Phát triển cây khóm (dứa) trên địa bàn tỉnh tiền giang Phát triển cây khóm (dứa) trên địa bàn tỉnh tiền giang Phát triển cây khóm (dứa) trên địa bàn tỉnh tiền giang Phát triển cây khóm (dứa) trên địa bàn tỉnh tiền giang Phát triển cây khóm (dứa) trên địa bàn tỉnh tiền giang Phát triển cây khóm (dứa) trên địa bàn tỉnh tiền giang
Các nghiên cứu trước liên quan
Phát triển khóm chỉ mới được chú ý gần đây, dẫn đến việc thiếu hụt các nghiên cứu về lĩnh vực này Một số công trình đã được thực hiện trong thời gian qua để tìm hiểu về tiềm năng và ứng dụng của khóm.
Vào năm 2010, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã thực hiện đề tài cấp bộ nhằm rà soát quy hoạch vùng khóm nguyên liệu cho chế biến công nghiệp Đề tài này tập trung vào việc xác định thực trạng sản xuất khóm, phân tích những thuận lợi và khó khăn trong phát triển khóm nguyên liệu, đồng thời đề xuất phương án sản xuất khóm cung cấp cho các nhà máy chế biến Mặc dù đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, nhưng đề tài vẫn chưa giải quyết được vấn đề tổ chức sản xuất, tiêu thụ, hoàn thiện phương thức thu mua, chính sách giá cả, và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển cây khóm cho từng vùng và nhà máy cụ thể.
Đề tài cấp trường "Thực trạng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất khóm xuất khẩu ở Đồng Giao - Ninh Bình" của tác giả Nguyễn Văn Tuân (2012) chỉ tập trung vào hiệu quả kinh tế trong sản xuất khóm xuất khẩu, mà chưa đề cập đến phát triển công nghiệp chế biến khóm.
Đề tài “Đánh giá thực trạng sản xuất và chế biến khóm tại công ty chế biến thực phẩm Đồng Giao - Ninh Bình” của tác giả Thái Thùy Linh (2014) chỉ tập trung vào việc đánh giá hiện trạng sản xuất và chế biến khóm mà chưa thực hiện nghiên cứu phát triển tổng quát cho cây khóm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
Dựa trên các tài liệu đã nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng hiện tại chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về sự phát triển của cây khóm tại tỉnh Tiền Giang Do đó, việc nghiên cứu đề tài này không chỉ là điều chưa từng được công bố mà còn mang tính cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng phát triển cây khóm tại tỉnh Tiền Giang dựa trên lý luận về phát triển nông nghiệp Tác giả sẽ nêu rõ những thành tựu đã đạt được cũng như các vấn đề còn tồn tại trong quá trình phát triển cây khóm Từ đó, các giải pháp phù hợp sẽ được đề xuất nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của cây khóm tại địa phương.
Câu hỏi 1: Cơ sở lý luận về phát triển cây khóm là gì?
Câu hỏi 2: Thực trạng về phát triển cây khóm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang là như thế nào?
Câu hỏi 3: Cần có những giải pháp nào để thúc đẩy phát triển cây khóm cho địa bàn tỉnh Tiền Giang?
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp liên quan đến việc sử dụng thông tin từ các tài liệu nghiên cứu đã được công bố như báo cáo hàng năm, sách báo, và các nghiên cứu trước đó Những số liệu này được lấy từ các nguồn có sẵn, bao gồm tổng cục thống kê, ban thống kê thị xã, và các bài viết trên báo điện tử Việc thu thập và chọn lọc thông tin từ nhiều nguồn khác nhau giúp làm rõ tình hình chung của địa bàn cũng như cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp bao gồm việc tiếp cận có sự tham gia của người dân thông qua điều tra và bộ câu hỏi đã được lập sẵn Quá trình này giúp tổng hợp thông tin liên quan đến phát triển khóm tại tỉnh Số liệu được thu thập từ các cuộc phỏng vấn với người dân và sau đó được phân tích bằng các công cụ như máy tính và Excel để làm rõ thực trạng cây khóm của các hộ dân trong khu vực.
Phương pháp thống kê mô tả được áp dụng trong nghiên cứu và điều tra số liệu nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu Tác giả sử dụng các phương pháp như số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân, tất cả được xử lý trên phần mềm Excel Sau khi thu thập thông tin và số liệu, chúng sẽ được tổng hợp và phân bổ theo các tiêu thức khác nhau, từ đó được xử lý, hiệu chỉnh và phân tích Kết quả cuối cùng sẽ đưa ra các kết luận và nhận xét phản ánh yêu cầu nội dung của đề tài nghiên cứu, với số liệu được phân bổ theo các tiêu thức kinh tế, xã hội và môi trường, được trình bày dưới dạng bảng và đồ thị thống kê.
Phương pháp so sánh, đối chiếu là công cụ quan trọng trong nghiên cứu, cho phép phân tích các chỉ tiêu kinh tế xã hội và môi trường thông qua đồ thị và bảng số liệu Phương pháp này giúp so sánh tình hình kinh tế, quy mô và cơ cấu đầu tư cơ sở vật chất cho phát triển khóm giữa các hộ nông dân Bằng cách đối chiếu các số liệu tuyệt đối và tương đối về cơ cấu, sản lượng khóm nguyên liệu hàng năm, cũng như so sánh giữa các năm, ta có thể nhận diện biến động trong khả năng phát triển khóm và tình hình tiêu thụ trên thị trường Từ đó, có thể đưa ra các giải pháp hiệu quả cho sự phát triển khóm tại tỉnh Tiền Giang.
Phương pháp chuyên gia là công cụ quan trọng để thu thập ý kiến từ các chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ khuyến nông, nhằm xác thực các đánh giá trong nghiên cứu Bên cạnh đó, việc phỏng vấn nông dân trồng khóm tại địa phương giúp cung cấp cái nhìn thực tế và sâu sắc hơn về tình hình sản xuất.
Những đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu sẽ có các đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận: Đề tài sẽ góp phần phát triển lý thuyết về phát triển cây khóm
Bài viết này thực hiện phân tích đánh giá thực trạng phát triển cây khóm tại tỉnh Tiền Giang, nêu rõ những kết quả đạt được và các hạn chế còn tồn tại Từ đó, bài viết xác lập cơ sở thực tiễn và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của cây khóm trong thời gian tới tại địa phương.
Kết cấu của đề tài
- Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển cây khóm
- Chương 2: Thực trạngvề phát triển cây khóm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
- Chương 3: Giải pháp phát triển cây khóm địa bàn tỉnh Tiền Giang
Tổng quan phát triển trồng khóm
1.1.1 Khái niệm về cây khóm
Cây khóm, một loại cây trồng quan trọng trong ngành nông nghiệp, sản xuất trái khóm được sử dụng như một món ăn độc lập hoặc ăn kèm Đây là loại cây ngắn hạn, chủ yếu cung cấp các loại quả ăn được, góp phần vào sự đa dạng trong thực phẩm.
1.1.2 Khái niệm về phát triển trồng khóm
Phát triển bền vững là quá trình nâng cao các tiêu chuẩn sống, bao gồm tiêu dùng, giáo dục, sức khỏe và bảo vệ môi trường Đánh giá sự phát triển không chỉ dựa vào GNP và GDP bình quân đầu người mà còn dựa vào các chỉ tiêu xã hội như cơ hội giáo dục, sức khỏe cộng đồng, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
Phát triển trồng khóm cần tập trung vào việc nâng cao số lượng và chất lượng sản phẩm, đồng thời thay đổi cơ cấu nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu thị trường và xã hội Điều này không chỉ giúp gia tăng khối lượng sản phẩm hàng hóa mà còn đảm bảo bảo vệ môi trường Do đó, sự phát triển khóm phải đạt được đồng thời ba mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường.
1.1.3 Đặc điểm của cây khóm về mặt kinh tế
Quả khóm là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng, chứa nhiều vitamin và khoáng chất thiết yếu cho cơ thể Hàm lượng đường trong quả khóm dao động từ 8-12%, có thể lên tới 15-18% nếu được chăm sóc tốt, chủ yếu là đường Sacorase Độ chua của quả khóm nằm trong khoảng 0,4-0,6%, với 87% là axit citric Ngoài ra, quả khóm còn chứa 87% nước và các vitamin A, B, C, mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.
