CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
Khái niệm về chế độ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng hiện đang thu hút sự chú ý của nhiều người, nhưng pháp luật vẫn chưa có quy định cụ thể về khái niệm này Trong lĩnh vực nghiên cứu hôn nhân gia đình, các chuyên gia đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau Dưới đây là bốn quan điểm mà nhóm chúng tôi cho là phù hợp nhất về chế độ tài sản của vợ chồng.
Luật về quan hệ tài sản giữa vợ chồng quy định các quy tắc liên quan đến quyền sở hữu tài sản của cả hai bên, bao gồm thành phần cấu tạo tài sản, quyền của vợ chồng đối với tài sản và nghĩa vụ tài chính đối với bên thứ ba mà vợ hoặc chồng phải thực hiện.
Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm các quy định pháp luật về quan hệ tài sản giữa hai bên, xác định sở hữu chung và riêng của vợ chồng, cũng như cách thức tác động và thiết lập quan hệ tài sản trong mối quan hệ với nhau và với bên thứ ba.
Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm quyền sở hữu đối với tài sản chung hợp nhất và tài sản riêng của mỗi người.
Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của mỗi người, đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ liên quan đến từng loại tài sản Điều này ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ, chồng, các thành viên trong gia đình và cả người thứ ba.
Tóm lại, các quan điểm đều nhấn mạnh rằng chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của mỗi bên.
Đặc điểm về chế độ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng bao gồm ba đặc điểm quan trọng như sau:
1 Nguyễn Ngọc Điện (2004), Bình luận khoa học luật HNGĐVN, tập II, NXB Trẻ, tr.10
2 Lê Vĩnh Châu (2001), Chế độ tài sản của vợ chồng theo pháp luật HNVGĐVN, Luận văn Th.s Luật, tr.2
3 Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật hôn nhân gia đình Việt Nam, NXB Công an nhân dân, tr.158
Chế độ pháp lý về tài sản riêng của vợ, chồng trong pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam hiện hành quy định rõ ràng quyền sở hữu và quản lý tài sản của mỗi bên Thực tiễn giải quyết tranh chấp về tài sản riêng của vợ, chồng cho thấy sự cần thiết phải hiểu rõ các quy định pháp lý để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mỗi cá nhân trong hôn nhân Việc phân định rõ tài sản riêng giúp hạn chế mâu thuẫn và bảo đảm quyền lợi của các bên khi xảy ra tranh chấp.
Để tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, các bên không chỉ cần có đầy đủ năng lực chủ thể mà còn phải có mối quan hệ hôn nhân hợp pháp với tư cách là vợ chồng.
Nhà nước đã ban hành các quy định pháp luật về chế độ hôn nhân gia đình nhằm tạo điều kiện cho vợ chồng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Qua đó, Nhà nước bảo vệ quyền lợi của gia đình, bao gồm cả lợi ích cá nhân của từng người trong mối quan hệ hôn nhân.
- Chế độ tài sản của vợ chồng phụ thuộc vào sự phát sinh hoặc chấm dứt của quan hệ hôn nhân.
Chế độ tài sản của vợ chồng có những đặc thù riêng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ, trong đó quyền định đoạt tài sản có thể bị hạn chế trong một số trường hợp Chẳng hạn, nếu tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc định đoạt liên quan đến tài sản này cần có sự thoả thuận của cả hai vợ chồng.
Vai trò, ý nghĩa về chế độ tài sản của vợ chồng
Chế độ tài sản của vợ chồng được pháp luật công nhận nhằm bảo vệ các nguyên tắc ứng xử phù hợp với truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục và đạo đức dân tộc của các bên.
Việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình, giúp duy trì sự công bằng và ổn định trong mối quan hệ vợ chồng.
Trong thời kỳ hôn nhân, các giao dịch tài sản được thực hiện dựa trên quy định về chế độ tài sản của vợ chồng Điều này giúp điều tiết và ổn định mối quan hệ tài sản trong các hoạt động dân sự, kinh tế và thương mại.
Các quy định về chế độ tài sản chung của vợ chồng không chỉ phản ánh trình độ phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội mà còn thể hiện ý chí của nhà nước, phản ánh bản chất của xã hội.
Khi thiết lập quan hệ hôn nhân, các bên có thể chọn chế độ tài sản theo ý muốn, nhưng vẫn phải tuân theo quy định của pháp luật Việc phân loại tài sản trong hôn nhân giúp xác định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung và riêng của họ.
- Chế độ về tài sản của vợ chồng được pháp luật ghi nhận nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia quan hệ này.
Các loại chế độ tài sản của vợ chồng
4.1 Chế độ tài sản pháp định:
Chế độ tài sản pháp định áp dụng cho vợ chồng khi kết hôn mà không có hợp đồng hôn nhân, bao gồm các quy định bắt buộc liên quan đến tài sản cần thiết cho cuộc sống tối thiểu của gia đình như nhà ở và tiền lương Chế định này xác định căn cứ và nguồn gốc của tài sản chung và riêng của vợ, chồng, đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ của họ đối với từng loại tài sản Ngoài ra, chế độ cũng nêu rõ các nguyên tắc và trường hợp chia tài sản chung, cùng với phương thức thanh toán liên quan đến nợ chung hoặc riêng của vợ chồng, nhằm đảm bảo tính công bằng và hợp lý trong quản lý tài sản.
