí… Phú Yên trong thời gian qua rất quan tâm phát triển các cơ sở này. Hiện tại Phú Yên có khoảng 40 nhà hàng nằm trong các cơ sở lưu trú với 18.500 chỗ ngồi, phục vụ các món ăn khác nhau đáp ứng nhu cầu du khách. Các cơ sở ăn uống bên ngoài khách sạn có 67 cơ sở với 8.500 chỗ ngồi, trong đó có 26 cơ sở có quy mô lớn và chất lượng cao. Chúng phần lớn nằm ở TP Tuy Hòa. Giá cả cho dịch vụ ăn uống ở Phú Yên rẻ hơn nhiều nơi khác, trung bình từ 50.000 - 200.000 đồng /xuất ăn.

Đây là một lợi thế cho du lịch tỉnh nhà.

- Các khu vui chơi, giải trí và dịch vụ khác

Các khu vui chơi giải trí bao gồm trung tâm thể thao, nhà hát, rạp chiếu phim, bể bơi, vũ trường… có tác dụng bổ trợ, thậm chí có khi đóng vai trò quan trọng để thu

hút và giữ chân khách. Hiện toàn tỉnh có 1 sân vận động, 6 nhà thi đấu thể thao. Các trung tâm giải trí Trung tâm giải trí và sinh thái Thuận Thảo, Câu lạc bộ Phù Đổng, Khu du lịch sinh thái Đá Bia, Khu du lịch Nhất Tự Sơn… Nhìn chung, các khu vui chơi, giải trí ở Phú Yên còn ít về số lượng và kém về chất lượng. Những dịch vụ bổ trợ cho du lịch vẫn còn là điểm yếu của tỉnh.

2.2.1.4. Lao động trong ngành du lịch

Bảng 2.6. Cơ cấu lao động ngành du lịch Phú Yên, giai đoạn 2000 - 2013 Đơn vị: Người

Năm Tổng số Trình độ đào tạo

ĐH và trên ĐH CĐ và Trung học Lao động khác Số

lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

2000 203 20 10,0 29 14,0 154 76,0

2001 252 42 17,0 35 13,5 175 69,5

2002 268 45 17,0 40 14,5 183 68,5

2003 255 47 18,4 37 14,5 171 67,1

2004 297 56 18,9 46 15,5 195 65,6

2005 349 63 18,1 59 16,9 227 65,0

2006 880 98 11,1 138 15,7 644 73,2

2007 1.456 146 10,1 230 15,7 1.080 74,2

2008 1.670 164 9,8 264 15,8 1.242 74,4

2009 2.000 368 18,4 404 20,2 1.228 61,4

2010 3.250 530 16,3 1.140 35,1 1.580 48,6

2011 3.300 544 16,5 1.171 35,5 1.585 48,0

2012 3.310 546 16,5 1.175 35,5 1.587 48,0

2013 3.600 608 16,9 1.314 36,5 1.677 46,6

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Phú Yên, năm 2012

Số lượng và chất lượng lao động là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ du lịch. Lao động trong ngành du lịch gồm lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Lao động trực tiếp là lao động làm việc trong các khách sạn, nhà hàng, các công ty lữ hành, các cơ sở dịch vụ du lịch khác. Lao động gián tiếp tham gia vào các hoạt động liên quan đến du lịch. Tỷ lệ giữa lao động trực tiếp và gián tiếp thường là 1/2,2. Thời gian qua, đội ngũ hoạt động du lịch của tỉnh tăng mạnh về số lượng.

Chất lượng nguồn lao động đang ngày được cải thiện.

Hình 2.5: Biểu đồ thể hiện tổng số lao động du lịch Phú Yên giai đoạn 2000 - 2013 Mặc dù có sự gia tăng đáng kể về đội ngũ lao động ngành trong những năm gần đây, đội ngũ lao động du lịch Phú Yên vẫn còn thiếu và yếu nếu so sánh với các tỉnh thành trong khu vực: TP Đà Nẵng, Bình Định, Khánh Hòa, Bình Thuận… Nhìn chung, lao động trong lĩnh vực du lịch của tỉnh chưa qua đào tạo còn chiếm tỷ lệ cao, trình độ nghiệp vụ sơ cấp chiếm phần lớn, trình độ ngoại ngữ còn thấp. Hiện tại, lao động du lịch Phú Yên đang thiếu cả về số lượng lẫn chất lượng.

203 252 268 255 297 349 880

1.456 1.670

2.000

3.250 3.300 3.310 3.600

0 500 1000 1500 2000 2500 3000 3500 4000

2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

Người

Người

2.2.1.5. Công tác quy hoạch và đầu tư phát triển

Từ những chủ trương, chính sách phù hợp Phú Yên đã thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh. Tính trong giai đoạn 2006 - 2010, UBND tỉnh đã có quyết định chấp thuận đầu tư cho 54 dự án, tổng diện tích trên 1.726 ha, tổng số vốn đăng ký là 93.163 tỷ đồng. Trong đó: nhà đầu tư trong nước: 43 dự án với số vốn là 12.284,4 tỷ đồng; nhà đầu tư nước ngoài: 11 dự án với số vốn là 5.054,9 triệu USD. Trong số các dự án đầu tư có một số đã đi vào hoạt động có hiệu quả như Trung tâm giải trí và sinh thái Thuận Thảo, khu du lịch sinh thái Đá Bia, khu du lịch Bãi Bàu, khu du lịch Núi Thơm… Nhìn chung, vì Phú Yên là tỉnh nghèo, ngân sách du lịch còn hạn hẹp nên vốn đầu tư cho du lịch còn thấp và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển.