0,3mg carotene, 0,006mg vitamin B1 và 22mg vitamin C.(Cameron và esty, 1976),
(Trần Thế Tục, Vũ Mạnh Hải, 1999)
Theo tính toán thì trong 1kg khóm quả cho khoảng 400 - 420 calo, đặc biệt trong khóm còn chưa enzim thủy phân protein rất tốt cho tiêu hóa là Bromelin
Các vùng trồng khóm từ miền Đông Nam Bộ đến đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng quanh năm, nhưng cần đảm bảo cung cấp đủ nước và độ ẩm trong giai đoạn cây con Ở các tỉnh phía bắc, khóm thường được trồng vào hai vụ chính: vụ Xuân (tháng 3, 4) và vụ Thu (tháng 8, 9) Vụ Xuân có lợi thế về điều kiện thời tiết thuận lợi cho cây sinh trưởng, giúp cây tích lũy dinh dưỡng tốt hơn, từ đó cho ra quả to và chất lượng Tuy nhiên, khó khăn trong vụ Xuân là số lượng giống hạn chế và thời gian phát triển lâu do nhiệt độ thấp Do đó, lựa chọn giống cây khỏe mạnh là rất quan trọng để đảm bảo cây phát triển tốt và cho năng suất cao.
1.1.3.2Yêu cầu về giống Đối với sự phát triển cây trồng nói chung và sự phát triển cây khóm nói riêng thì nên chọn con giống to khỏe Đối với nhóm khóm Queen khối lượng chồi pahri trên 200g, đối với nhóm Cayenne chọn chồi có khối lượng trên 250g Trồng vụ thu có nhiều thuận lợi hơn, lúc này số chồi non nhiều Sau khi thu quả chồi bật nhanh và chỉ sau một thời gian ngắn có thể đánh ra để trồng Thường người ta bó thành từng bó 20 - 30 chồi, để vài ngày hoặc lâu hơn trong bóng râm rồi đem đi trồng Trong khoảng thời gian trồng khóm vụ thu (tháng 8, 9) điều kiện khí hậu tương đối thích hợp, nhiệt độ và độ ẩm còn cao, ít nắng gắt và còn có những cơn mưa nên cây chóng bén rễ, hồi xanh Quá trình sinh trưởng vì vậy diễn ra thuận lợi cây phát triển tốt Cần chú ý là khi trồng khóm vào vụ thu sau một thời gian ngắn bắt đầu từ tháng 10 trở đi, nhiệt độ bắt đầu hạ thấp, chất lượng mưa giảm đáng kể là điều kiện rất thuận lợi cho sự hình thành mầm hoa, nhất là các loại chồi già có kích thước lớn Vì vậy, điều quan trọng là phải chọn chồi trồng vụ thu Cần chọn các chồi tương đối non, có khối lượng trên dưới 150g đối với nhóm khóm Queen và 200g đối với nhóm khóm Cayenne Riêng ở một số tỉnh miền Trung, điều kiện khí hậu có sự pha trộn của cả 2 miền Nam và Bắc, lại chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam rất khô nóng trong thời kỳ từ tháng 4 đến tháng 9, thời vụ trồng khóm do đó cần được tính đến yếu tố này
1.1.3.3Vốn đầu tư sản xuất
Vốn đầu tư là yếu tố quan trọng trong việc phát triển cây khóm, đặc biệt trong bối cảnh nông dân Việt Nam thường gặp khó khăn về tài chính Hầu hết nông dân vẫn còn nghèo và thiếu vốn để mở rộng sản xuất, đặc biệt là trong việc phát triển cây ăn quả và cây nguyên liệu trên các vùng đất mới Mặc dù nhà nước đã có chính sách hỗ trợ vay vốn cho nông dân, nhưng việc thực hiện chính sách này ở một số địa phương vẫn gặp nhiều khó khăn, như vấn đề thế chấp và thời hạn cho vay Hiện nay, các cơ quan chức năng đang nỗ lực tháo gỡ những vướng mắc để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của ngành nông nghiệp.
Kỹ thuật trồng khóm đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của các vùng trồng khóm, với năng suất và hiệu quả nghề trồng phụ thuộc vào nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ Để đạt năng suất cao và hiệu quả kinh tế, cần có giống mới và biện pháp kỹ thuật thâm canh phù hợp Thị trường hiện nay yêu cầu chất lượng quả khóm và sản phẩm chế biến ngày càng cao, vì vậy việc nâng cao chất lượng quả về màu sắc, hương vị và thành phần sinh hóa là rất cần thiết Để đáp ứng nhu cầu thị trường và thị hiếu người tiêu dùng, công tác khoa học và công nghệ cần có chiến lược đi trước một bước, chuẩn bị cho sự phát triển tương lai.
1.1.3.5 Sản phẩm chế biến từ khóm
Việc phát triển cây khóm cho ngành chế biến đã đóng góp quan trọng vào việc đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp Sự xuất hiện của cây khóm đã tạo ra năng suất và hiệu quả kinh tế cao, bổ sung thêm các sản phẩm chế biến như nước khóm cô đặc, khóm hộp và khóm khoanh Điều này không chỉ làm phong phú thêm chủng loại sản phẩm mà còn thúc đẩy công nghệ bảo quản phát triển hơn nữa.
1.1.3.6 Yêu cầu trong liên kết
Các hoạt động tạo ra sản phẩm khóm bao gồm cung cấp đầu vào, sản xuất, chế biến và tiêu thụ, với sự phát triển phụ thuộc vào khả năng tham gia chuỗi giá trị của các tác nhân Để nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm khóm, cần tăng cường sự gắn kết giữa người sản xuất và các đối tác thu mua, chế biến Liên kết này phải đảm bảo lợi ích cho cả hai bên thông qua hợp đồng giao khoán và hợp đồng thu hoạch, tiêu thụ, được thể hiện rõ ràng về mặt pháp lý Việc tuân thủ đúng giá cả trong hợp đồng đã thỏa thuận là điều kiện cần thiết để phát triển bền vững ngành khóm.
Sản xuất khóm đòi hỏi thâm canh cao độ với đầu tư lớn về phân bón và kỹ thuật chăm sóc để đạt năng suất cao và tính ổn định Ngoài giá trị kinh tế, sản xuất khóm còn ảnh hưởng lớn đến chính trị - xã hội; sự suy giảm trong sản xuất có thể làm giảm thu nhập của người dân, gia tăng tỷ lệ nghèo và bất bình đẳng, đồng thời tác động đến môi trường và an ninh xã hội Vì vậy, phát triển khóm cần được liên kết chặt chẽ với các điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội và môi trường tại địa phương.
Vai trò việc phát triển cây khóm về mặt kinh tế
Cây khóm là sản phẩm quan trọng trong ngành nông – lâm – ngư nghiệp, đóng góp lớn cho nền kinh tế địa phương Sản phẩm này được lựa chọn dựa trên các tiêu chí như giá trị gia tăng cao, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, kim ngạch xuất khẩu lớn và tiềm năng xuất khẩu cao Ngoài ra, cây khóm còn có khả năng thay thế hàng nhập khẩu và sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước hoặc từ địa phương.
1.2.1 Tạo ra các sản phẩm có giá trị dinh dưỡng
Quả khóm, được xem là một trong những cây ăn quả nhiệt đới hàng đầu, rất được ưa chuộng ở phương Tây nhờ mùi thơm đặc trưng và hàm lượng đường cao Loại quả này giàu calo và chứa nhiều khoáng chất, đặc biệt là Kali, cùng với các vitamin thiết yếu như A, B1, B2, PP và C Đặc biệt, khóm chứa Bromelin, một loại men thủy phân protein có khả năng hỗ trợ điều trị rối loạn tiêu hóa, giảm phù nề và giúp vết thương nhanh lành Trong ngành công nghiệp, Bromelin được sử dụng để làm mềm thịt trong chế biến thực phẩm Ngoài việc ăn tươi, khóm còn được chế biến thành khóm hộp và nước khóm, là những sản phẩm xuất khẩu lớn Phần xác bã sau chế biến được sử dụng làm thức ăn gia súc và phân bón, trong khi thân lá khóm được dùng để sản xuất bột giấy.
Cây khóm cung cấp nhiều sản phẩm thiết yếu cho nhu cầu con người, bao gồm nước giải khát, nước quả tự nhiên, nec-ta quả, nước quả cô đặc, si-rô quả, squash quả và nước quả lên men Những sản phẩm này không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao mà còn hỗ trợ con người trong các hoạt động xã hội Khi xã hội phát triển và đời sống con người được nâng cao, nhu cầu về thực phẩm cũng gia tăng, đặc biệt là những loại thực phẩm bổ dưỡng, trong đó khóm là một lựa chọn lý tưởng.
