Nhóm giải pháp về đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng tại Agribank chi nhánh Kiên Giang

Một phần của tài liệu giải pháp tăng trưởng tín dụng tại agribank chi nhánh kiên giang (Trang 65 - 75)

3.2.1. Đẩy mạnh tín dụng vào thị trương khu vực nông thôn, nông, lâm, ngư nghiệp Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy dân cư tập trung tại khu vực nông thôn Việt Nam chiếm trên 70% dân số, nhưng tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng chưa đạt đến 25%P2F3P. Vấn đề nàycho thấy thị trường tín dụng nơi đây còn chưa được chú trọng đúng mức. Lý do chủ yếu là do khu vực này có mức sinh lời thấp, chi phí cao, nhiều yếu tố rủi ro khách quan như thiên tai, dịch bệnh… Hiện các hoạt động ngân hàng ở khu vực nông nghiệp nông thôn (NNNT) chủ yếu là các dịch vụ truyền thống như cho vay và tiền gửi, các dịch vụ thanh toán ngân hàng hiện đại còn hạn chế, quy trình cung cấp tín dụng còn phức tạp, đặc biệt là các thủ tục liên quan đến tài sản thế chấp là đất đai,…

Tuy vậy, tín dụng NNNT vẫn là thị trường nhiều tiềm năng, nhu cầu sinh hoạt và kinh doanh của người dân nơi đây ngày càng tăng, có thêm nhiều trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ được mở ra. Nhu cầu về vốn và vốn tín dụng để cải tạo vườn tạp, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ nông nghiệp, cây con giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y, thức ăn chăn nuôi,... là những đối tượng tín dụng mà các Ngân hàng thương mại (NHTM) cần thiết phải quan tâm. Hơn nữa, vốn tín dụng dành cho khu vực NNNT là chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước, nhằm góp phần phát triển NNNT, giúp bà con nông dân có thể làm giàu từ nghề nông, dần nâng cao chất lượng cuộc sống.

Do vậy Agribank Kiên Giang nên tập trung nguồn lực triển khai sâu rộng hơn nữa vào lĩnh vực này thông qua nội dung công việc sau đây:

- Đơn giản hóa thủ tục vay vốn, nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho khu vực NNNT, nhất là trong cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với hộ nông

3Theo thống kê của NHNN

dân theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP. Qua đó xác lập cơ chế thực thi đơn giản và rõ ràng để rút ngắn khoảng cách giữa chính sách với thực tế triển khai.

- Đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ, kênh phân phối, Phát triển thêm các sản phẩm tín dụng như: cho vay làng nghề truyền thống, các sản phẩm công nghiệp-dịch vụ, cho vay xuất khẩu lao động, dịch vụ tại địa bàn nông thôn. Chủ động xác định nhu cầu theo từng nhóm khách hàng ở khu vực NNNT, từ đó đưa ra các sản phẩm dịch vụ phù hợp với từng nhóm.

- Mở rộng mạng lưới khách hàng, Tiếp cận, tạo mối quan hệ với người có uy tín, có tầm ảnh hưởng trong ngành nghề tại địa phương, những người có tiềm lực tài chính, để họ sử dụng sản phẩm dịch vụ của Agribank Kiên Giang. Một khi họ đã sử dụng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng với sự hài lòng thì mức độ “lan tỏa” sẽ rất nhanh nhờ kênh truyền miệng theo cấp số nhân mà ngân hàng không cần tốn nhiều chi phí marketing. Đây cũng là yếu tố và là điều kiện quyết định để thu hút được khách hàng ở khu vực NNNT. Bên cạnh đó việc giữ mối quan hệ chặt chẽ với các cơ quan như: Chi cục Thuế, Phòng tài chính kế hoạch huyện, Phòng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Chi cục bảo vệ thực vật, Chi cục thú y,…để có thêm thông tin khách hàng.

- Xây dựng đội ngũ nhân viên bán hàng chuyên nghiệp, Đặc điểm của các khách hàng NNNT là thường thiếu tự tin khi giao dịch, do khả năng và mức độ hoà nhập của họ với cuộc sống hiện đại chưa cao. Do vậy, cán bộ bán hàng của Agribank Kiên Giang cần phải hòa nhã, tận tâm sẵn sàng hỗ trợ, tư vấn khách hàng một cách đầy đủ kịp thời, để họ không còn tâm lý e ngại khi đến giao dịch, tạo điều kiện cho khách hàng ở vùng nông thôn từng bước tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Do địa bàn ở vùng nông thôn khó khăn, xa xôi, nhân viên bán hàng lại phải đi sâu đi sát với khách hàng để nắm bắt và đáp ứng nhu cầu về vốn cũng như nắm rõ gia cảnh của khách hàng để quản lý tín dụng tốt, vì vậy cán bộ ngân hàng không những phải nắm vững nghiệp vụ mà phải có sức khỏe tốt và chịu khó.

