3.2 Thực trạng hoạt động huy động vốn tiền gửi của các NHTM Việt Nam trên địa
3.2.2 Thực trạng huy động vốn tiền gửi
Trong thời gian vừa qua, lãi suất tiền gửi biến động theo xu hướng giảm qua thời gian. Nhưng nguồn tiền gửi huy động của các NHTM Việt Nam trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh khơng giảm. Tình hình huy động vốn của các NHTMCP trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2011-2016 thể hiện qua bảng 3.3:
Bảng 3.3 Kết quả huy động vốn tiền gửi của các NHTM Việt Nam trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2016. ĐVT: ngàn tỷ đồng
Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Vốn huy động bằng VNĐ 667.8 779.1 947.4 1087.3 1284.6 1558.2
Vốn huy động ngoại tệ 219.1 194.8 180.5 202.5 232.0 215.3
Tổng vốn huy động 886.9 973.9 1127.9 1289.7 1516.6 1773.5
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ Cục Thống Kê Tp. HCM) Nhìn chung, tổng nguồn vốn huy động tiền gửi của các NHTM Việt Nam tại Tp.Hồ Chí Minh tăng đều qua các năm, mức độ tăng trưởng hàng năm từ 10% - 18%/năm. Năm 2015 đạt tỷ lệ tăng trưởng cao nhất là 18%. Mức độ tăng trưởng tiền gửi huy động bình quân giai đoạn này là 15%/năm. Trong tổng nguồn vốn huy động, vốn huy động bằng nội tệ luôn chiếm tỷ trọng rất cao qua các năm, bình qn trong giai đoạn này chiếm 82.7% và có xu hướng ngày càng lớn. Vốn huy động bằng đồng Việt Nam cũng tăng trưởng đều qua các năm ở mức ổn định. Tốc độ tăng trưởng vốn huy động Đồng Việt Nam cũng cao hơn tốc độ tăng trưởng vốn huy động bằng ngoại tệ. Năm 2016, ghi nhận mức tăng khá cao từ huy động vốn nội tệ (tăng 21% so với 2015). Bởi giai đoạn cuối năm 2015, NHNN áp dụng trần lãi suất đối với tiền gửi bằng đô la Mỹ là 0%/năm, trong khi lượng tiền gửi bằng đô la Mỹ luôn chiếm tỷ trọng cao trong tiền gửi huy động ngoại tệ. Do đó dẫn đến, lượng tiền gửi bằng ngoại tệ giảm 7% so với cùng kỳ năm trước, tương đương giảm 16.7 ngàn tỷ đồng).
Hình 3.1 Kết quả huy động vốn tiền gửi của các NHTM Việt Nam trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2016.
Trong đó, kết quả huy động tiền gửi của các NHTMCP trên địa bàn TPHCM so với tổng vốn huy động trên toàn địa bàn TP.HCM thể hiện qua bảng 3.4 sau:
Bảng 3.4 Kết quả huy động vốn tiền gửi của các NHTMCP Việt Nam trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2016. ĐVT: nghìn tỷ đồng
Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Vốn huy động của các NHTMCP 526.8 531.7 636.1 718.4 823.5 952.4 Vốn huy động các tổ chức khác 360.1 442.2 491.8 571.4 693.1 821.1
Tổng vốn huy động 886.9 973.9 1127.9 1289.7 1516.6 1773.5
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ Cục Thống Kê Tp. HCM) Vốn huy động từ các NHTMCP luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn tiền gửi huy động (năm 2011: 59%, năm 2012: 55%, năm 2013 và năm 2014:56%, năm 2015 và năm 2016: 54%), tính đến tháng 12/2016, các NHTMCP trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh đã huy động được 952.4 ngàn tỷ đồng. Bên cạnh đó, vốn huy động từ các NHTMCP cũng tăng trưởng ổn định qua các năm với mức tăng trưởng bình quân trên 10%/năm đảm bảo nguồn vốn và tạo điều kiện cho các Tổ chức tín dụng thực hiện mở rộng và tăng trưởng tín dụng theo kế hoạch.
