PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.3. Đánh giá thực trạng thanh tra thuế doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Hưng Yên
4.3.2. Hạn chế và nguyên nhân
Công tác thanh tra tại Cục thuế tỉnh Hưng Yên thời gian qua đã giúp tăng cường hiệu quả công tác quản lý thuế của ngành thuế nói chung, đồng thời nâng cao năng lực của cơ quan thuế trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có hành vi gian lận,
trốn thuế nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác thanh tra đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Hưng Yên vẫn tồn tại một số hạn chế sau:
- Số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Hưng Yên ngày càng tăng nhanh, trong khi số lượng cán bộ làm công tác thanh tra thuế gần như không tăng nên tỷ lệ số doanh nghiệp được thanh tra so với tổng số doanh nghiệp đang quản lý ngày càng giảm.
Bảng 4.7. Số doanh nghiệp được thanh tra
STT Chỉ tiêu Đơn vị 2011 2012 2013
1 Tổng số doanh nghiệp có vốn ĐTNN DN 1190 1310 1530
2 Số doanh nghiệp được thanh tra DN 12 15 25
3 Tỷ lệ phần trăm số doanh nghiệp được thanh tra trên số doanh nghiệp quản lý
% 1 1 2
Nguồn: Cục thuế Tỉnh Hưng Yên Năm 2011, tỷ lệ số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thanh tra quyết toán thuế chiếm 1% trên tổng số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do Cục thuế Tỉnh Hưng Yên quản lý. Năm 2012, là 1%. Năm 2013, số lượng doanh nghiệp tăng, chương trình thanh tra được mở rộng hơn bao gồm cả thanh tra quyết toán thuế và thanh tra sau hoàn thuế GTGT, số doanh nghiệp được thanh tra tăng lên 25 đơn vị nhưng tỷ lệ trên vẫn thấp, chỉ đạt 2%.
- Công tác lập kế hoạch thanh tra tuy đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn chưa thực sự khoa học, chưa phát huy hết vai trò tích cực trong quá trình thanh tra thuế:
Kế hoạch thanh tra doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do phòng thanh tra lập chủ yếu từ hai nguồn: danh sách do phòng Kiểm tra thuế số 2 (phòng kiểm tra doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) đề nghị và chuyển hồ sơ và danh sách do chính phòng thanh tra lập.
Hiện nay, các phòng kiểm tra thuế nói chung và phòng kiểm tra thuế số 2 nói riêng đang phải thực hiện quá nhiều việc, chưa đúng với chức năng nhiệm vụ được quy định tại QĐ728/QĐ-TCT ngày 18/06/2007 của Tổng cục thuế. Ví dụ như cán bộ kiểm tra thực hiện cả việc phân tích nợ - nhiệm vụ của phòng Quản lý nợ và cưỡng chế thuế; thực hiện hoàn thuế trước kiểm tra sau, đối chiếu chốt nợ thuế - nhiệm vụ của phòng kê khai và kế toán thuế.
Ngoài ra phải thường xuyên phải thực hiện các báo cáo đột xuất - những báo cáo mà phòng Tổng hợp nghiệp vụ dự toán có thể chủ động khai thác trên hệ thống quản lý thuế…gây mất thời gian, công sức của cán bộ, hạn chế việc thực hiện nhiệm vụ chính là kiểm tra hồ sơ khai thuế, phân tích rủi ro doanh nghiệp để đưa vào diện thanh tra, kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế. Phòng thanh tra thuế lập danh sách trên cơ sở phân tích hồ sơ khai thuế thuần tuý nên trong một số trường hợp không thể phản ánh chính xác về hoạt động cũng như mức độ rủi ro về thuế của doanh nghiệp.
Việc phân tích hồ sơ khai thuế còn được thực hiện thủ công, chưa tận dụng tối đa sự hỗ trợ của hệ thống phần mềm tin học. Đôi lúc, việc lựa chọn doanh nghiệp cần thanh tra mang tính chất "cảm tính", lựa chọn doanh nghiệp có "thương hiệu"... Điều này dẫn đến một số hạn chế trong công tác xây dựng kế hoạch thanh tra như: có những doanh nghiệp hoạt động quá thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý nhưng vẫn chưa được thanh tra quyết toán thuế, lại có những doanh nghiệp liên tiếp năm nào cũng thanh tra quyết toán thuế, có doanh nghiệp năm vừa qua đoàn thanh tra trước chưa ra kết luận thì năm tới lại tiếp đoàn thanh tra mới. Cũng có trường hợp Cục thuế Tỉnh Hưng Yên chưa kịp tiến hành thanh tra thì doanh nghiệp đã giải thể, phá sản hoặc bỏ trốn, thậm chí còn chiến đoạt ngân sách nhà nước thông qua hoàn thuế GTGT.
- Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thanh tra doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hàng năm còn thấp, từ năm 2011 đến năm 2013 chưa năm nào thực hiện vượt 80% kế hoạch.
Bảng 4.8. Kết quả thực hiện thanh tra
STT Chỉ tiêu Đơn vị 2011 2012 2013
1 Kế hoạch thanh tra DN 15 15 30
2 Thực hiện thanh tra DN 10 12 25
3 Tỷ lệ thực hiện so với kế hoạch % 66 80 83 Nguồn: Cục thuế Tỉnh Hưng Yên - Mặc dù công tác thanh tra đã được đẩy mạnh song vẫn xảy ra tình trạng nhiều khoản gian lận về thuế ở nhiều khoản thu, sắc thuế chưa được phát hiện gây thất thu cho NSNN. Một số doanh nghiệp ẩn lậu thuế mặc dù đã qua thanh tra của Cục thuế Tỉnh Hưng Yên nhưng không phát hiện ra mà lại do các đơn vị khác như Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Chính phủ phát hiện.
Năm 2011, đoàn Kiểm toán nhà nước đã phát hiện ra các sai phạm về thuế là hơn 20 tỷ đồng, trong đó sai phạm thuộc về khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lên đến gần 15 tỷ đồng. Các sai phạm chủ yếu do doanh nghiệp trích trước chi phí nhưng thực tế chưa chi hết, tiền lương thực tế đến kỳ nhưng chưa thanh toán hết, không điều chỉnh tăng thu nhập chịu thuế khi có phát sinh lỗ chênh lệch tỷ giá… ngoài ra, còn có các sai phạm về hoá đơn như sử dụng hoá đơn của doanh nghiệp bỏ trốn, kê trùng hoá đơn. Như vậy, có thể thấy các vi phạm về thuế không những chưa được phát hiện sau thanh tra do không tiến hành thanh tra đúng đối tượng, mà còn do chất lượng các cuộc thanh tra còn hạn chế. Tình trạng này vừa làm thất thu NSNN, vừa chưa đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật thuế.
- Tình trạng gian lận thuế thông qua chuyển giá của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn diễn ra song chưa được phát hiện và xử lý kịp thời.
Thanh tra thuế vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để đấu tranh, ngăn ngừa, phát hiện và xử lý có hiệu quả.
4.3.2.2. Nguyên nhân hạn chế trong thanh tra thuế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Cục thuế tỉnh Hưng Yên
a. Nguyên nhân chủ quan:
- Nguồn nhân lực phục vụ thanh tra thuế:
Để cơ chế tự khai tự nộp thuế được triển khai hiệu quả đòi hỏi lực lượng cán bộ thanh tra thuế phải đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Từ năm 2007, lực lượng cán bộ thanh tra thuế ở Cục thuế Tỉnh Hưng Yên đã được tăng cường song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thanh tra thuế. Cơ cấu tổ chức ở Cục thuế Tỉnh Hưng Yên có 2 phòng kiểm tra thuế và 2 phòng thanh tra.
Trong đó, tính đến 31/12/2013, khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 30% số doanh nghiệp do văn phòng Cục quản lý nhưng chỉ được thanh tra thuế bởi một phòng thanh tra thuế với khoảng dưới 13 cán bộ.
Một đội thanh tra thuế thường có 3 đến 4 cán bộ. Như vậy, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài mỗi năm thường chỉ có 4 đoàn thanh tra làm nhiệm vụ thanh tra thuế. Lực lượng thanh tra thuế quá mỏng dẫn đến tình trạng số doanh nghiệp được thanh tra hàng năm chiếm không đến 2% tổng số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Tỉnh Hưng Yên.
Chất lượng cán bộ thanh tra chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Trình độ chuyên môn của một số cán bộ còn yếu, có những cán bộ không được đào tạo chuyên ngành tài chính, kế toán, thuế; kỹ năng tin học yếu, khả năng sử dụng, khai thác các phần mềm quản lý thuế kém, chưa biết ứng dụng tin học vào phân tích rủi ro hồ sơ khai thuế mà thực hiện thủ công.
Bên cạnh đó, trình độ ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ thanh tra thuế còn quá hạn chế. Khi thanh tra các đơn vị có yếu tố nước ngoài gặp nhiều khó khăn, lúng túng, không hiểu hết bản chất của nghiệp vụ kinh tế phát sinh, không có khả năng làm việc trực tiếp với ban lãnh đạo người nước ngoài của doanh nghiệp mà phải thông qua phiên dịch viên dẫn đến những hiểu lầm không đáng có, hiệu quả công việc thấp.
Công tác đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và tập huấn nâng cao năng lực chuyên môn cho lực lượng thanh tra còn chậm, không theo kịp với sự thay đổi nhanh chóng của cơ chế chính sách; chưa xây dựng được một chương trình đào tạo chuẩn và chuyên sâu về thanh tra, kiểm tra, hệ thống giáo trình đào tạo còn dựa trên các kiến thức cũ.
