Giải thích các biến sử dụng trong mô hình

Một phần của tài liệu phân tích nhận thức và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của người dân cho giá xử lý nước thải tại khu tái định cư thới nhựt 2, tp cần thơ (Trang 57 - 62)

Chương 4: PHÂN TÍCH NHẬN THỨC VÀ MỨC SẴN LÒNG TRẢ CHO GIÁ XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT CỦA HỘ GIA ĐÌNH TẠI KHU TÁI ĐỊNH CƢ THỚI NHỰT 2

4.4 Xác định mức sẵn lòng trả trung bình cho giá XLNT sinh hoạt tại khu tái định cƣ Thới Nhựt 2

4.5.1 Giải thích các biến sử dụng trong mô hình

Trong đề tài này mô hình Tobit đƣợc sử dụng nhằm xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả mức phí XLNT hàng tháng của đáp viên để có thể góp phần làm giảm ô nhiễm nguồn nước. Biến phụ thuộc trong mô hình hồi quy là WTP.

CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP

= βxi + ui cho những quan sát có chi trả phí XLNT là số dương

= 0 cho những quan sát không sẵn lòng chi trả phí XLNT WTP {

Các biến giải thích đƣa vào mô hình gồm có:

 Giới tính: là giới tính của đáp viên. Nam giới thường theo dõi và nắm bắt thông tin nhiều hơn nữ giới, nên có thể họ sẽ biết đƣợc nhiều thông tin hơn về các tác động tiêu cực của ô nhiễm nguồn nước, ngoài ra người nam còn có xu hướng trả tiền nhiều hơn so với nữ giới. Do đó biến giới tính được kỳ vọng là có ảnh hưởng cùng chiều đến sự sẵn lòng trả phí XLNT.

 Độ tuổi: là tuổi đời của đáp viên. Tuổi càng cao thì đáp viên càng thấy được sự thay đổi của môi trường nước và những ảnh hưởng của ô nhiễm nước gây ra, do đó khả năng sẵn lòng chi trả càng cao. Độ tuổi được kỳ vọng có ảnh hưởng cùng chiều đến mức chi trả cho phí XLNT.

 Nghề nghiệp: là công việc hiện tại mà đáp viên đang làm. Nếu đáp viên là công chức, viên chức hay những người kinh doanh, buôn bán thì thu nhập họ tạo ra thường ổn định hoặc cao hơn các nghề khác. Vì vậy, nghề nghiệp cũng được kỳ vọng sẽ ảnh hưởng cùng chiều đến việc chi trả phí XLNT để có thể làm giảm ô nhiễm môi trường nước.

 Học vấn: là số năm đi học của đáp viên. Khi đáp viên có trình độ học vấn càng cao thì có xu hướng nắm bắt thông tin nhiều hơn, nhận thức và hiểu biết sâu rộng hơn các vấn đề về ô nhiễm nguồn nước, do đó họ sẽ có khả năng trả giá cao hơn cho phí XLNT để có thể góp phần bảo vệ môi trường sống. Do đó, biến học vấn được kỳ vọng sẽ ảnh hưởng cùng chiều đến việc chi trả phí XLNT.

 Số người đi làm: là số thành viên trong gia đình đi làm kiếm tiền hoặc là người mang lại thu nhập chính trong gia đình. Nếu trong gia đình có nhiều người mang lại nhiều nguồn thu nhập thì họ sẽ có khả năng trả tiền nhiều hơn so với những gia đình có ít người đi làm. Vì thế, số người đi làm được kỳ vọng sẽ ảnh hưởng cùng chiều đến việc trả phí XLNT.