1.2.2 Tạo việc làm cho người dân
Ngành trồng khóm phát triển nhanh chóng đã tạo ra nhiều việc làm, thu hút đông đảo lao động tham gia vào các công đoạn sản xuất Điều này không chỉ giảm áp lực về thiếu việc làm trên toàn quốc mà còn giúp nhiều người dân có thêm thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình.
1.2.3 Cải thiện bộ mặt kinh tế của địa phương
Trồng khóm không chỉ có giá trị dinh dưỡng cao mà còn đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, với sản phẩm được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu ra thế giới Điều này giúp tăng ngân sách Nhà nước qua thuế và thúc đẩy sự tăng trưởng chung của toàn ngành kinh tế Hơn nữa, việc tiêu dùng của nông dân và cư dân nông thôn đối với các sản phẩm này cũng góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế địa phương.
Mục tiêu chính của sản xuất kinh doanh khóm là tối ưu hóa hiệu quả kinh tế Tuy nhiên, quá trình này bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là thị trường tiêu thụ và giá khóm Khi người sản xuất có thể giữ sản phẩm sau thu hoạch để bán vào thời điểm giá tăng, hiệu quả sản xuất sẽ được cải thiện Ngược lại, nếu gặp khó khăn và phải bán sản phẩm khi giá thấp, thu nhập sẽ bị giảm Vì vậy, phát triển bền vững ngành khóm là cần thiết để nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh khóm.
Nội dung phát triển cây khóm
Khái niệm, bản chất, vai trò và đặc điểm của phát triển khóm sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về nội dung cụ thể liên quan đến sự phát triển của loại cây này Các vấn đề liên quan đến phát triển khóm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hướng đi và tiềm năng phát triển của ngành nông nghiệp.
1.3.1 Quy hoạch và quy mô diện tíchtrồng khóm
Quy hoạch và quy mô vùng trồng khóm đóng vai trò quan trọng trong ngành chế biến khóm, đòi hỏi sự bố trí tập trung gần các nhà máy chế biến và thị trường tiêu thụ Việc phát triển các vùng trồng khóm thường diễn ra trên đất gò đồi hoặc đất phèn, nơi có dân cư thưa thớt, do đó cần quy hoạch dân cư để đảm bảo đủ lao động Để nâng cao năng suất khóm lên 50 - 70 tấn/ha, cần cải thiện trình độ lao động và cơ cấu đội ngũ Đồng thời, quy hoạch cũng phải chú ý đến việc xử lý phế thải từ chế biến khóm, nhằm bảo vệ môi trường và nguồn nước Để đạt hiệu quả trong phát triển vùng trồng khóm, cần có cơ chế chính sách đồng bộ, khuyến khích nông dân và trang trại đầu tư phát triển, đặc biệt là các chính sách liên quan đến đất đai, thuế và tiêu thụ sản phẩm.
Quy hoạch vùng trồng khóm cần chú trọng đến thị trường tiêu thụ và các hoạt động dịch vụ liên quan Việc thành lập vùng nguyên liệu tập trung cần xem xét kỹ lưỡng các yếu tố này Cần tổ chức hợp lý và thiết lập cơ chế cung ứng vật tư kỹ thuật, giống cây, cùng các dịch vụ tư vấn và bảo vệ thực vật, phân bón, và công cụ cơ khí Đồng thời, quy hoạch hệ thống thu mua và tiêu thụ sản phẩm cũng cần được thực hiện tốt với các cơ chế trao đổi và thanh toán linh hoạt.
1.3.2 Tổ chức sản xuất trồng khóm Để tổ chức sản xuất trồng khóm có hiệu quả cần phát huy được vai trò của tất cả các loại hình sản xuất, trong đó chú trọng đến các hộ sản xuất, các hợp tác xã, các trang trại, đây là những loại hình chủ yếu cung cấp nguyên liệu phục vụ cho chế biến khóm. Để gắn được vùng trồng với nhà máy chế biến cần tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa người trồng khóm với nhà máy thông qua hình thức hợp đồng, như hợp đồng về đầu tư ban đầu cho trồng khóm, hợp đồng mua khóm nguyên liệu gắn với giá cả cụ thể và những biến động giá khi rủi ro xảy ra với người trồng
Để tổ chức sản xuất trồng khóm hiệu quả cho chế biến, cần chú trọng đến chính sách trồng khóm phù hợp với từng loại hình sản xuất Các chính sách này nên ưu tiên giá thu mua nguyên liệu, hỗ trợ đầu tư ban đầu như cho vay vốn, phân bón, trợ giá giống, khai hoang và đầu tư cơ sở hạ tầng.
1.3.3 Thu hoạch và chế biến
Để đảm bảo chất lượng khóm phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng, việc thu hoạch khóm cần phải được thực hiện đúng độ chín Độ chín của khóm được xác định dựa vào màu sắc vỏ và số lượng mắt mở: khóm đạt độ chín 4 khi 100% vỏ có màu vàng sẫm và trên 5 hàng mắt mở; độ chín 3 khi có 4 hàng mắt mở và 75-100% vỏ màu vàng tươi; độ chín 2 khi có 3 hàng mắt mở và 25-75% vỏ màu vàng tươi; độ chín 1 khi chỉ có 1 hàng mắt mở và 25% vỏ chuyển màu vàng; độ chín 0 khi quả vẫn còn xanh bóng và mắt chưa mở; và độ chín 00 khi quả còn xanh sẫm và mắt chưa mở.
Khi thu hoạch quả khóm, nên chọn thời điểm khi quả đạt độ chín 1 và 2, với màu sắc sáng đẹp, để đảm bảo quả tươi trong 4 – 8 ngày, phù hợp cho việc ăn ngay hoặc chế biến Nếu thu hoạch khi quả còn xanh (độ chín 0 và 00), độ đường chỉ đạt 8 – 10 Brix, sẽ không tăng lên sau thu hoạch và dễ bị hỏng trong 10-12 ngày.
2 lúc ấy độ đường đạt 11-12 Brix giữ được 6 – 9 ngày; thu hoạch ở độ chín 3, 4 độ đường rất cao 15 – 16 Brix, khóm rất chóng hỏng, chỉ giữ được 3 – 5 ngày.
Trước đây, nông dân trồng khóm phải thuê nhân công để thu hoạch, dẫn đến thời gian thu hoạch kéo dài và chi phí cao Điều này không chỉ làm tăng gánh nặng tài chính mà còn ảnh hưởng đến chất lượng khóm, từ đó giảm hiệu quả kinh tế của hộ trồng.
Hiện nay, việc sử dụng công cụ thu hoạch khóm ngày càng phổ biến với nhiều loại máy móc như máy thu hoạch, máy trồng, máy phun thuốc, máy cày và máy phun nước Những thiết bị này giúp nông dân giảm chi phí, giảm nhân công, nâng cao hiệu suất làm việc và tăng cường hiệu quả kinh tế.
Chế biến sau thu hoạch
Sau khi cắt khóm, hộ dân cần để khóm ở nơi thoáng mát và xếp vào sọt một cách nhẹ nhàng để tránh bị bầm dập Từ quả khóm chín, có thể chế biến thành nhiều món ăn hấp dẫn như khóm hộp, nước cốt khóm, bánh khóm, và mứt khóm đặc hoặc đông.
1.3.4 Tổ chức công tác tiêu thụ
Nguy cơ "được mùa rớt giá" vẫn là một thách thức lớn trong ngành sản xuất và kinh doanh sản phẩm từ khóm Do đó, việc tổ chức công tác tiêu thụ hiệu quả là rất quan trọng để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững cho ngành này.
Tổ chức công tác tiêu thụ có thể xây dựng trên cơ sở ổn định đầu ra của sản phẩm về giá và chất lượng.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt, việc tổ chức công tác tiêu thụ nông sản trở nên vô cùng cần thiết Mặc dù nông dân có khả năng trồng nhiều loại nông sản, nhưng việc tiêu thụ lại gặp khó khăn do thiếu thị trường đầu ra ổn định Để sản xuất hàng hoá hiệu quả, nông dân cần hợp tác để tạo ra khối lượng lớn và chất lượng cao, đồng thời cung cấp sản phẩm đúng thời điểm với giá cả cạnh tranh Ngoài ra, nhà nước cần triển khai chính sách đồng bộ nhằm ổn định giá cả thị trường, và các nhà máy cần đảm bảo bao tiêu sản phẩm để nông dân yên tâm phát triển sản xuất.