- Tăng cường cung cấp thông tin cho khách hàng NNNT, Do điều kiện khách quan, việc tiếp nhận thông tin tài chính ngân hàng của khách hàng ở nông thôn vẫn còn hạn chế. Khi chưa tìm hiểu rõ thông tin về sản phẩm dịch vụ, khách hàng sẽ không

sử dụng hay sử dụng ở mức độ thấp, do vậy NHTM cần tăng cường cung cấp thông tin đầy đủ, tin cậy về tài chính ngân hàng cho khách hàng qua một số kênh sau:

• Cán bộ ngân hàng trực tiếp tìm kiếm những khách hàng mới, khách hàng chưa quan hệ tín dụng, giới thiệu về sản phẩm dịch vụ, kích thích nhu cầu của khách hàng. Đa phần khách hàng ở khu vực nông thôn do họ mua bán, sản xuất kinh doanh theo kiểu truyền thống nên ít sử dụng các dịch vụ ngân hàng. Vì vậy, nhân viên ngân hàng cần phải nhiệt tình, phân tích rõ ràng những tiện ích khi sử dụng sản phẩm của ngân hàng cũng như cách sử dụng sản phẩm, khơi dậy khảnăng sử dụng dịch vụ cho khách hàng.

• Thông qua các Hội nghị, Hội thảo về các sản phẩm nông nghiệp, kỹ thuật nuôi trồng. Đây là cơ hội để cán bộ ngân hàng tiếp xúc được lượng khách hàng lớn mà không cần phải mất nhiều thời gian tìm kiếm. Qua cuộc hội thảo, hội nghị này, xin với ban tổ chức sắp xếp cho ngân hàng giới thiệu các sản phẩm của mình, lắng nghe những thắc mắc và giải đáp tận tình để khách hàng tiếp cận được sản phẩm dịch vụ phù hợp với từng đối tượng khách hàng./.

3.2.2. Thực hiện chương trình kết nối tín dụng Ngân hàng – Doanh nghiệp

Kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp là một trong những giải pháp đột phá được ngành Ngân hàng triển khai kịp thời và hiệu quả trong thời gian vừa qua và đã giúp doanh nghiệp nhanh chóng tiếp cận được các nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi để tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh.

Thực tiễn triển khai năm 2014, trong bối cảnh nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, ngành Ngân hàng đã tích cực triển khai hiệu quả các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ; chủ động, trách nhiệm, quyết liệt đẩy vốn vào nền kinh tế, đặc biệt các chính sách tín dụng phù hợp đã hỗ trợ thị trường, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

Cách thức triển khai chương trình kết nối tín dụng là: Ngân hàng kết hợp với các cơ quan chủ quản ở địa phương, các sở ban ngành chủ động tìm kiếm và tiếp cận các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn, nhận dạng những khó khăn vướng mắc của

doanh nghiệp thông qua nhiều chương trình đối thoại, gặp gỡ trực tiếp và từ đó đề ra các giải pháp để tháo gỡ khó khăn.

Với một chương trình đã được thực tiễn chứng minh là có hiệu quả, được các cơ quan chức năng và dư luận xã hội ủng hộnhiệt tình thì Agribank Kiên Giang cũng nên cân nhắn và vận dụng linh họat, sáng tạo vào chi nhánh và địa bàn tỉnh Kiên Giang mình để từ đó thúc đẩy việc tăng trưởng tín dụng mang ý nghĩa xã hội to lớn.

Cách thức tiến hành là Agribank Kiên Giang nên phối hợp với Sở Công thương tỉnh, Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh và các quận, huyện chủ động tìm kiếm, đánh giá và tiếp cận các doanh nghiệp có triển vọng, có phương án kinh doanh tốt, có ý nghĩa trong hoạt động của xã hội, địa phương mà đang gặp các khó khăn về vốn; qua đó đề ra các phương án cùng hợp tác sao cho có lợi cho các bên.

Bên cạnh đó, Agribank Kiên Giang cũng cần tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp quản lý sử dụng vốn vay sao cho có hiệu quả, làm giảm các chi phí phát sinh góp phần thúc đẩy doanh nghiệp phát triển; tạo việc làm và thu nhập ổn định cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội, hạn chế tình trạnh tín dụng đen, và qua đó hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu theo tinh thần NQ 02/2013 của Chính phủ.

