Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng của ngân hàng thương mại

Một phần của tài liệu giải pháp tăng trưởng tín dụng tại agribank chi nhánh kiên giang (Trang 26 - 39)

Những nhân tố thuộc về nội tại ngân hàng có ý nghĩa quyết định tới sự tới tăng trưởng tín dụng, cụ thể có thể có những yếu tố sau:

(i) Chính sách tín dụng của ngân hàng: Chính sách tín dụng của ngân hàng là một hệ thống các biện pháp liên quan đến việc khuyếch trương tín dụng hoặc hạn chế tín dụng để đạt mục tiêu đã được hoạch định, bảo đảm an toàn hoạt động tín dụng của ngân hàng. Chính sách tín dụng đúng đắn đối với từng loại khách hàng sẽ thu hút được các khách hàng mục tiêu, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính sách của Nhà nước và đảm bảo công bằng xã hội.

(ii)Năng lực huy động vốn: Huy động vốn là quá trình NHTM nhận tiền gửi của tổ chức và cá nhân dưới các hình thức nhận tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá…, tiền vay của NHNN và các NHTM khác. Năng lực huy động vốn của một NHTM là khả năng tạo lập và phát triển nguồn vốn nhằm phục vụ cho nhu cầu sử dụng vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, trong đó chủ yếu là hoạt động tín dụng. Do vậy năng lực huy động vốn của ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng đáp ứng nhu cầu vay vốn của các khách hàng, sự phù hợp giữa các kì hạn huy động vốn với các kì hạn cho vay, từ đó ảnh hưởng tới tăng trưởng tín dụng của ngân hàng.

(iii) Yếu tố con người: Trong mọi nguồn lực, nguồn nhân lực là yếu tố hết sức quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến thành công của hoạt động kinh doanh. Năng lực, trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ quản lý vàCBTD quyết định rất lớn tới sựthành công trong hoạt động tín dụng của NHTM, bởi nhu cầu của các nhóm khách hàng rất đa dạng, đòi hỏi các CBTD phải nắm chắc nghiệp vụ, am hiểu pháp luật, thị trường, kĩ năng giao tiếp tốt, có khả năng tổng hợp thông tin và đánh giá khách hàng, từ đó thẩm định khách hàng chính xác sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro về tín dụng.

(iv) Thông tin tín dụng: Thông tin tín dụng giúp cho người quản lý đưa ra những quyết định cần thiết có liên quan đến cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay. Thông tin càng đầy đủ, nhanh nhạy, chính xác và toàn diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng càng cao giúp nâng cao chất lượng tín dụng.

(v) Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng bao gồm các bước tiến hành tương ứng với bốn giai đoạn của quá trình cho vay: quy trình xét duyệt cho vay; quy trình phát tiền vay; quy trình kiểm tra sử dụng vốn vay và quy trình thu hồi nợ vay. Một quy trình tín dụng khoa học, cụ thể, dễ thực hiện nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc của tín dụng, dễ kiểm tra kiểm soát chính là một trong những điều kiện quan trọng giúp ngân hàng quản lý được các khoản vay đồng thời tạo điều kiện cho khách hàng.

(vi) Năng lực quản trị rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủcả gốc lẫn lãi của khoản cho vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt

động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, đồng tài trợ… Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm giảm chất lượng tín dụng của Ngân hàng.

1.2.2. Nhóm yếu tố bắt nguồn từ phía khách hàng

Các yếu tố bắt nguồn từ khách hàng – đối tượng đi vay ảnh hưởng tới việc tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng, cụ thể bao gồm:

(i) Năng lực tài chính của doanh nghiệp: Năng lực tài chính là một trong những điều kiện quan trọng nhất tác độngđến quyết định cho vay của ngân hàng. Muốn vay được vốn, doanh nghiệp phải chứng minh được mình có tình hình tài chính lành mạnh, đảm bảo khả năng sửdụng vốn hiệu quả và hoàn trả nợ đúng hạn. Tuy nhiên, đây là khó khăn đối với phần lớn khách hàng bởi việc không cung cấp được thông tin tài chính có thể xác minh hoặc báo cáo tài chính không phản ảnh chính xác tình hìnhhoạt động của doanh nghiệp dẫn đến khả năng bị từ chối khoản vay cao.