Các nhân tố tác động đến phát triển cây khóm
1.4.1 Nhân tố về chủ trương và chính sách
Chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và ảnh hưởng đến sự phát triển nông thôn, tác động sâu sắc đến các yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội Để thúc đẩy sự phát triển bền vững, hệ thống chính sách cần linh hoạt và đồng bộ, tạo điều kiện cho nông nghiệp không chỉ tồn tại mà còn phát triển mạnh mẽ Sự gắn kết giữa nông nghiệp và nông thôn là điều không thể tách rời, do đó, việc phát triển nông nghiệp luôn phải đi đôi với xây dựng nông thôn Hệ thống chính sách nông nghiệp cần được thiết kế để hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của cả hai lĩnh vực này.
- Chính sách ruộng đất: cần khẳng định quyền sở hữu đất đai thuộc về Nhà nước, nhưng quyền sử dụng đất lâu dài được trao cho người dân.
Chính sách thuế sử dụng ruộng đất đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng sản xuất nông nghiệp, thể hiện sự khuyến khích hoặc hạn chế đối với việc sản xuất các loại nông sản cụ thể và việc khai thác, sử dụng các loại đất nhất định.
Chính sách đầu tư và tín dụng trong nông thôn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sản xuất, thâm canh và đa dạng hóa hoạt động sản xuất Những chính sách này không chỉ giúp ổn định đời sống của người dân mà còn tăng cường sự đoàn kết trong cộng đồng Đồng thời, chúng cũng góp phần điều tiết thực hiện các định hướng phát triển của Nhà nước đối với các loại sản phẩm và các vùng cần được khuyến khích phát triển.
Chính sách khuyến nông được thiết lập để thúc đẩy việc áp dụng nhanh chóng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, đồng thời khuyến khích đổi mới trang thiết bị nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.
- Chính sách bảo hiểm trong nông nghiệp: tạo nên trạng thái ổn định, tâm lý tin tưởng, yên tâm đầu tư sản xuất, phát triển nông nghiệp
Chính sách xã hội ở nông thôn nhằm duy trì và ổn định lực lượng sản xuất, góp phần xây dựng đoàn kết và khuyến khích mọi người tham gia nghĩa vụ với đất nước trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng Đảng và Chính phủ đã xác định rõ vai trò của nông nghiệp, nông thôn và nông dân trong việc thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững kinh tế xã hội Trong những năm qua, các chủ trương và chính sách đã được hoàn thiện, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội ở nông thôn, đồng thời làm hài lòng người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới.
1.4.2 Nhân tố về điều kiện tự nhiên
Mỗi quốc gia hay vùng miền đều có những lợi thế và hạn chế riêng, và trong nền kinh tế thị trường, việc khai thác lợi thế và khắc phục hạn chế là rất quan trọng Điều kiện tự nhiên, như loại đất và khí hậu, đóng vai trò quyết định trong việc xây dựng hệ thống cây trồng hợp lý Ví dụ, cây khóm cần đất xốp, nhẹ, thoáng khí và độ pH từ 4,5 - 5,5 để phát triển tốt Việc phát triển vùng nguyên liệu phải gắn liền với quy hoạch sản xuất nông nghiệp địa phương, khuyến khích người dân thâm canh và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ đó đa dạng hóa sản phẩm và áp dụng công nghệ mới vào sản xuất Quy hoạch sử dụng đất, thủy lợi và giao thông sẽ tạo ra các vùng chuyên canh, nâng cao sản lượng nông sản, thúc đẩy công nghiệp chế biến và tiến tới công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn.
Nhóm giống ớt này bao gồm Cayenne không gia và Cayenne Trung Quốc, có đặc điểm cây cao, to với lá dài, dày và làng máng sâu màu xanh nhạt Quả ớt có hình trụ, mắt dẹt, với khối lượng trung bình từ 1,5 đến 2 kg mỗi quả Khi chưa chín, quả có màu xanh đen, sau khi chín chuyển dần sang màu đỏ pha hồng Đây là nhóm khóm chính được sử dụng cho chế biến hiện nay.
Nhóm giống trái cây bao gồm khóm tây, khóm hoa Phú Thọ, na hoa, và thơm tàng ong, có khả năng sinh trưởng kém hơn so với nhóm Cayenne Chúng có lá ngắn, hẹp, cứng và nhiều gai ở mép Mặc dù khả năng chống chịu tốt, mặt trong lá có ba đường vân hình răng cưa song song với chiều dài Hoa có màu hồng, trái có nhiều mắt nhỏ và sâu, thịt quả vàng, giòn, ngọt, thơm, ít xơ, và lõi bé Nhóm giống này phổ biến ở Việt Nam, chủ yếu được sử dụng để ăn tươi, có hệ số nhân cao và chín sớm.
Nhóm cây này nổi bật với đặc điểm lá dài, mềm, hẹp, ít gai và mép lá hơi cong về phía lưng Hoa tự có màu đỏ nhạt, trong khi quả có kích thước lớn hơn Queen nhưng nhỏ hơn Cayenne, với trọng lượng trung bình đạt 1kg/quả Thịt quả có màu vàng ngà hoặc vàng trắng, nhiều xơ, lõi rắn, ít ngọt và có vị chua Nhóm này có hệ số nhân giống cao, bao gồm các giống như khóm nếp, khóm cam, bẹ đỏ, bẹ đen và khóm mật tại Việt Nam.
1.4.4 Nhân tố nguồn nhân lực
Nguồn lực, bao gồm vốn, lao động, tài nguyên và công nghệ, đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, nhưng hiện nay, ngành nông nghiệp đang đối mặt với thách thức lớn về vốn và chi phí đầu tư Mặc dù đã có sự đầu tư cho nông nghiệp, nhu cầu vẫn còn thiếu hụt đáng kể Hỗ trợ từ Chính phủ chỉ đáp ứng được những nhu cầu thiết yếu Sự tương tác đồng bộ giữa công nghệ và vốn là yếu tố quyết định để tạo ra những biến đổi tích cực Phát triển cây trồng đã góp phần quan trọng vào sự phát triển nông thôn, giúp người dân phát huy nội lực và thực hiện tốt chính sách của Đảng và Nhà nước Để huy động nguồn lực, cần sự đóng góp từ người dân thông qua nhiều kênh khác nhau, cả tự nguyện và bắt buộc, và tổ chức xã hội sẽ là cầu nối quan trọng để duy trì nguồn lực một cách bền vững.
1.4.5 Nhân tố khoa học kỹ thuật
Xây dựng và phát triển khóm là một quá trình tổng hợp nhiều yếu tố tự nhiên, xã hội và kỹ thuật, đòi hỏi người dân cần được trang bị kiến thức cơ bản về trồng trọt và công nghệ sản xuất Việc hiểu biết về giống khóm, quy trình chăm sóc, phân bón phù hợp, và kỹ thuật trồng trọt là rất quan trọng để đảm bảo hiệu quả sản xuất Nông dân Việt Nam ngày nay đã tiếp cận được nhiều thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại, giúp nâng cao khả năng thu nhập Đảng và Chính phủ đã hỗ trợ nông dân thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm xóa đói giảm nghèo và xây dựng hạ tầng nông thôn, góp phần thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng.
Trong quá trình phát triển khóm thì quá trình tiêu thụ khóm nguyên liệu là một khâu quan trọng, bao gồm các nhân tố nhỏ:
Thị trường thu mua khóm nguyên liệu đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối nông dân với các doanh nghiệp và người thu gom, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động mua bán Sau khi thu mua, khóm sẽ được chế biến thành các sản phẩm để tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu Việc xây dựng mối quan hệ ổn định và lành mạnh trong thị trường này không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế mà còn góp phần vào sự bền vững của ngành sản xuất khóm.
Thị trường tiêu thụ nội địa đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp chế biến các sản phẩm từ khóm như khóm hộp, khóm cô đặc và khóm khoanh để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước Sự phát triển của thị trường này sẽ giúp giảm áp lực cho xuất khẩu, đặc biệt trong bối cảnh giá cả giảm thấp, ảnh hưởng tiêu cực đến xuất khẩu Do đó, một thị trường tiêu thụ nội địa ổn định sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành khóm.
Khóm sau khi thu mua sẽ được chuyển đến các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, nơi chúng được phân loại thành nhiều sản phẩm khác nhau như khóm khoanh, khóm hộp và nước khóm Các doanh nghiệp này sau đó tiến hành giao dịch và ký kết hợp đồng xuất khẩu, tạo ra thị trường xuất khẩu khóm có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cây khóm trong khu vực.