3.2.3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Agribank Kiên Giang

Con người là nguồn lực quan trọng nhất đối với bất kỳ tổ chức hay doanh nghiệp nào. Sự thành công của mọi doanh nghiệp luôn phụ thuộc vào yếu tố năng lực và hiệu suất của những ngươì lao động. Mọi tổ chức muốn đạt được mục đích đều phải dựa trên việc sử dụng một cách có hiệu quả nguồn nhân lực của mình và các Ngân hàng cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Nhưng vấn đề đặt ra là làm thế nào để tăng năng suất hay tăng hiệu suất làm việc của người lao động?.

Đối với Agribank Kiên Giang trong những năm trước đây đã phát triển về chiều rộng khá nhanh, thể hiện qua việc tăng số lượng phòng giao dịch (PGD) và số lượng nhân viên ngân hàng phát triển đột biến. Tuy nhiên kéo theo việc phát triển nhân sự theo chiều rộng như vậy thì hệ lụy về trình độ của nhân sự, đạo đức của nhân sự lại đi xuống và gây nhiều khó khăn, tổn thất cho chi nhánh; đặc biệt là việc thất thoát tài sản và gây nợ xấu nhóm 5.

Hơn nữa, mặc dù về cơ bản đội ngũ nhân lực đã đáp ứng được sự phát triển của chi nhánh, song chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn thấp; thiếu đội ngũ quản trị điều hành, lãnh đạo cấp PGD; trình độ chuyên môn, khả năng phân tích, độc lập xử lý các vấn đề thực tế không cao,… Và vì thế việc nâng cao chất lượng nhân sự trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Và để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngân hàng, theo tác giảcần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, Agribank Kiên Giang cần thiết phải xây dựng một bộ quy tắc chuẩn về chức danh các công việc ngân hàng, tiêu chuẩn nghề nghiệp ngân hàng tương đương với tiêu chuẩn của các nước tiên tiến trong khu vực. Và về lâu dài, nên từng bước xây dựng các bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp ứng với mỗi chức danh, vị trí công việc làm cơ sở cho việc hướng đến việc tiêu chuẩn hóa cán bộ theo các cấp độ đào tạo khác nhau. Đây cũng là thông lệ phổ biến của các ngân hàng thương mại trên thế giới, nhưng lại chưatừngcó tiền lệ ở Việt Nam.

Thứ hai, Agribank Kiên Giang cần đào tạo bồi dưỡng, cập nhật kiến thức kinh doanh cơ bản cho cán bộhiện cócủa chi nhánhnhằm đáp ứng yêu cầungày càng phức tạp và chịu áp lực cạnh tranh ngày càng cao của môi trường kinh doanh.

Thứ ba, Agribank Kiên Giang cần chú trọng việc đào tạo kỹ năng mềm, kỹ năng quản lý cho cán bộ quản lý cấp trung và cấp cao nhằm tạo sự đột phá về tư duy và kỹ năng quản lý, tạo tiền đề cho việc triển khai các kế hoạch cải cách và chấp nhận sự thay đổi ở các cấp điều hành và cấp thực hiện.

Đa dạng hoá việc đào tạo các kỹ năng chuyên nghiệp cho đội ngũ giao dịch viên và chuyên viên quan hệ khách hàng tại các PGD nhằm tạo dựng phong cách kinh doanh hiện đại, đáp ứng yêu cầu và các phẩm chất cần có của mạng lưới bán lẻ. Phải coi trọng việc đào tạo các kỹ năng mềm cho cán bộ tác nghiệp nhằm biến tiềm năng kiến thức thành hiệu quả công việc. Đồng thời cần quan tâm thích đáng tới việc đào tạo ngoại ngữ (đặc biệt tiếng Anh) ở các PGD đóng tại các trung tâm lớn để đón trước thời cơ mở rộng giao dịch với khách hàng nước ngoài.

Thứ tư, trong một khoảng thời gian nữa, chất lượng tân cử nhân ngành tài chính ngân hàng ở Việt Nam chưa thể có sự cải thiện đáng kể. Vì vậy, việc đào tạo bài bản cho cán bộ tân tuyển dụng vẫn là một chương trình trọng điểm kèm theo các khoản chi

phí lớn mới có thể sử dụng lực lượng này vào những công việc cụ thể.

Trong tương lai xa hơn, việc đào tạo phải được thực hiện theo phương pháp “vết dầu loang” - đào tạo ra đội ngũ để đào tạo những người khác, gắn việc đào tạo lý thuyết với thực hành nghề nghiệp tại chỗ nhằm nâng cao hiệu quả của công tác đào tạo. Phải coi việc đào tạo và tự đào tạo cán bộ tân tuyển dụng là quy chế bắt buộc, là nội dung của văn hoá tổ chức.

Bên cạnh đó, cần đa dạng hóa phương thức đào tạo, quan tâm thích đáng đến hình thức đào tạo trực tuyến, đào tạo từ xa nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học về kiến thức, về không gian, thời gian.