(ii) Năng lực quản trị điều hành của doanh nghiệp: Năng lực quản trị điều hành của chủ doanh nghiệp cũng tác động đến khảnăngtiếp cận vốn vay của doanh nghiệp.

Khả năng điều hành tốt, xây dựng được dựán kinh doanh hoặc kế hoạch phát triển bài bản sẽ tạo niềm tin cho ngân hàng khi quyết định cho vay. Hơn nữa, năng lực quản trị tốt cũng quyết định việc sử dụng nguồn vốn có hiệu quả hay không. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều khách hàngkhó có thể thuyết phục được ngân hàng giải ngân cho dự án, kế hoạch kinh doanh của mình do không chứng minh được tính khả thi và khả năng sinh lời.

(iii) Chiến lược phát triển của doanh nghiệp: Chiến lược phát triển của doanh nghiệp cho biết trong kỳ kinh doanh sắp tới doanh nghiệp sẽ mở rộng, duy trì hay thu hẹp quy mô hoạt động; từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu đối với tín dụng ngân hàng của doanh nghiệp.

(iv) Kiến thức và thông tin của doanh nghiệp về tín dụng ngân hàng: Đối với các doanh nghiệp lớn, đây không phải là vấn đề ảnh hưởng nhiều đến việc tiếp cận nguồn tín dụng ngân hàng; nhưng yếu tố này lại là một trong những hạn chế đáng kể của doanh nghiệp nhỏ, khối khách hàng tư nhân bởi những khách hàng này thường thiếu kiến thức và thông tin về hoạt động tín dụng ngân hàng. Do vậy, việc tăng cường

công tác tư vấn, tiếp cận khách hàng cũng là biện pháp các ngân hàng cần thực hiện để thúc đẩy tín dụng đối với những đối tượng khách hàng này.

1.2.3. Nhóm yếu tố bắt nguồn từ điều kiện vĩ mô

(i) Yếu tố kinh tế: Nền kinh tế vĩ mô bất ổn có tác động đến hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh của các đối tượng khách hàng. Khi nền kinh tế vĩ mô bất ổn thì hoạt động tín dụng ngân hàng có độrủi ro cao.

Chủ trương đường lối phát triển kinh tế của Chính phủ là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới định hướng và mục tiêu kinh doanh của NHTM cũng như các đối tượng khách hàng. Chính sách kinh tế của Chính phủ đối với các đối tượng khách hàng cũng như các chính sách ưu đãi hay hạn chế sự phát triển của một ngành, một lĩnh vực, một đối tượng của nền kinh tế cũng có ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng ngân hàng.

Chính sách tiền tệ mở rộng hoặc thắt chặt trong điều kiện kinh tế vĩ mô bất ổn từ phía ngân hàng trung ương sẽ dẫn đến tăng cường hoặc hạn chế hoạt động huy động vốn của các NHTM. Trong khi đó, hoạt động huy động vốn luôn song hànhcùng hoạt động tín dụng. Chính vì vậy, chính sách tiền tệ đã ảnh hưởng tới việc tăng trưởng tín dụng ngân hàng của các NHTM.

Xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra sôi động trên thế giới. Vì thế sự biến động tình hình kinh tế - chính trị - xã hội trong nước theo sự biến động của thế giới có thể ảnh hưởng tới tăng trưởng tín dụng. Trong thời kỳ nền kinh tế khu vực bị suy thoái và khủng hoảng, khả năng chống đỡ khó khăn của khách hàng không lớn, hệ quả sẽ là tỷ lệ nợ xấu cao, chất lượng cho vay giảm sút…

(ii) Yếu tố xã hội: Đạo đức xã hội có liên quan tới rủi ro và tăng trưởng tín dụng trên một số khía cạnh như trình độ dân trí, thói quen tập quán, ý thức xã hội... Tăng trưởng tín dụng có thể bị giảm sút khi bản thân người đi vay chưa hiểu biết đúng đắn bản chất hoạt động ngân hàng nói chung cũng như hoạt động tín dụng nói riêng, chưa có thói quen tốt trong việc nhận tín dụng và hoàn trả vốn vay, không phát huy hiệu quả các chức năng, các phương tiện tín dụng...