 Thu nhập TB: là thu nhập trung bình trên một người hàng tháng trong gia đình. Khi thu nhập trong gia đình đã đƣợc nâng cao thì nhu cầu của họ đối với môi trường nước sạch hơn, đòi hỏi chất lượng cuộc sống tốt hơn. Một gia đình có thu nhập bình quân trên người càng cao thì họ có xu hướng trả tiền cao hơn vì họ nhận thấy được sự cần thiết của việc cải thiện nguồn nước, đảm bảo chất lượng cuộc sống. Do đó, biến thu nhập TB trên người được kỳ vọng sẽ ảnh hưởng cùng chiều đến việc chi trả phí XLNT để có thể làm giảm ô nhiễm môi trường nước.

4.5.2 Kết quả xử lý mô hình hồi quy Tobit về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả cho phí XLNT của đáp viên để giảm ô nhiễm nguồn nước

Dưới đây là bảng tổng hợp các biến giải thích với dấu kỳ vọng ban đầu trong mô hình hồi quy Tobit. Các biến độc lập gồm: giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, số người đi làm và thu nhập trung bình.

Bảng 4.7 Bảng tổng hợp các biến với dấu kỳ vọng xem xét trong mô hình

Biến độc lập Kí hiệu Đơn vị Dấu kỳ

vọng

Giới tính Gioitinh nam = 1, nữ = 0 +

Độ tuổi Tuoi tuổi +

Nghề nghiệp Nghenghiep = 1 nếu nghề nghiệp là công chức, viên chức hoặc buôn bán, kinh doanh, = 0 là các ngành nghề khác

+

Học vấn Hocvan năm +

Số người đi làm

Dilam người +

Thu nhập TB thunhapTB nghìn đồng/người/tháng +

Ta có kết quả xử lý mô hình nhƣ sau:

Bảng 4.8 Kết quả phân tích trong mô hình hồi quy Tobit

Biến Hệ số góc Hệ số dy/dx Hệ số P

Giới tính (**) - 0,6102217 - 0,4860732 0,042

Độ tuổi 0,0079021 0,0064596 0,449

Nghề nghiệp 0,0667423 0,0545357 0,808

Học vấn (***) 0,0761904 0,0622826 0,096

Số người đi làm (*) 0,2516065 0,2056781 0,001

Thu nhập trung bình 0,0000472 0,0000386 0,551

Tổng số quan sát 60

Giá trị log của hàm gần đúng -78.992661 Giá trị kiểm định chi bình phương 17,05

Giá trị xác suất lớn hơn chi bình phương 0,0091 Ghi chú: * : mức ý nghĩa 1% ,

** : mức ý nghĩa 5%, *** : mức ý nghĩa 10%

Trong mô hình Tobit, các biến giải thích đƣợc đƣa vào mô hình có đặc điểm nhƣ sau:

- Giới tính: là giới tính của đáp viên, đƣợc mã hóa là 1 nếu đáp viên là nam, là 0 nếu đáp viên là nữ.

- Độ tuổi: là tuổi của đáp viên, thấp nhất là 18 và cao nhất là 70 tuổi.

- Nghề nghiệp: là công việc giúp đáp viên có thu nhập. Bằng 1 nếu đáp viên là công chức, viên chức hoặc là kinh doanh, buôn bán, bằng 0 là các nghề khác không thuộc các ngành nghề trên.

- Học vấn: là trình độ học vấn của đáp viên, đƣợc tính bằng số năm đi học. Thấp nhất là 3 năm và cao nhất là 19 năm đi học.

- Số người đi làm : là số thành viên đem lại nguồn thu nhập cho gia đình.

Ta có thấp nhất là 1 người và cao nhất là 11 người

- Thu nhập TB: là số tiền trung bình cho mỗi người trong gia đình tính trong một tháng, thấp nhất là 250.000 đồng/người/tháng và cao nhất là 12.500.000 đồng/người/tháng.