2.2.1.6. Công tác xúc tiến và quảng bá du lịch

Trước khi Phú Yên được đăng cai Năm du lịch quốc gia duyên hải Nam Trung Bộ (2011), còn rất ít người biết đến vùng đất này. Sự kiện trên thực sự là một sự kiện quan trọng đánh dấu bước chuyển mình của du lịch tỉnh nhà. Các hoạt động trước, trong, và sau sự kiện đã làm gia tăng một lượng khách đáng kể đến Phú Yên. Công tác xúc tiến và quảng bá du lịch Phú Yên đã được quan tâm thực hiện từ trước, nhưng thực sự mạnh kể từ sự kiện trên. Một số sự kiện đáng chú ý:

- Năm 2001 có: Hội chợ triển lãm Triển vọng Việt Nam (lần 1); Hội chợ triển lãm Việt Nam - Hoa Kỳ.

- Năm 2002 có: Hội chợ triển lãm Triển vọng Việt Nam (lần 2).

- Tháng 04.2003, tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư du lịch tại TP Hồ Chí Minh (lần 1).

- Năm 2004 có: Hội chợ Nông nghiệp Quốc tế Việt Nam.

- Tháng 03.2005, tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư du lịch tại TP Hồ Chí Minh (lần 2).

- Năm 2009 có: Chương trình duyên dáng Việt Nam lần thứ 22; Cuộc thi chung kết Sao Mai 2009.

- Năm 2010 có: Cuộc thi Sao Mai điểm hẹn 2010; Hoa hậu Trái Đất 2010.

- Năm 2011 có nhiều sự kiện lớn được tổ chức: Chương trình duyên dáng Việt Nam lần 23; Hội thơ Nguyên tiêu núi Nhạn; Ngày hội Văn hóa, Thể thao và Du lịch

các dân tộc Việt Nam khu vực miền Trung - Tây Nguyên; Liên hoan Ca múa nhạc chuyên nghiệp các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên; Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 17…

- Năm 2012 có: Hội nghị xúc tiến, quảng bá du lịch Phú Yên tại các tỉnh Tây Nguyên.

- Năm 2013 có: Hội nghị xúc tiến, quảng bá du lịch Phú Yên tại Hà Nội.

- Tháng 07. 2014 có: Hội nghị xúc tiến, quảng bá du lịch Phú Yên tại TP Hồ Chí Minh.

Phú Yên đã ký kết các chương trình liên kết, hợp tác phát triển du lịch với nhiều tỉnh thành trong khu vực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, TP Hồ Chí Minh, Hà Nội…

Tỉnh đã tổ chức nhiều đoàn đi công tác các nước: khối EU, ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… để nghiên cứu thị trường du lịch cũng như quảng bá hình ảnh Phú Yên với thế giới.

Phú Yên cũng đã xây dựng nhiều ấn phẩm quảng bá du lịch: website du lịch Phú Yên, sách du lịch, cẩm nang xúc tiến thương mại - du lịch Phú Yên, bản đồ du lịch Phú Yên, ảnh du lịch, phim tài liệu về du lịch Phú Yên… Hợp tác quảng bá hình ảnh Phú Yên với đài truyền hình Việt Nam, tạp chí du lịch và giải trí, các website của nhiều công ty lữ hành…

Nhìn chung, Phú Yên đã có nhiều cố gắng trong việc giới thiệu hình ảnh tỉnh nhà với du khách trong và ngoài nước. Điều này đã mang lại những thành công đáng ghi nhận bước đầu. Tuy nhiên, do kinh phí còn eo hẹp, chủ yếu là vốn nhà nước, do một số công ty du lịch chưa thực sự tích cực trong việc quảng bá du lịch Phú Yên nên hiệu quả còn thấp, hoạt động còn mờ nhạt.

2.2.1.7. Quản lý nhà nước về du lịch

Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo của Chính phủ về du lịch, sự giúp đỡ của Tổng cục Du lịch và Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, tỉnh đã ban hành nhiều nghị quyết về phát triển du lịch ở các giai đoạn khác nhau. Trong giai đoạn 2011 - 2015 có thể kể đến như: Nghị quyết Số: 36/NQ-HĐND (2011) “Về phát triển du lịch tỉnh Phú Yên giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020”; Quyết định của UBND tỉnh Phú Yên số: 1194/QĐ - UBND (2011) phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh

Một phần của tài liệu tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh phú yên (Trang 83 - 96)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(219 trang)