(iii) Yếu tố pháp lý: Yếu tố pháp lý bao gồm tính đồng bộ, khoa học của hệ thống pháp luật, tính đầy đủ thống nhất của các văn bản dưới luật đồng thời gắn liền

với quá trình chấp hành và thực thi pháp luật. Pháp luật là bộ phận không thể thiếu được của nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Chỉ có trong điều kiện các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng tuân thủ pháp luật một cách nghiêm chỉnh thì quan hệ tín dụng mới đem lại lợi ích cho cả hai, và chất lượng tín dụng mới được đảm bảo.

(iv) Yếu tố công nghệ và sự phát triển của công nghệ thông tin: Cùng với sự phát triển của công nghệ và hệ thống thông tin; các ngân hàng càng có điều kiện nâng cao chất lượng dịch vụ, nâng cao tính bảo mật và đưa các ứng dụng của công nghệ thông tin tới gần khách hàng hơn. Từ đó các ngân hàng ngày càng có điều kiện để tiếp xúc và giới thiệu các sản phẩm tín dụng tới khách hàng một cách nhanh và tiện ích nhất từ đó thúc đẩy tăng trưởng tín dụng. Ngoài ra việc phát triển của công nghệ thông tin, internet, mạng không dây, diện thoại thông minh đã khiến các ngân hàng phải thay đổi tư duy truyền thống về tín dụng theo hướng mới – hướng của ứng dụng công nghệ và khiến cho cuộc đua giữa các ngân hàng ngày càng trở nên cạnh tranh gay gắt hơn bao giờ hết.

1.3. Kinh nghiệm tăng trưởng tín dụng của một số tổ chức tiêu biểu 1.3.1. Kinh nghiệm tăng trưởng của Vietinbank

Mặc dù trong các năm 2012 – 2013, hoạt động tín dụng của ngành ngân hàng bị ảnh hưởng mạnh bởi những khó khăn chung của nền kinh tế tuy nhiên Vietinbank đã đạt được nhiều thành công trong việc tăng trưởng tín dụng. Cụ thể:

- Tính đến cuối năm 2012, tốc độ tăng trưởng tín dụng của VietinBank gấp đôi tốc độ tăng bình quân toàn ngànhP0F1P, đồng thời chất lượng tín dụng được cải thiện đáng kể sau chuyển đổi là minh chứng rõ nét cho bước đi đúng đắn, tạo đà cho sự phát triển mạnh mẽ của VietinBank trong thời gian tiếp sau. Các giao dịch tín dụng được kiểm soát nhanh chóng, kịp thời và thông suốt, được khách hàng ghi nhận, đánh giá cao.

1Tổng dư nợ cho vay khách hàng đến 31/12/2012 của VietinBank vẫn đạt 333 nghìn tỷ đồng, tăng 13,6% so với

- Trong năm 2013, VietinBank tiếp tục chuyển đổi mô hình tín dụng giai đoạn 2 theo chuẩn Basel II, đảm bảo QLRR toàn diện, chặt chẽ. Tính đến nay, VietinBank là ngân hàng Việt Nam đầu tiên triển khai mô hình này.

Đây là kết quả đáng ghi nhận, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng tín dụng, kích thích tăng trưởng kinh tế của ngành ngân hàng. Để đạt được các thành tựu trong tăng trưởng tín dụng trong thời kỳ đầy khó khăn đó VietinBank xây dựng một số giải pháp như sau:

- Xây dựng chiến lược tín dụng và đầu tư, Vietinbank xác định tín dụng là hoạt động kinh doanh chủ lực, cạnh tranh theo nguyên tắc thị trường và cần điều chỉnh cơ cấu tín dụng hợp lý, phù hợp với thế mạnh của Vietinbank. Tăng cường hạn chế rủi ro tín dụng, bảo đảm nợ xấu chiếm dưới 3%. Đa dạng hóa các hoạt động đầu tư tín dụng trên thị trường tài chính, giữvai trò định hướng trong thịtrường, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và quản lý thanh khoản của ngân hàng.