Kết quả của mô hình Tobit với những biến đã chọn ở trên đƣợc ƣớc lƣợng theo mô hình tổng quát:

Y = β0 + β1X1 + β2X2 + β3X3 + β4X4 + β5X5 + β6X6 + ui

(i = 1,2,3,4,5,6) Ta có mô hình:

Y = – 0,8599053 – 0,6102217X1 + 0,0079021X2 + 0,0667423X3 + 0,761904X4 + 0,2516065X5 + 0,0000472X6

Hay:

WTP = – 0,8599053 – 0,6102217gioitinh + 0,0079021tuoi + 0,0667423nghenghiep + 0,0761904hocvan + 0,2516065dilam + 0,0000472thunhapTB

Nhận xét:

Qua kết quả mô hình Tobit cho thấy, kiểm định Corr cho các giá trị đều nhỏ hơn 0,8, vì vậy hiện tƣợng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình có thể bỏ qua. Ngoài ra, giá trị kiểm định mô hình (Prob > chi2) = 0,0091 cho thấy mô hình nghiên cứu đƣợc sử dụng có mức ý nghĩa rất cao (1%).

Giải thích kết quả trong mô hình hồi quy:

Kết quả hồi quy cho thấy trong mô hình có 3 biến có ý nghĩa về mặt thống kê, đó là biến về giới tính, trình độ học vấn và số người đi làm.

- Giới tính: P = 0,042 < 5% chứng tỏ giới tính của đáp viên có ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả cho phí XLNT. Với biến giả đƣợc đƣa vào mô hình nhận giá trị 1 là nam và 0 nếu là nữ, hệ số tương quan giữa biến giới tính và giá sẵn lòng trả cho giá XLNT là - 0,4860732. Điều này có nghĩa là, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, số tiền trung bình nam giới trả cho giá XLNT thấp hơn nữ giới là 486 đồng/m3. Theo tác giả, sở dĩ có sự khác biệt này là do nữ giới thường quan tâm đến vấn đề về vệ sinh, môi trường cũng như sức khỏe nhiều hơn nam giới và họ đánh giá dự án này có thể sẽ mang lại nhiều lợi ích nên họ sẵn lòng trả giá cao để có được sự cải thiện về môi trường.

- Học vấn: P = 0,096 < 10% chứng tỏ trình độ học vấn của đáp viên có ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả cho phí XLNT. Biến học vấn có tương quan dương đến giá sẵn lòng trả cho giá XLNT với hệ số tương quan là 0,0622826. Kết quả này nói lên rằng, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, mức giá trả cho phí XLNT của người dân sẽ tăng thêm 62 đồng/m3 khi trình độ học vấn của người dân tăng lên 1 đơn vị.

- Số người đi làm: P = 0,001 < 1% chứng tỏ số thành viên tạo thu nhập trong gia đình có ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả cho phí XLNT. Hệ số tương quan giữa biến số ngưới đi làm và giá sẵn lòng trả là 0,2056781. Dựa vào kết quả phân tích ta thấy, khi số người tạo ra thu nhập trong gia đình của đáp viên tăng lên 1 người thì giá sẵn lòng trả cho giá XLNT sẽ tăng thêm 206 đồng/m3. Lý do có thể giải thích là khi trong gia đình có càng nhiều người tạo ra thu nhập thì kinh tế trong gia đình được đảm bảo bởi nhiều người hơn, do đó đáp viên sẽ chi trả cao hơn cho phí XLNT.

Ba biến còn lại trong mô hình là: tuổi, nghề nghiệp, thu nhập trung bình không có ý nghĩa về mặt thống kê ở mức ý nghĩa 10%.

Từ kết quả hồi quy cho thấy khả năng chi trả cho phí XLNT của người dân chịu tác động của nhiều yếu tố. Trong đó, yếu tố số người đi làm tạo thu nhập cho gia đình có tác động mạnh nhất đến mức giá XLNT, kế đến là trình độ học vấn, còn biến giới tính cũng thể hiện rõ sự khác biệt trong mức sẵn lòng trả cho giá XLNT giữa nam và nữ.

Một phần của tài liệu phân tích nhận thức và các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng trả của người dân cho giá xử lý nước thải tại khu tái định cư thới nhựt 2, tp cần thơ (Trang 57 - 62)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(76 trang)