Giá khóm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của hộ sản xuất Khi giá khóm tăng, người sản xuất có thu nhập tốt hơn để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và đầu tư cho vụ sau Ngược lại, khi giá khóm giảm, thu nhập của họ giảm theo, gây khó khăn cho việc đầu tư và có thể dẫn đến việc phá bỏ cây khóm, làm thu hẹp diện tích trồng khóm và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành này.
Kinh nghiệm phát triển cây khóm cho tỉnh Tiền Giang
1.5.1 Tình hình phát triển khóm ở các nước
Cây khóm được trồng ở hơn 75 quốc gia trên toàn thế giới, với tổng diện tích đạt 766,1 ngàn ha vào năm 2013 Trong đó, Châu Á chiếm 51% diện tích toàn cầu với 390,8 ngàn ha Nigeria hiện là quốc gia có diện tích trồng khóm lớn nhất.
Trên thế giới, diện tích rừng cao su được phân bổ như sau: Indonesia dẫn đầu với 115 nghìn ha, chiếm 15% tổng diện tích; tiếp theo là Thái Lan với 97,3 nghìn ha (12,7%); Ấn Độ với 80 nghìn ha (10,4%); Brasil với 59,3 nghìn ha; Trung Quốc với 57,7 nghìn ha; Philippines với 45 nghìn ha và Việt Nam với 37,5 nghìn ha.
Năm 2013, năng suất khóm bình quân toàn cầu đạt 179,3 tạ/ha, với châu Âu dẫn đầu ở mức 377,1 tạ/ha, tiếp theo là Bắc và Trung Mỹ với 286,2 tạ/ha Châu Phi có năng suất thấp nhất, chỉ đạt 107,2 tạ/ha Các quốc gia như Bờ Biển Ngà và Mexico có năng suất vượt 400 tạ/ha, trong khi Thái Lan, Trung Quốc, Ecuador và Brasil đạt trên 200 tạ/ha Tại Việt Nam, năng suất khóm chỉ đạt 79,8 tạ/ha, nằm trong nhóm các nước có năng suất thấp nhất thế giới.
Bảng 1.1: Tình hình phat triển khóm ở các nước trên thế giới
Năm 2013, sản lượng khóm toàn cầu đạt 13,739 nghìn tấn, chủ yếu tập trung ở châu Á, với Thái Lan dẫn đầu (2.300 nghìn tấn), tiếp theo là Philippines (1.572 nghìn tấn), Brasil (1.442 nghìn tấn) và Trung Quốc (1.284 nghìn tấn) Việt Nam chỉ chiếm 2,5% sản lượng khóm thế giới.
Qua tình hình phát triển khóm của các nước trên thế giới đã có thể thấy rất nhiều điều được rút thành bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Các nước phát triển mạnh mẽ về khóm như Trung Quốc và Ấn Độ sở hữu môi trường tự nhiên và quỹ đất rộng lớn, dẫn đến quy mô trồng khóm lớn Mô hình trang trại tại đây chủ yếu là trang trại tập trung quy mô lớn, phát triển từ việc đồn điền đổi thửa Những hệ thống trang trại này không chỉ liên kết chặt chẽ mà còn tạo ra một hệ thống công nghiệp chế biến, góp phần cải thiện vị trí xã hội và chính trị của nông dân, đồng thời tăng cường lợi thế cho họ trong sản xuất khóm.
Các biện pháp canh tác hữu cơ yêu cầu hạn chế sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật có hại cho môi trường và sản phẩm cuối cùng Các quốc gia nhập khẩu áp dụng quy định nghiêm ngặt đối với sản phẩm hữu cơ, yêu cầu nước sản xuất tuân thủ các luật lệ tương ứng Hệ thống sản xuất được kiểm tra theo tiêu chuẩn khắt khe nhằm đạt được hệ sinh thái nông nghiệp bền vững về môi trường, xã hội và kinh tế.
1.5.2 Tình hình phát triển khóm ởmột số địa phương
Cây khóm đã có mặt tại Việt Nam hơn 100 năm, bắt đầu từ thời kỳ thực dân Pháp khai thác thuộc địa Năm 1913, người Pháp đã đưa giống khóm đầu tiên, được gọi là khóm tây, trồng tại trại canh nông Thanh Ba - Phú Thọ Từ đó, cây khóm đã nhanh chóng lan rộng ra các vùng khác như Phú Hộ và Tuyên Quang, cho thấy sự hiện diện sớm của cây khóm tại Việt Nam.
Bảng 1.2: Tình hình phát triển khóm ở Việt Nam
(Nguồn: Viện quy hoạch và thiết kế Nông Nghiệp)
Sự phát triển nghề trồng khóm ở Việt Nam gắn liền với công nghệ chế biến đồ hộp, với diện tích trồng khóm năm 2013 đạt 35,8 ngàn ha và năng suất bình quân chỉ 92,3 ta/ha Vùng đồng bằng sông Hồng có năng suất cao nhất, đạt 194,9 tạ/ha, trong khi sản lượng khóm cả nước đạt 284,1 ngàn tấn, chủ yếu tập trung ở miền Nam với 221,5 ngàn tấn (78% tổng sản lượng) Được sự quan tâm của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp & PTNT, nhiều địa phương đã mở rộng diện tích trồng khóm Cayenne để nâng cao năng suất và tạo nguồn nguyên liệu cho chế biến Từ 2008 đến tháng 10/2013, tổng đầu tư cho việc nhập giống khóm Cayenne từ Thái Lan và Trung Quốc lên tới 134,93 tỷ đồng, với 1,85 tỷ chồi giống được trồng ở 20 tỉnh thành, giúp nhiều diện tích trồng từ năm 2008 đến 2013 đạt năng suất cao gấp đôi.
Khóm Cayenne có năng suất cao gấp 3 lần so với giống khóm Queen, đạt từ 70 - 80 tấn/ha, mang lại thu nhập cao cho người trồng Mặc dù nhiều cơ sở nhân giống đã ra đời và hàng triệu chồi được sản xuất, diện tích trồng khóm Cayenne vẫn còn khiêm tốn so với mục tiêu đề ra Tính đến tháng 10/2013, diện tích nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy chỉ đạt 24.222 ha, trong đó khóm Cayenne chiếm 3.336 ha (13,6%), còn lại là giống khóm Queen (86,2%) Tại miền Bắc, tổng diện tích nguyên liệu là 6.148 ha, khóm Cayenne đạt 2.621 ha (43,3%), nhưng chỉ đáp ứng khoảng 28,8% nhu cầu Một số tỉnh như Bắc Giang, Ninh Bình, Nghệ An, Thanh Hóa và Đồng Nai có tốc độ phát triển khóm Cayenne đáng chú ý, với Thanh Hóa đạt 87,7% diện tích quy hoạch cần thiết.
Bảng 1.3 Biến động diện tích khóm Queen và khóm Cayenne tại các vùng nhà máy chế biến khóm
Qua 3 năm mở rộng vùng trồng, diện tích khóm của Nghệ An đạt 695 ha, Ninh Bình đạt 520 ha và Thanh Hóa đạt 522 ha Đạt được kết quả này là do chính sách của các tỉnh, nhà máy trong thời gian qua đã khuyến khích, đầu tư việc mở rộng diện tích trồng khóm Cayenne Tuy nhiên, thực tế hiện nay các vùng trồng phía bắc thiếu giống nên phải nhập giống từ Trung Quốc, Thái Lan nên ít nhiều đã có ảnh hưởng đến năng suất Như vậy có thể thấy hiện nay việc phát triển khóm là một việc làm cần thiết, trong đó quan trọng hơn là tạo ra giống đủ và có năng suất cao Có như thế mới góp phần phát triển tốt vùng trồng, đồng thời thúc đẩy công nghệp chế biến phát triển
Việc phát triển các vùng khóm nguyên liệu là cần thiết, nhưng mức độ ổn định của chúng lại khác nhau Hiện tại, chưa có nhà máy nào hoạt động đủ nguyên liệu cung cấp theo công suất thiết kế Trong số các vùng nguyên liệu, Đồng Giao được xem là nơi có điều kiện tốt nhất, nhưng chỉ đáp ứng được 60 - 65% nhu cầu Tất cả các vùng nguyên liệu đều gặp những hạn chế nhất định.
Vùng Bắc Giang đang đối mặt với một số thách thức như nhiệt độ và lượng mưa không ổn định, ảnh hưởng đến năng suất khóm Quy mô sản xuất tại đây còn nhỏ lẻ và manh mún, trong khi nông dân thiếu kinh nghiệm và cơ sở hạ tầng còn yếu kém.