- 19TChuyển đổi mô hình tín dụng mới - hướng đi đúng đắn, Vietinbank xác định việc 19Tchuyển đổi sâu rộng mô hình tín dụng chính là nhân tố chủ chốt, tạo bước đột phá căn bản để VietinBank thực hiện mục tiêu gia tăng thị phần đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng, chất lượng phục vụ khách hàng trong thời gian tới. Nhận thức rõ điều đó, trong thời gian qua, VietinBank đã có sự chuẩn bị thận trọng, kỹlưỡng về mô hình tổ chức, con người, hạ tầng công nghệ,.v.v. để chuyển đổi toàn diện mô hình tín dụng.

Sự thay đổi này tạo ra sự chuyên môn hóa sâu sắc giữa các bộ phận nghiệp vụ, tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng hướng tới các yêu cầu, thông lệ quốc tế về QLRR theo Basel II (Hiệp ước quốc tế về vốn của Basel).

- Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn giá rẻ thông qua mô hình liên kết 4 nhà: chủ đầu tư, nhà thầu, nhà cung cấp vật liệu xây dựng và NHTM;

- Triển khai gói tín dụng 30.000 tỷđồng cho nhà ở xã hội…;

- Mở rộng chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại một số thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng…Đồng thời gắn kết chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp với chương trình NHTM tham gia bình ổn giá;

- Tập trung dòng vốn vào các chương trình, lĩnh vực ưu tiên như cho vay thí điểm theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, mô hình sản xuất nông nghiệp áp dụng công nghệcao, các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉđạo của Chính phủ…

1.3.2. Kinh nghiệm tăng trưởng tín dụng của Vietcombank

Khi nghiên cứu hiện tưởng tăng trưởng tín dụng của Vietcombank trong năm 2013, tác giả đã nhận thấy cho tới tháng 6/2013 tín dụng của Vietcombank vẫn tăng trưởng âm 1,49% và đến cuối tháng 7 vẫn chấp chới -0,1%. Tuy nhiên khi đó Vietcombank vẫn xây dựng và kiên định mục tiêu tăng trưởng tín dụng là đạt tối thiểu 10% trong năm 2013; mục tiêu đó được dồn lại thực hiện trong 5 tháng cuối năm. Và thực tế cho thấy từ tháng 8/2013, tín dụng của ngân hàng này liên tục tăng mạnh, kết thúc năm 2013, tăng trưởng tín dụng đã đạt tới 14,7%, cao hơn mục tiêu dự kiến; và năm 2014 hiện đã sẵn có khoảng 6% tăng trưởng theo kế hoạch giải ngân.

Nguyên nhân của thành công trên là do:

- (i) một phần có từ yếu tố thời vụ, tín dụng thường tăng mạnh vào thời điểm cuối năm; (ii) mặt khác, ngân hàng đã chủ động hơn trong việc tiếp cận, tìm kiếm các dự án hiệu quả, các khách hàng lớn; (iii) triển khai các ưu đãi lãi suất, (iv) tận dụng lợi thế trong tiếp cận là bán chéo các sản phẩm, dịch vụ, đặc biệt là thế mạnh trong cung ứng ngoại tệ.

- Ngoài ra Vietcombank đã phát triển được các khách hàng lớn và mới; chẳng hạn như tháng cuối năm 2013, ngân hàng này liên tục ký loạt dự án lớn với Tổng công ty Khoan thăm dò khai thác dầu khí, Tập đoàn Cao su, Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Than và khoáng sản, Tập đoàn Viễn thông quân đội Viettel, Hãng hàng không quốc gia Vietnam Airlines… Trong đó, có những điểm đến mới mà trước nay Vietcombank chưa tiếp cận được.