Ngành thuế chưa có chế độ khuyến khích hiệu quả để cán bộ thanh tra thuế tự học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn. Việc khuyến khích đối với cán bộ không chỉ là vấn đề lương, thưởng, bằng cấp, chứng chỉ mà còn là vấn đề tạo áp lực phải đạt đến một trình độ chuyên môn nhất định, tạo mọi điều kiện thuận lợi để học tập. Ngoài ra, chế độ đãi ngộ cán bộ chưa thoả đáng đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới trình độ chuyên môn và phẩm chất nghề nghiệp của cán bộ thanh tra. Phong cách ứng xử của một số cán bộ thanh tra chưa văn minh, lịch sự, cách thức làm việc thiếu tính khoa học và chuyên nghiệp.
Công tác quy hoạch, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ công chức còn nhiều bất cập, không theo kịp đòi hỏi của thực tiễn quản lý, chưa chú ý đến lực lượng cán bộ trẻ với nhiệt huyết và khả năng cống hiến, làm việc lâu dài trong ngành. Việc lựa chọn cán bộ vào bộ phận thanh tra, kiểm tra vẫn mang nặng cảm tính.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ thanh tra thuế:
Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ thanh tra thuế bao gồm: hệ thống cơ sở dữ liệu, trang thiết bị làm việc và phương tiện di chuyển phục vụ công việc.
Hệ thống cơ sở dữ liệu về người nộp thuế làm căn cứ cho việc phân tích, đánh giá việc chấp hành nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp còn sơ sài:
Điều này xuất phát từ thực tế trong suốt một thời gian dài toàn ngành Thuế chưa quan tâm đến việc thu thập và lưu trữ thông tin về người nộp thuế, chưa xây dựng được hệ thống các tiêu chí và nội dung cần thu thập thông tin về người nộp thuế. Ngoài ra, trong giai đoạn đó chưa áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin nên việc lưu trữ thông tin thủ công gặp nhiều khó khăn. Do đó cơ quan thuế không có đủ thông tin về người nộp thuế, gây ảnh hưởng không
tốt tới việc lựa chọn đối tượng thanh tra cũng như hiệu quả công tác thanh tra thuế tại doanh nghiệp. Thông tin cơ bản về người nộp thuế như: số điện thoại liên lạc, địa chỉ nhận thông báo thuế, số tài khoản ngân hàng, tên kế toán trưởng, số lượng và địa chỉ các cửa hàng, chi nhánh trực thuộc... không được cập nhật đầy đủ, kịp thời trên hệ thống quản lý người nộp thuế TINC.
Theo quy trình, sau khi thanh tra tại cơ sở người nộp thuế, các kết luận thanh tra cũng như các quyết định xử lý vi phạm phải được cập nhật chi tiết trên hệ thống phần mềm. Tuy nhiên, nhiệm vụ này không được chú trọng, không có sự giám sát và đôn đốc thường xuyên. Báo cáo tài chính do người nộp thuế gửi hàng năm cũng không được nhập vào hệ thống quản lý dẫn đến tình trạng không đủ thông tin, dữ liệu để sử dụng phần mềm phân tích rủi ro hồ sơ khai thuế một cách chính xác. Hàng loạt các báo cáo phải làm thủ công bằng tay, không tận dụng được công nghệ tin học.
Việc khai thác thông tin trên hệ thống Quản lý thuế rất bất cập, nhiều chương trình thường xuyên bị lỗi. Số lượng cán bộ phòng tin học còn ít, lại hạn chế về trình độ chuyên môn nên khi máy tính của các phòng bị hỏng, thời gian chuyển phòng tin học sửa máy quá dài (thường phải 1 đến 2 tuần) gây ách tắc công việc, không đảm bảo chất lượng và hiệu quả.
Phương tiện di chuyển phục vụ thanh tra thuế tại cơ sở người nộp thuế cũng là một vấn đề gây bức xúc.
Cục thuế tỉnh Hưng Yên có số doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nói riêng phân bố trên địa bàn rộng lớn. Công tác thanh tra tại cơ sở người nộp thuế đòi hỏi cán bộ thanh tra phải di chuyển những chặng đường rất dài. Tuy nhiên, Cục thuế Tỉnh Hưng Yên chưa có điều kiện bố trí phương tiện đi lại cho đoàn thanh tra. Cán bộ thanh tra nếu không liên hệ được sự giúp đỡ từ phía doanh nghiệp sẽ phải tự túc phương tiện di chuyển mà hầu hết là phương tiện công cộng. Với những doanh nghiệp xa thì điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả thanh tra do không đảm bảo về sức
khoẻ của cán bộ. Mặt khác, công tác phí được thanh toán cố định hàng tháng cũng chỉ mang tính hình thức.
- Hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế:
Công tác tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế đã được chú trọng song hiệu quả chưa đạt được theo yêu cầu đề ra: vẫn còn tình trạng người nộp thuế chưa nắm được đầy đủ nội dung chính sách thuế và thủ tục hành chính thuế để tự giác thực hiện nghĩa vụ tự kê khai, tự nộp thuế theo quy định của pháp luật.
Chưa chủ động tổ chức điều tra thường xuyên, liên tục để nắm bắt nhu cầu của người nộp thuế để trên cơ sở đó chủ động các biện pháp hỗ trợ.
Công tác tuyên truyền vẫn tập trung vào diện rộng mà chưa đi vào chiều sâu, chưa đi vào nghiên cứu nhu cầu của từng loại đối tượng, nội dung cần thiết đối với họ là gì để có sản phẩm cung ứng cụ thể, nội dung thiết thực, thật sự nâng cao nhận thức và hiểu biết của loại đối tượng đó. Hình thức tuyên truyền vẫn theo lối truyền thống, chưa đầu tư mạnh vào hình thức tuyên truyền qua Internet; chưa xác định được loại đối tượng cần tập trung hỗ trợ và nội dung cần hỗ trợ, chưa nắm bắt và phân loại được các vướng mắc, các sai sót thường xuyên của từng nhóm đối tượng về chính sách thuế, thủ tục hành chính thuế... để có hình thức hỗ trợ, nội dung hỗ trợ và sản phẩm hỗ trợ phù hợp và hiệu quả.
Để hỗ trợ tạo điều kiện cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ thuế, Cục thuế Tỉnh Hưng Yênđã triển khai ba dự án lớn: nộp hồ sơ kê khai thuế qua mạng Internet (iHTKK), Hiện đại hoá thu ngân sách nhà nước và hệ thống Kiosk thông tin thuế. Tuy nhiên những dự án này vẫn chưa được đấy mạnh triển khai trên diện rộng, hệ thống Kiosk thông tin thuế còn rất sơ sài.
b. Nguyên nhân khách quan:
- Cơ chế quản lý thuế:
Cơ chế quản lý thuế tự khai tự nộp được áp dụng từ năm 2007. Bộ máy quản lý thuế đã được tổ chức tập trung theo các chức năng: tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế; xử lý tờ khai và kế toán thuế, thu nợ và cưỡng chế thuế,
kiểm tra và thanh tra thuế. Tuy nhiên sự phối hợp giữa các phòng ban trong nội bộ cơ quan thuế còn kém. Chưa có sự kết hợp chặt chẽ giữa phòng quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với phòng thanh tra trong công tác chuyên môn. Phòng kê khai kế toán thuế, phòng quản lý nợ và cưỡng chế thuế còn chưa hợp tác trong vấn đề về số liệu kê khai và chốt nợ đọng làm ảnh hưởng tiêu cực đến công tác thanh tra thuế. Người nộp thuế khi có vấn đề phát sinh thường phải làm việc cùng lúc với nhiều phòng, nhiều cán bộ để giải quyết một công việc. Ví dụ như: phòng kê khai nhập số liệu không chính xác hoặc không nhập kết luận thanh tra thuế dẫn đến tình trạng nợ sai thuế của doanh nghiệp. Phòng quản lý nợ và cưỡng chế thuế in thông báo nợ và gửi đến doanh nghiệp. Doanh nghiệp nhận được thông báo phát hiện số liệu sai đến gặp cán bộ quản lý nợ thì được hướng dẫn gặp cán bộ kiểm tra theo dõi doanh nghiệp ở phòng kiểm tra để xác định lại tính chất khoản nợ. Sau khi xác định được nguyên nhân lại đến phòng kê khai kế toán thuế để sửa lại số liệu. Sự phức tạp này làm mất thời gian, sức lực và hiệu quả công việc, gây bức xúc với người nộp thuế. Chưa kể khi thanh tra tại cơ sở người nộp thuế, cán bộ thanh tra phải lấy tài liệu từ phòng kiểm tra. Nếu phát hiện số liệu chưa chính xác lại làm việc với phòng kê khai kế toán thuế... làm giảm hiệu quả công việc, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thanh tra.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuế:
Luật quản lý thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý để thực hiện công tác quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp. Tuy nhiên, thời điểm áp dụng Luật là từ ngày 1/7/2007 nhưng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật vẫn tiếp tục sửa đổi, bổ xung … gây không ít khó khăn, lúng túng trong tổ chức thực hiện.
Nội dung các sắc thuế còn phức tạp, hệ thống chính sách thuế vẫn còn lồng ghép nhiều chính sách xã hội, còn nhiều mức miễn giảm thuế làm hạn chế tính trung lập, không đảm bảo công bằng giữa các đối tượng nộp thuế, dễ