Thực trạng công tác lập kế hoạch thanh tra thuế

Một phần của tài liệu hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại cục thuế tỉnh hưng yên (Trang 67 - 70)

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.2. Thực trạng thanh tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Hưng Yên

4.2.1. Thực trạng công tác lập kế hoạch thanh tra thuế

Lập kế hoạch thanh tra tại trụ sở người nộp thuế hàng năm đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công tác thanh tra nhằm đạt được các mục tiêu:

phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực thanh tra; nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác thanh tra.

Hiện nay, theo cơ chế tự khai tự nộp thuế, kế hoạch thanh tra thuế được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích thông tin người nộp thuế. Cơ sở dữ liệu thông tin về người nộp thuế của ngành thuế: Hồ sơ khai thuế, hồ sơ hoàn thuế, hồ sơ quyết toán thuế; Báo cáo tài chính doanh nghiệp; Thông tin về tình hình tài chính, sản xuất kinh doanh của người nộp thuế; Thông tin về việc chấp hành pháp luật về thuế của người nộp thuế. Ngoài ra, việc phân tích thông tin người nộp thuế còn dựa trên cơ sở dữ liệu thông tin về người nộp thuế của các cơ quan thuộc ngành Tài chính như: Hải quan và Kho bạc Nhà nước; Thanh tra tài chính; Uỷ ban chứng khoán; Cục quản lý giá; Kiểm toán Nhà nước;

Thanh tra chính phủ; các cơ quan quản lý thuộc Bộ, ngành, hiệp hội ngành nghề kinh doanh; thông tin từ các cơ quan truyền thông phát thanh, truyền hình, báo chí...

Phân tích hồ sơ khai thuế cung cấp các thông tin tổng quát về doanh nghiệp cũng như giúp cán bộ thanh tra phát hiện các dấu hiệu nghi vấn, bất hợp lý để từ đó có định hướng thanh tra tập trung vào những nghiệp vụ có rủi ro cao, tránh tình trạng kiểm tra lan man, không hiệu quả. Hàng năm, Cục thuế tỉnh Hưng Yên chỉ đạo việc phân tích hồ sơ khai thuế theo công văn hướng dẫn công tác xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm của Tổng Cục thuế để xây dựng kế hoạch thanh tra trong năm (phụ lục 2 đính kèm).

Qua bảng so sánh trên có thể thấy công tác xây dựng kế hoạch thanh tra từ đơn giản, hệ thống chỉ tiêu lựa chọn doanh nghiệp còn sơ sài đã tiến tới

phương pháp xây dựng kế hoạch thanh tra khoa học hơn, dựa trên các chỉ tiêu đánh giá phân tích rủi ro, mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế.

Việc phân bổ nguồn lực từ thiếu cơ sở khoa học và tính toán chính xác đã dần được phân bổ hợp lý hơn.

Bắt đầu từ năm 2013, công tác thanh tra sau hoàn thuế GTGT đã được chú ý hơn. Trước năm 2013, việc thanh tra sau hoàn thuế GTGT chỉ được tiến hành kết hợp với thanh tra quyết toán thuế. Nhiều doanh nghiệp được xét hoàn thuế trước, kiểm tra sau nhiều kỳ hoàn liên tiếp nhưng phải chờ đến khi thanh tra quyết toán thuế mới được kiểm tra sau hoàn thuế. Điều này dẫn đến khả năng doanh nghiệp mắc những lỗi hệ thống kéo dài từ năm này qua năm khác nhưng không được phát hiện xử lý kịp thời, gây thất thoát thuế cho nhà nước. Đến khi phát hiện thì số thuế GTGT bị truy hồi hoàn lớn, doanh nghiệp bị phạt hành chính về thuế lớn, trực tiếp ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp, hiệu quả ngăn ngừa, xử lý vi phạm pháp luật về thuế không cao. Từ năm 2013, Tổng Cục thuế chỉ đạo thanh tra sau hoàn thuế đối với ít nhất 50%

số doanh nghiệp được hoàn thuế trước, kiểm tra sau. Có thể nói đây là bước tiến tích cực trong công tác thanh tra thuế.

Kế hoạch thanh tra doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do phòng thanh tra lập theo sự phân công của Cục thuế tỉnh Hưng Yên. Theo quy trình thanh tra, kiểm tra thuế, danh sách các đơn vị cần thanh tra trong năm được lấy chủ yếu từ hai nguồn: danh sách do phòng Kiểm tra thuế số 2 (phòng kiểm tra doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) đề nghị và chuyển hồ sơ và danh sách do chính phòng thanh tra lập. Ngoài ra, kế hoạch thanh tra được bổ sung theo yêu cầu của Tổng cục thuế hay khi có đơn khiếu nại tố cáo.

Bảng 4.1. Kế hoạch thanh tra đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

STT Chỉ tiêu Đơn

vị

Năm So sánh (%)

2010 2011 2012 2013 2011/

2010

2012/

2011

2013/

2012 1 Thanh tra theo kế hoạch DN 10 12 15 20 120 125 133,33

2 Thanh tra đột xuất DN 1 3 3 2 300 100 66,67

3 Thanh tra phối hợp DN 2 3 3 3 150 100 100

4 Thanh tra sau hoàn

thuế GTGT DN 5

- - -

Nguồn: Cục thuế tỉnh Hưng Yên Danh sách người nộp thuế cần thanh tra hàng năm do phòng kiểm tra và phòng thanh tra lập lên đều dựa trên hướng dẫn của Tổng cục thuế và phân tích hồ sơ khai thuế của người nộp thuế. Tuy nhiên, phòng kiểm tra thuế số 2 là phòng trực tiếp theo dõi, kiểm tra các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nên việc nắm bắt các doanh nghiệp thường sâu sát hơn, có điều kiện tiếp xúc với doanh nghiệp, hiểu rõ hơn về tình hình hoạt động kinh doanh và mức độ tuân thủ pháp luật về thuế của doanh nghiệp. Phòng thanh tra thuế lập danh sách trên cơ sở phân tích hồ sơ khai thuế thuần tuý nên trong một số trường hợp không thể phản ánh chính xác về hoạt động cũng như mức độ rủi ro về thuế của doanh nghiệp. Trên thực tế, danh sách và hồ sơ doanh nghiệp do phòng kiểm tra thuế số 2 chuyển sang phòng thanh tra thường chỉ mang tính chất tham khảo. Phòng thanh tra thuế sẽ lập danh sách chính thức trên cơ sở phân tích của phòng thanh và tham khảo danh sách do phòng kiểm tra thuế lập. Điều này dẫn đến một số hạn chế trong công tác xây dựng kế hoạch thanh tra như: có những doanh nghiệp hoạt động trên 10 năm nhưng chưa được thanh tra quyết toán thuế, lại có những doanh nghiệp liên tiếp "phải"

thanh tra quyết toán thuế…

Một phần của tài liệu hoàn thiện công tác thanh tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại cục thuế tỉnh hưng yên (Trang 67 - 70)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(143 trang)