- Hơn nữa ban lãnh đạo ngân hàng đã thực sự quyết tâm, thúc đẩy toàn hệ thống vận hành, kiên trì đạt mục tiêu . Như Tổng giám đốc Vietcombank đã phát biểu:

“Những năm qua các ngân hàng khác đã chạy nhanh, còn mình thì cứ đứng, đứng lâu quá, cần phải có tốc độ hợp lý hơn, nên năm tới sẽ rất quyết liệt”; và “Chúng tôi đang nỗ lực lấy lại những gì vốn có. Bản thân nội bộ Vietcombank cũng có nhiều chuyển biến, với cách làm việc mới tạo ra sức ép mới, không khí mới”,

1.3.3. Kinh nghiệm tăng trưởng tín dụng của Sacombank

Trong năm 2013, thị trường tài chính vẫn diễn biến phức tạp, lãi suất giảm, nợ xấu tăng cao, khả năng hấp thụ vốn yếu đã ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của hệ

thống ngân hàng. Trước khó khăn trên, một số ngân hàng đã chủ động xây dựng kế hoạch linh hoạt trong kinh doanh, chú trọng nâng cao quản trị rủi ro và quyết liệt xử lý nợ xấu để đảm bảo kế hoạch có hiệu quả và an toàn, không chú trọng tăng trưởng mạnh như trước; tuy nhiên Sacombank vẫn có được bước tăng trưởng tốt về tính dụng.

Cụ thể trong năm 2013 dư nợ cho vay của Sacombank đã tăng hơn 16%. Vấn đề đặt ra là làm cách nào mà Sacombank đạt được tốc độ tăng trưởng tín dụng ấn tượng như trên trong khi toàn ngành tăng khá chậm? Và Sacombank đã có biện pháp gì để kiểm soát sự tăng trưởng tín dụng được an toàn trong bối cảnh các doanh nghiệp đang rất khó khăn. Sau khi tìm hiểu khá kỹlưỡng về hiện tượng Sacombank, tác giả nhận thấy:

- Để đạt được tốc độ tăng trưởng như trên, trước hết là do Sacombank có lượng khách hàng ổn định, có hệ thống mạng lưới hàng đầu trong hệ thống ngân hàng TMCP với 422 điểm giao dịch tại 3 thị trường Việt Nam – Lào – Campuchia, trong đó tại Việt Nam, Sacombank đã có mặt tại 48/63 tỉnh thành. Đây là điều kiện quan trọng để tăng trưởng tín dụng.

- Thứ 2, Sacombank là ngân hàng bán lẻ. Trong năm 2013 dù doanh nghiệp còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhưng Sacombank đã tiếp tục triển khai cho vay phân tán khá hiệu quả và chủ động dịch chuyển trong cơ cấu tín dụng tập trung sâu hơn vào hệ khách hàng dân cư bán lẻ. Đây là điểm thuận lợi của Sacombank so với các ngân hàng TMCP khác

- Thứ ba, đối với công tác quản lý tín dụng, Sacombank đã xây dựng được hệ thống quản lý rủi ro bài bản, vận hành thành công hệ thống xếp hạng tín dụng tự động.

Theo đó, chỉ tiêu an toàn vốn tốt, nguồn vốn cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn ổn định, ngân hàng đã kiểm soát tỷ lệ nợ xấu khá tốt, so với cuối năm 2012 thì đã giảm nhẹ, còn khoảng 2,23% trong tổng dư nợ cho vay. Ngoài ra, Sacombank còn có hệ thống tính toán tổn thất dự kiến, hỗ trợ cho việc phán quyết và cấp phát tín dụng, giúp hạn chế thấp nhất rủi ro. Điểm quan trọng là hầu hết các khoản vay của khách hàng tại Sacombank đều có tài sản đảm bảo và việc trích lập dự phòng được thực hiện đúng quy định

Một phần của tài liệu giải pháp tăng trưởng tín dụng tại agribank chi nhánh kiên giang (Trang 26 - 39)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(84 trang)