Vùng Thanh Hóa được đánh giá là một vùng nguyên liệu ổn định cho cây khóm Khí hậu nơi đây chủ yếu phù hợp cho sự phát triển của cây khóm, mặc dù nhiệt độ bình quân và lượng mưa trong tháng 1, 2, 3 vẫn thấp hơn một chút so với nhu cầu tối ưu của loại cây này.
Vùng Nghệ An có điều kiện tự nhiên phù hợp cho việc trồng khóm, nhưng sản xuất gặp một số thách thức như phân bố mưa không đều, khó khăn trong giao thông và nông dân chưa quen với tiến độ kỹ thuật trong đầu tư thâm canh.
Vùng Hà Tĩnh hiện đang gặp nhiều khó khăn và chưa ổn định, với lượng mưa phân bổ không đều và gió nóng cùng lượng bốc hơi cao ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng Đất đai ở đây manh mún, không tập trung, đặc biệt là tại các khu vực quy hoạch có chất lượng đất kém Trình độ dân trí thấp và người nông dân thiếu vốn đầu tư, chưa nhận được sự hỗ trợ từ các nhà máy, làm cho tình hình nông nghiệp tại đây càng trở nên khó khăn.
Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tỉnh Tiền Giang
Tiền Giang là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam của Việt Nam Tỉnh có bờ Bắc sông Tiền dài hơn 120km, với thành phố Mỹ Tho là trung tâm tỉnh lỵ, cách TP HCM 70km về phía Tây Nam và cách Cần Thơ 90km về phía Đông Bắc.
Tiền Giang, nằm giữa đồng bằng sông Cửu Long, là một vùng đất phù sa màu mỡ, trải dài 120 km dọc bờ Bắc sông Tiền, một nhánh của sông Mê Kông Vị trí địa lý thuận lợi không chỉ hỗ trợ phát triển nông nghiệp và cảng biển mà còn mở ra tiềm năng lớn cho ngành công nghiệp, nhờ vào sự kết nối với các tỉnh và thành phố năng động như Long.
An và Sài Gòn và Bà Rịa-Vũng Tàu.
Tỉnh Tiền Giang là một trong bảy tỉnh của Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội của đất nước Vùng này tập trung vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng cường ngành công nghiệp, dịch vụ để ứng phó với biến đổi khí hậu và hướng tới phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có 13 tỉnh, thành phố với tổng diện tích khoảng 4 triệu ha, trong đó đất phù sa chiếm 30% Khu vực này sản xuất hơn 50% lúa gạo cả nước, xuất khẩu gạo chiếm 90%, đồng thời cung cấp 65% sản lượng thủy hải sản và 70% sản lượng trái cây toàn quốc.
Tỉnh Tiền Giang giáp với các tỉnh như sau:
- Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnhLong An và TP HCM.
- Phía Tây và Tây Nam giáp các tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long.
- Phía Nam giáp tỉnh Bến Tre.
- Phía Đông giáp biển Đông
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Tiền Giang
(Nguồn: http://tiengiang.gov.vn/)
Tiền Giang có diện tích tự nhiên 2.510,61 km², chiếm 0,76% diện tích cả nước và 6,2% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long Vị trí địa lý thuận lợi đã biến Tiền Giang thành trung tâm văn hóa, chính trị của Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời là điểm trung chuyển quan trọng của miền Tây Nam Bộ Nhờ đó, Tiền Giang đã phát triển thành một tỉnh có nền kinh tế hàng đầu trong khu vực miền Tây Nam Bộ và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Tỉnh Tiền Giang có địa hình chủ yếu bằng phẳng, với độ dốc dưới 1% và cao trình dao động từ 0m đến 1,6m so với mực nước biển, thường nằm trong khoảng 0,8m đến 1,1m Mặc dù toàn vùng không có hướng dốc rõ ràng, nhưng vẫn tồn tại một số khu vực với tiểu địa hình thấp trũng hoặc gò cao hơn so với mặt bằng chung.
Trên địa bàn còn có rất nhiều giồng cát biển hình cánh cung có cao trình phổ biến từ 0,9 - 1,1m nổi hẳn lên trên các đồng bằng chung quanh.
Khí hậu Tiền Giang có đặc điểm nội chí tuyến và cận xích đạo, với khí hậu nhiệt đới gió mùa, dẫn đến nhiệt độ trung bình cao và nóng quanh năm Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 27 đến 27,9 độ C, với tổng tích ôn đạt 10.183 độ C/năm.
Có 2 mùa : Mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau ; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 (thường có hạn Bà chằng vào tháng 7, tháng 8).
Tiền Giang có lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.210 đến 1.424mm, với sự phân bố mưa giảm dần từ bắc xuống nam và từ tây sang đông Độ ẩm trung bình trong khu vực này dao động từ 80 đến 85%.
Gió : có 2 hướng chính là Đông bắc (mùa khô) và Tây nam (mùa mưa); tốc độ trung bình 2,5 - 6m/s.
Vào năm 2019, dân số trung bình đạt 1.764.185 người, với mật độ 698 người/km² Mật độ dân số cao nhất tập trung ở trung tâm thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công và thị trấn Cai Lậy Về giới tính, nam giới chiếm 49,08% và nữ giới chiếm 50,92% So với năm 2009, dân số đã tăng hơn 92.000 người sau 10 năm.
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Tiền Giang đã xác định ba vùng kinh tế trọng điểm: Vùng phía Đông với tiềm năng lớn về kinh tế biển, công nghiệp đóng tàu, cảng biển và chế biến thủy hải sản, cùng với du lịch và dịch vụ hậu cần nghề cá Vùng phía Tây nổi bật với sản xuất lương thực, thực phẩm, đặc biệt là cây ăn trái, gắn liền với công nghiệp chế biến nông sản và dịch vụ dọc Quốc lộ 1, cũng như tiềm năng du lịch đa dạng Cuối cùng, vùng thành phố Mỹ Tho - Châu Thành là động lực chính thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập và hợp tác kinh tế với vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam và đô thị TP.
Hồ Chí Minh và vùng ĐBSCL.
Tiền Giang sở hữu nhiều lợi thế trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, từ đó phát triển sản xuất hàng hóa và mở rộng thị trường tiêu thụ Khu vực này cũng tăng cường khả năng hợp tác và giao lưu về kinh tế, văn hóa, du lịch với các tỉnh thành trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ, cũng như với các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là những nước chia sẻ nguồn tài nguyên dọc sông Mekong.
Tính đến tháng 6 năm 2019, tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) ước đạt 29.802 tỷ đồng, tăng 7,07% so với cùng kỳ năm 2018 Cụ thể, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,49%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,88%, và khu vực dịch vụ tăng 7,57% Nếu tách riêng thuế sản phẩm, khu vực dịch vụ ghi nhận mức tăng 6,08%, trong khi thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 14,72% Trong tổng mức tăng trưởng 7,07%, khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 13,36%, công nghiệp và xây dựng 49,11%, dịch vụ 24,93%, và thuế sản phẩm trừ trợ cấp 12,60% GRDP theo giá hiện hành đạt 44.287 tỷ đồng.
Tiền Giang đã xác định và phát huy thế mạnh từng vùng để phát triển nông nghiệp - nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa, thâm canh và chuyên canh với ứng dụng công nghệ sinh học Tỉnh đã tổ chức lại hệ thống sản xuất nông nghiệp theo tiêu chuẩn thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) nhằm gắn kết với hệ thống tiêu thụ và công nghiệp chế biến Đầu tư ổn định cho khoảng 60 nghìn ha đất canh tác lúa không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà còn hướng tới mục tiêu xuất khẩu Các vùng chuyên canh như cây ăn trái và rau sạch được hình thành, đồng thời phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp hóa để nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường Phát triển thủy sản cũng được chú trọng với quy hoạch vùng nuôi, thâm canh tăng năng suất và đa dạng hóa đối tượng nuôi, kết hợp chặt chẽ giữa nuôi, bảo quản chế biến và quản lý môi trường, đặc biệt là các loại thủy sản có giá trị tiêu dùng nội địa và chế biến xuất khẩu như cá, tôm, nghêu trên sông Tiền và các bãi bồi ven biển.
Trong những năm qua, tỉnh đã thu hút đầu tư phát triển đa dạng hóa sản phẩm công nghiệp, chú trọng vào các lĩnh vực có lợi thế như chế biến, công nghệ sinh học, và cơ khí phục vụ nông nghiệp Tỉnh tập trung vào việc phát triển nhanh các khu, cụm công nghiệp đã được phê duyệt, đồng thời nâng cao hiệu quả của các khu, cụm công nghiệp hiện có Mục tiêu đến năm 2025, toàn tỉnh sẽ có 15 khu công nghiệp và khoảng 30 cụm công nghiệp, với tổng diện tích khoảng 98.668 ha, chủ yếu tập trung tại Tân Phước và Gò Công.