Thứ năm, Agribank Kiên Giang cần có kế hoạch, chiến lược đẩy mạnh đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành tài chính của mình, nâng cao tính chuyên nghiệp trong các hoạt động kinh doanh. Theo đó, các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho ngành cần từng bước tổ chức đa dạng các chương trình đào tạo ở các cấp độ cơ bản cũng như nâng cao, nghiên cứu ban hành các giáo trình chuẩn, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên,…

Thứ sáu, Agribank Kiên Giang cần mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về đào tạo nhân lực, qua đó tranh thủ tối đa sự hỗ trợ về tài chính, chương trình, nội dung đào tạo, giảng viên và phương pháp giảng dạy.

3.2.4. Hoàn thiện bộ máy vận hành chi nhánh

Giai đoạn 2009 - 2014 cho thấy những chuyển biến nhất định trong việc hoàn thiện bộ máy vận hành của Agribank Kiên Giang, tuy nhiên các thay đổi là còn chưa đủ, chưa triệt để và mang tính hình thức nhiều hơn. Do vậy để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng Agribank Kiên Giang nên tập chung thay đổi, hoàn thiện bộ mày vận hành, quản lý điều hành của mình hơn nữa trong giai đoạn tới.

Trọng tâm chính của việc hoàn thiện mô hình vận hành của Agribank nên tiếp tục là tập trung hóa. Các nhiệm vụ và hoạt động hành chính, vận hành đều được tách khỏi các đơn vị tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và tập trung hóa, để các nhân viên tại chi nhánh của mình có thể tập trung nhiều thời gian hơn vào hoạt động bán hàng và dịch vụ khách hàng. Đồng thời, các bộ phận mới đã được thành lập trong các đơn vị hỗ trợ nhằm mục đích đẩy mạnh cung cấp dịch vụ cho các đơn vị khách hàng.

Một số nhiệm vụ trọng tâm của Agribank Kiên Giang bao gồm: nâng cao năng suất, chuẩn hóa các quy trình và chuyên nghiệp hóa các hoạt động xử lý; phát triển năng lực nội tại nhằm xây dựng khung quản lý quy trình của riêng mình, chuẩn hóa và phân luồng các quy trình để có thể linh hoạt và có khả năng ứng phó với bất cứ thay đổi nào trong môi trường kinh doanh.

Ngoài ra Agribank Kiên Giang nên vận dụng mô hình “cụm vệ tinh” để tiếp cận sát hơn với khách hàng thay vì chuyển tất cả các hoạt động cần đáp ứng nhanh lên ban lãnh đạo quyết định. Do vậy, các “cụm” đã được tạo ra ở những vị trí chiến lược để có thể hỗ trợ một số phòng giao dịch, chi nhánh nằm trong bán kính được định rõ với thời gian phản hồi dịch vụ ngắn nhất mà không gây bất tiện cho khách hàng.

Các đơn vị chức năng trong bộ máy vận hành của Agribank cũng phải được huyấn luyện, làm quen và bắt đầu sử dụng một số công cụ và tham số đánh giá hiệu suất hoạt động để cải thiện hiệu quả của các đơn vị hỗ trợ. Các công cụ bao gồm: thời gian xử lý trung bình, thời gian phản hồi dịch vụ, các mô hình về lập kế hoạch đánh giá năng suất và năng lực của nhân viên, các thỏa thuận cấp độ dịch vụ và khảo sát khách hàng nội bộ.

Đứng ở góc độ kiểm soát, quy trình tập trung hóa hồ sơ tín dụng và công tác lưu trữ tài sản bảo đảm đã được thiết lập để đảm bảo đầy đủ các yếu tố thiết yếu của hoạt động cho vay. Hoạt động quản lý tiền mặt tại kho quỹ chi nhánh và cây ATM cũng được tập trung hóa. Do đó đã giúp đẩy mạnh cơ chế kiểm soát chung cũng như giải phóng thời gian cho nhân viên chi nhánh khỏi hoạt động này để họ có thể chú tâm hơn tới việc đáp ứng các yêu cầu khách hàng. Đồng thời, một môi trường kiểm soát các hoạt động vận hành mạnh mẽ đã được tạo ra cùng với sự hình thành một đơn vị chuyên môn phục vụ công tác kiểm soát vận hành và quản trị rủi ro.

3.2.5. Nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin

Công nghệ thông tin (CNTT) luôn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của Agribank Kiên Giang và đặc biệt là trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Cụ thể, Agribank nên tích cực chuyển đổi, xây dựng một nền tảng CNTT vững chắc đáp ứng nhu cầu phát triển bằng các hoạt động cốt lõi sau:

Một phần của tài liệu giải pháp tăng trưởng tín dụng tại agribank chi nhánh kiên giang (Trang 65 - 75)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(84 trang)