0% 2% 4% 6% 8% 10% 12% 14% 16% 18% 20% 0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600 1800 2000 2011 2012 2013 2014 2015 2016 Vốn huy động ngoại tệ Vốn huy động bằng VNĐ Tốc độ tăng trưởng tổng vốn huy động ĐVT: nghìn tỷ đồng
Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ đang là một xu thế và là yêu cầu tất yếu đối với các ngân hàng hiện nay, nhằm tăng cường quảng bá thương hiệu, gia tăng thị phần và đa dạng hố các loại hình sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, góp phần vào việc tăng sức cạnh tranh của ngân hàng. Nếu như trước đây chỉ có khối NHTMCP phát triển lĩnh vực ngân hàng bán lẻ với phân khúc thị trường là khách hàng cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì hiện nay, với sự tham gia của các NHTM nhà nước càng làm tính cạnh tranh trở nên mạnh mẽ hơn. Các ngân hàng nên có chiến lược kinh doanh cũng như đưa ra những phân khúc khách hàng cụ thể. Đặc biệt đối với mãng huy động, tiền gửi từ dân cư là bộ phận tiền gửi quan trọng và luôn chiếm tỷ trọng cao vốn huy động. Tiền gửi dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cư trong xã hội gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm lời và dễ thanh toán. Tiền gửi dân cư bao gồm tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán. Bảng 3.5 thể hiện quy mô về tiền gửi dân cư trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 – 2016:
Bảng 3.5 Quy mô tiền gửi dân cư của NHTM Việt Nam tại TP HCM giai
đoạn 2011 – 2016. Đơn vị tính: ngàn tỷ đồng
Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2014 2015 2016
Tiền gửi dân cư 497.3 473.6 618.6 708.2 808.8 926.3
Vốn huy động khác 389.6 500.3 509.3 581.5 707.8 847.2
Tổng vốn huy động 886.9 973.9 1127.9 1289.7 1516.6 1773.5
(Nguồn: tác giả tổng hợp từ Cục Thống Kê Tp. HCM) Tiền gửi dân cư luôn chiếm một tỷ trọng lớn và không ngừng gia tăng trong
tổng vốn tiền gửi huy động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh. Tỷ trọng tiền gửi dân cư trong tổng vốn huy động được trên địa bàn từ năm 2011 đến năm 2016 lần lượt là 56.1%; 48.6%; 54.8%; 54.9%; 53.3%; 52.2% Tỷ trọng qua các năm càng tăng càng chứng tỏ vai trò quan trọng của tiền gửi dân cư trong việc huy động vốn của nền kinh tế và các chính sách thu hút tiền gửi của các ngân hàng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã phát huy tác dụng, cạnh tranh được với các kênh huy động vốn khác và đảm bảo hài hịa lợi ích của khách hàng và
ngân hàng. Tiền gửi dân cư đạt tốc độ tốc độ tăng trưởng cao qua các năm (năm 2013 tăng 36%, năm 2014 – 2016 tăng trên 14%) và tương đối ổn định cho thấy niềm tin vào hệ thống ngân hàng cùng với dịch vụ ngân hàng tiện ích là nguyên nhân chính thu hút bộ phận tiền gửi này.
Hình 3.2 Tiền gửi dân cư của các NHTMVN trên địa bàn Tp. Hồ Chí Minh
Như vậy, kết quả phân tích cho thấy tăng trưởng số dư tiền gửi của khách hàng cá nhân trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh tăng đều và ổn định qua các năm (hình 3.2). Mặc khác, tỷ trọng tiền gửi huy động của khách hàng cá nhân luôn chiếm tỷ trọng cao hơn so với nhóm khách hàng khác, trung bình giai đoạn 2011 – 2016 chiếm 53.3%. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của khách hàng cá nhân đối với hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại, chú trọng phát triển khách hàng mới và thực hiện tốt các biện pháp để giữ chân khách hàng hiện hữu sẽ góp phần giúp NHTM có nguồn vốn hoạt động ổn định, góp phần thuận lợi hơn trong quá trình kinh doanh.