Tỉnh Tiền Giang sẽ hình thành 3 vùng kinh tế, trong đó vùng kinh tế - đô thị trung tâm bao gồm TP Mỹ Tho, huyện Chợ Gạo và huyện Châu Thành sẽ được đầu tư phát triển toàn diện Đặc biệt, tỉnh sẽ chú trọng nâng cấp hạ tầng để TP Mỹ Tho trở thành đô thị trung tâm xứng tầm, đồng thời phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực công nghiệp chế biến nông - thủy sản, thương mại - dịch vụ, du lịch sinh thái và nông nghiệp đô thị.
Vùng kinh tế - đô thị phía Đông, bao gồm TX Gò Công, huyện Gò Công Đông, huyện Tân Phú Đông và huyện Gò Công Tây, sẽ tập trung vào phát triển công nghiệp cơ khí, dịch vụ cảng, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, du lịch sinh thái biển, cùng với việc bảo tồn rừng ngập mặn Trong khi đó, vùng kinh tế - đô thị phía Tây, gồm TX Cai Lậy, huyện Cai Lậy, huyện Cái Bè và huyện Tân Phước, sẽ chú trọng vào phát triển công nghiệp chế biến nông sản, nông nghiệp công nghệ cao, thương mại - dịch vụ chợ đầu mối nông sản, và khai thác du lịch sinh thái miệt vườn.
Phân tích thực trạng phát triển cây khóm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
2.2.1 Khái quát thực trạng cây khóm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang
Cây khóm chủ yếu được trồng ở vùng Đồng Tháp Mười, đặc biệt là tại 4 huyện và thị xã Cai Lậy, với huyện Tân Phước là vùng sản xuất chính, chiếm 15,65% tổng diện tích Đây là một trong 5 loại cây ăn quả chủ lực của tỉnh, bên cạnh xoài, thanh long, sầu riêng và bưởi Khu vực này có điều kiện tự nhiên thuận lợi, cây khóm chịu phèn tốt, và nông dân có trình độ canh tác cao Đặc biệt, thương hiệu khóm Tân Lập của huyện Tân Phước đã được bảo hộ nhãn hiệu Ngoài ra, cây khóm có khả năng ra trái nghịch vụ hoặc quanh năm, cho thấy điều kiện sinh thái rất thích hợp cho việc phát triển cây khóm quy mô lớn.
Tại tỉnh, giống khóm chủ yếu là khóm Queen, được người dân trồng từ lâu và một số vùng đã được cấp giấy chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng GAP, giúp nâng cao khả năng cạnh tranh và tạo điều kiện thuận lợi cho xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Nhật Bản và Châu Âu Bên cạnh đó, giống khóm MD2 mới cũng đang được thử nghiệm trồng tại tỉnh do có hiệu quả kinh tế cao hơn so với khóm Queen.
Mặc dù khóm có tiềm năng lớn trong việc nâng cao năng suất và chất lượng quả, nhưng nhiều người trồng vẫn chưa khai thác hết lợi thế này, đặc biệt là ở những vùng đất phèn Năng suất khóm trung bình tại một số khu vực chỉ đạt 15 - 25 tấn/ha, thấp hơn nhiều so với khả năng thực tế của cây, trong khi nhiều quốc gia khác đã đạt năng suất lên đến 40 - 60 tấn/ha.
Hiện nay, nhiều nông dân vẫn chưa nắm rõ các vấn đề về bệnh dịch, dẫn đến việc chủ yếu sử dụng thuốc hóa học để kiểm soát bệnh và rệp sáp Họ còn nhầm lẫn giữa bệnh và triệu chứng thiếu dinh dưỡng, khiến cho công tác phòng trừ chưa hiệu quả Đặc biệt, các biện pháp an toàn theo hướng GAP vẫn chưa được áp dụng rộng rãi.
Việc mở rộng diện tích trồng khóm đạt tiêu chuẩn VietGAP gặp nhiều khó khăn do nhận thức và thói quen canh tác của người nông dân chưa đồng bộ, bên cạnh đó, giá bán sản phẩm chưa có sự khác biệt rõ rệt.
2.2.2 Phân tích nội dung phát triển cây khóm địa bàn tỉnh Tiền Giang
2.2.2.1Quy hoạch và quy mô diện tích trồng khóm
Trong những năm qua, đời sống của người dân trong tỉnh đã có nhiều cải thiện nhờ vào chính sách cho vay vốn phát triển sản xuất và kinh doanh của Nhà nước Trước đây, đa số người dân làm nông nghiệp với quy mô nhỏ lẻ và không hiệu quả Tuy nhiên, nhờ vào sự hỗ trợ này, họ đã nhanh chóng thích ứng với sự chuyển đổi cơ cấu, đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi, từ đó giúp nhiều gia đình có thu nhập tốt hơn.
Khóm là cây trồng lý tưởng cho vùng Đồng Tháp Mười, có khả năng chịu phèn và mang lại năng suất cao Để đạt hiệu quả tối ưu, cần áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong thâm canh, chú trọng vào làm đất, chọn giống tốt và trồng với mật độ hợp lý Nhận thức được giá trị kinh tế của cây khóm, chính quyền địa phương đã quy hoạch và định hướng phát triển cây khóm như một cây trồng chủ lực, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người dân.
Theo báo cáo của Cục Thống kê tỉnh Tiền Giang, khóm chiếm khoảng 15,65% tổng diện tích tỉnh và 24% diện tích cây ăn trái Hiện nay, diện tích trồng khóm trung bình đạt khoảng 15.445 ha, với khoảng 828 ha được khai thác và trồng mới mỗi năm.
Bảng 2.1: Diện tích trồng khóm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2017 - 2019 ĐVT: ha
STT Loại cây lâu năm 2017 2018 2019 Bình quân
A Tổng diện tích hiện có 98.134 98.468 99.402 98.668
1 Các loại quả nhiệt đới và cận nhiệt đới 63.849 64.496 64.383 64.243 a Khóm/thơm/khóm 16.660 15.046 14.628 15.445
Diện tích cho sản phẩm 10.468 11.468 12.991 11.642 b Tổng diện tích khóm trên tổng diện tích cây nhiệt đới 26,09% 23,33% 22,72% 24,04% c Tổng diện tích khóm trên tổng diện tích hiện có 16,98% 15,28% 14,72% 15,65%
(Nguồn: Báo cáo chi cục thống kê tỉnh Tiền Giang)
Tỉnh Tiền Giang có diện tích trồng khóm chủ yếu tập trung tại huyện Tân Phước, huyện Cái Bè và một số địa phương khác, như được thể hiện trong bảng dưới đây.
Bảng 2.2: Cơ cấu diện tích trồng khóm trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2017 - 2019 ĐVT: ha
STT Chỉ tiêu 2017 2018 2019 Bình quân
Diện tích Cơ cấu Tổng diện tích 16.660 15.046 14.628 15.445 100%
I Phân theo vị trí dịa lý
II Phân theo khu vực quản lý
(Nguồn: Báo cáo chi cục thống kê tỉnh Tiền Giang)
Cây khóm hiện nay chủ yếu được trồng tại huyện Tân Phước, nơi có đất phù hợp cho loại cây này từ năm 1979 Tỉnh Tiền Giang đã mở rộng diện tích trồng khóm, biến nó thành cây trồng chủ lực với diện tích và hiệu quả kinh tế cao nhất tại Tân Phước Các địa phương khác có diện tích trồng khóm hạn chế do nhiều yếu tố khách quan và tự nhiên Theo quy hoạch phát triển nông nghiệp, huyện Tân Phước sẽ hoàn thiện vùng chuyên canh cây khóm tại các xã như Thạnh Thân, Thạnh Mỹ, Tân Hòa Đông, Hưng Thạnh, Tân Lập 2, Tân Lập 1 và xã Mỹ Phước, với mục tiêu ổn định diện tích 15.000 ha vào năm 2020, nâng cao năng suất và chất lượng để phục vụ chế biến, đồng thời xây dựng thương hiệu khóm Tân Phước nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ Tỉnh Tiền Giang sẽ tập trung phát triển cây khóm, xác định huyện Tân Phước là địa điểm chiến lược cho sản xuất sản phẩm khóm.
Tỉnh Tiền Giang có hai khu vực kinh tế chính tham gia vào sản xuất khóm nguyên liệu: khu vực kinh tế nông trường, bao gồm diện tích đất thuộc quản lý nông trường Tân Lập, và khu vực kinh tế ngoài nông trường, nơi các hộ nông dân sản xuất khóm nguyên liệu.
Trong khu vực nông trường quản lý, diện tích trồng khóm trong 3 năm qua không có sự thay đổi đáng kể, duy trì ở mức khoảng 10.000 ha, chiếm 65% tổng diện tích khóm của huyện Tân Phước và 64,8% tổng diện tích trồng khóm của tỉnh Sản lượng khóm đạt khoảng 160.000 tấn, cho thấy rằng không có sự mở rộng hoặc đầu tư mới vào diện tích trồng khóm trong thời gian này.
Trong những năm qua, huyện Tân Phước đã thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp thông qua việc quy hoạch vùng sản xuất khóm tập trung, chú trọng sản xuất theo hướng GAP Nhà nước và chính quyền địa phương đã tích cực hình thành các khu vực sản xuất khóm nguyên liệu để đảm bảo chăm sóc, thu hoạch và nâng cao năng suất, chất lượng Những nỗ lực này nhằm phục vụ cho chế biến khóm nguyên liệu tại nông trường Tân Lập, tạo ra các sản phẩm như kẹo khóm, nước màu khóm, và nước giải khát trên thị trường.
- Đối với khu vực ngoài nông trường
Tất cả diện tích khóm nguyên liệu được trồng bởi các hộ nông dân đều nằm trên đất sở hữu của chính họ Kết quả điều tra cho thấy 100% diện tích khóm của các hộ này được canh tác trên đất mà họ làm chủ.
Diện tích trồng khóm ngoài nông trường trên toàn tỉnh có sự biến động qua các năm, với hơn 6.600 ha vào năm 2017, giảm xuống còn hơn 5.000 ha vào năm 2018 và tiếp tục xuống còn hơn 4.600 ha vào năm 2019 Trung bình, diện tích này chiếm khoảng 35,25% tổng diện tích đất trồng khóm, chủ yếu phân bổ tại 5 thị xã và huyện khác nhau, trong đó huyện Tân Phước chiếm tỷ lệ lớn nhất với gần 98%.
Đánh giá thực trạng phát triển cây khóm tỉnh Tiền Giang
Thứ nhất, về quy hoạch và quy mô diện tích trồng khóm
Tiền Giang đã tận dụng lợi thế tự nhiên để phát triển cây khóm thành loại cây chủ lực trong những năm gần đây Kế hoạch mở rộng quy mô trồng khóm nhằm cung cấp hàng hóa cho các nhà máy chế biến trái cây đóng hộp trong và ngoài tỉnh, đồng thời xuất khẩu ra thị trường quốc tế, mang lại nguồn lợi nhuận cao.
Thứ hai, về cơ sở hạ tầng, ứng dụng kỹ thuật trong việc trồng khóm
Nông dân tỉnh Tiền Giang đã áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất cây khóm, giúp tăng năng suất, sản lượng và chất lượng Trình độ thâm canh của họ được nâng cao, cùng với sự nhạy bén trong việc tiếp thu và ứng dụng công nghệ mới Ngoài ra, việc đầu tư vào máy móc, thiết bị và cơ sở hạ tầng phục vụ chế biến khóm, đặc biệt ở các hộ sản xuất lớn, đã góp phần đẩy nhanh quá trình thu hoạch và đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Thứ ba, về nguồn nhân lực
Tỉnh có lực lượng lao động dồi dào, đáp ứng nhu cầu trồng, sản xuất và chế biến các sản phẩm từ khóm, đảm bảo cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu.
Thứ tư, công tác tiêu thụ
Trên địa bàn có nhiều kênh phân phối hỗ trợ người dân trồng khóm, trong đó nông trường Tân Lập đảm bảo tiêu chuẩn GAP cho việc xuất khẩu sang thị trường lớn như EU Ngoài ra, công ty chế biến khóm địa phương giúp sản phẩm khóm đóng hộp mang thương hiệu địa phương được tiêu thụ rộng rãi trong nước.
2.3.2 Vấn đề tồn tại và nguyên nhân
Diện tích trồng khóm của nông hộ ngoài vùng nông trường thường nhỏ và không chỉ trồng riêng cây khóm, dẫn đến việc tổ chức sản xuất chủ yếu theo quy mô nông hộ và sản xuất nhỏ Trung bình, mỗi nông hộ chỉ có khoảng 1,8ha đất canh tác, trong đó phần lớn đất trồng khóm đã qua nhiều thế hệ với giống và độ tuổi cây khác nhau Điều này gây khó khăn trong việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và tổ chức sản xuất khóm trên diện rộng.
Thứ hai, công tác sản xuất và chế biến khóm theo tiêu chuẩn GAP
Vấn đề an toàn thực phẩm đang trở thành mối quan tâm hàng đầu đối với thị trường tiêu thụ, đặc biệt là các thị trường khó tính như EU và Mỹ Khóm Tiền Giang đã thành công trong việc xuất khẩu sang các thị trường lớn như EU, Nhật Bản, Hong Kong và Nga Tuy nhiên, hàng rào thuế quan kỹ thuật ngày càng nghiêm ngặt, yêu cầu chất lượng trái cây cao và kiểm dịch thực vật khắt khe, trong khi nhiều sản phẩm khóm vẫn chưa đáp ứng được tiêu chuẩn này Quy trình xử lý trước khi nhập khẩu cũng rất nghiêm ngặt, dẫn đến chi phí tăng cao; ví dụ, để xuất khẩu khóm vào Mỹ, sản phẩm phải qua chiếu xạ, trong khi đó, Nhật Bản yêu cầu xử lý nước nóng, và EU đòi hỏi chứng nhận GlobalGAP Hơn nữa, phần lớn khóm được xuất khẩu dưới dạng tươi hoặc sơ chế, chưa tạo ra giá trị cao từ sản phẩm chế biến Nguyên nhân chính là do người dân vẫn làm theo kinh nghiệm cá nhân, trong khi tiêu chuẩn GAP đòi hỏi kiến thức và sự hợp tác trong chuyển giao công nghệ, điều này khiến họ e ngại và khó tiếp cận với tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Thứ ba, về công tác tiêu thụ
Mối liên hệ giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ còn lỏng lẻo, dẫn đến việc thiếu thông tin thị trường, khiến người sản xuất không bán được sản phẩm với giá trị thực Tình trạng thương lái ép giá diễn ra thường xuyên, gây bất lợi cho nông dân trồng khóm Mặc dù một số nơi đã có sự liên kết trong sản xuất, nhưng năng lực sản xuất vẫn không đủ để đáp ứng các hợp đồng tiêu thụ lớn, buộc nông dân phải tự tìm đầu ra và dễ bị ép giá Hơn nữa, công tác phối hợp giữa các cán bộ nông vụ còn yếu, và việc thực hiện khuyến nông đến các hộ dân vẫn rất hạn chế.
Mặc dù khóm Tân Lập của Tiền Giang đã được bảo hộ nhãn hiệu và có thương hiệu riêng, nhưng việc xúc tiến thương mại và quảng bá sản phẩm vẫn còn hạn chế Khâu tiếp thị yếu kém khiến thị trường tiềm năng trong nước chưa được khai thác triệt để, khi mà các doanh nghiệp trong tỉnh chủ yếu cung cấp khóm cho các công ty chế biến tại TP HCM Hệ quả là, sau khi được chế biến, khóm thường bị gán mác thương hiệu của các công ty khác, làm giảm giá trị thương hiệu khóm Tiền Giang Nguyên nhân có thể do nguồn lực đầu tư cho quảng bá thương hiệu còn hạn chế, cùng với công tác nghiên cứu thị trường và xúc tiến thương mại chưa được chú trọng, cả từ phía doanh nghiệp lẫn cán bộ tỉnh.
Chương 2 nêu khái quát vị trí địa lý, đặc điểm KT - XH, v.v một số thông tin cơ bản về tỉnh Tiền Giang để cho thấy vai trò phát triển cây khóm ảnh hưởng đến phát triển
Tỉnh Tiền Giang đã có những bước tiến trong việc phát triển cây khóm, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục Mặc dù hoạt động trồng trọt, sản xuất, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ cây khóm đã đạt được một số kết quả nhất định, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng phát triển của địa phương Do đó, việc đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả phát triển cây khóm tại Tiền Giang là rất cần thiết.