4.2 Chế độ tài sản ước định:
Chế định tài sản ước định cho phép vợ chồng lựa chọn quan hệ tài sản qua hợp đồng hôn nhân, phù hợp với hoàn cảnh sống và ý chí của họ Khi đã thỏa thuận hợp pháp, quan hệ tài sản này sẽ được công nhận và giải quyết tranh chấp dựa trên thỏa thuận ban đầu Theo Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng có quyền chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc theo thỏa thuận.
CƠ SỞ THỰC TIỄN CHẾ ĐỘ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
Chế độ tài sản ước định ở một số nước trên thế giới
Chế độ tài sản theo thỏa thuận đã có từ lâu và không còn xa lạ với nhiều quốc gia trên thế giới Nguyên thủy, người La Mã cổ đại khi kết hôn thường lập thỏa thuận nhằm xác định rõ ràng quan hệ tài sản trong tương lai và quy định các điều kiện thừa kế tài sản khi một bên vợ hoặc chồng qua đời.
Hiện nay, hầu hết các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ và Pháp quy định cả hai chế độ tài sản vợ chồng: theo pháp luật và theo thỏa thuận Ngược lại, một số quốc gia xã hội chủ nghĩa như Bulgaria, Hungary, Romania, Tiệp Khắc, cùng với Argentina và một số bang ở Mexico, chỉ duy trì chế độ tài sản pháp định cho vợ chồng.
Trung Quốc đã chính thức công nhận chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận, điều này đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong quy định pháp lý Tương tự, Nhật Bản, một quốc gia với nền văn hóa truyền thống gia đình mạnh mẽ, cũng đã thiết lập các quy định liên quan đến thỏa thuận tài sản giữa vợ chồng.
Trước khi Luật hôn nhân 2001 được ban hành, chế độ tài sản theo thỏa thuận tại Trung Quốc chưa được công nhận Do đó, tất cả tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đều được xem là sở hữu chung theo quy định của pháp luật.
Năm 2001, Luật hôn nhân Trung Quốc đã bổ sung quy định mới về thỏa thuận tài sản giữa vợ chồng Theo Điều 17, tất cả thu nhập và tài sản của các bên được coi là tài sản chung, trừ khi có thỏa thuận khác (Điều 19) Điều 19 cho phép vợ hoặc chồng thỏa thuận về tài sản trước và sau hôn nhân, bao gồm chế độ sở hữu chung toàn bộ, chung một phần hoặc sở hữu riêng Tất cả thỏa thuận này phải được lập bằng văn bản; nếu không rõ ràng, quy định về chế độ sở hữu theo pháp luật sẽ được áp dụng.
Nhật Bản, mặc dù còn tồn tại nhiều biểu hiện phong kiến và bất bình đẳng giới, đã ban hành một văn bản pháp luật điều chỉnh việc đăng ký thỏa thuận tài sản giữa vợ chồng Văn bản này, được biết đến với các tên gọi khác nhau như “Family Registration Act” hay “Matrimonial Property Agreement Registration Act”, chủ yếu quy định về hình thức và nội dung của thỏa thuận tài sản Theo Điều 755 Bộ luật dân sự Nhật Bản, các cặp vợ chồng có quyền lập thỏa thuận tài sản, và nếu không có hợp đồng quy định trước, quyền và nghĩa vụ về tài sản sẽ tuân theo các quy định pháp luật Ngoài ra, nếu có thỏa thuận tài sản khác với chế độ tài sản pháp định, thỏa thuận này sẽ không có hiệu lực đối với người thừa kế hàng thứ nhất hoặc bên thứ ba trừ khi được đăng ký trước khi kết hôn.
Ở Hoa Kỳ, hôn ước trở thành một vấn đề phổ biến, với hai loại chính là thỏa thuận trước hôn nhân (prenuptial agreement) và thỏa thuận sau hôn nhân (postnuptial agreement) Từ giữa thế kỷ 19, một số án lệ đã công nhận sự tồn tại của hôn ước Đến tháng 7 năm 1983, đạo luật về hôn ước (Uniform Premarital Agreement Act - UPAA) được ban hành, được chấp nhận ở hầu hết các bang, trong khi một số bang khác có quy định riêng biệt hơn so với UPAA.
Nguyên tắc tự do lựa chọn chế độ tài sản trong hôn nhân xuất phát từ nguyên tắc tự do ký kết hợp đồng, được công nhận ở Pháp từ thế kỷ XVI Kể từ thời điểm đó, pháp luật và tập quán đã thừa nhận quyền tự do cá nhân của vợ chồng trong việc thỏa thuận chế độ tài sản phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của họ.
Bộ luật Dân sự 1804 đã kế thừa và duy trì nguyên tắc tự do thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, được khẳng định trong quy định đầu tiên của phần quy định chung Điều 1387 nêu rõ rằng luật pháp chỉ can thiệp vào quan hệ tài sản của vợ chồng khi không có thỏa thuận riêng, miễn là các thỏa thuận này không trái với thuần phong mỹ tục Các cặp đôi có quyền tự do lựa chọn và thiết lập chế độ tài sản cho riêng mình; nếu không có thỏa thuận, chế độ tài sản pháp định sẽ tự động áp dụng Nguyên tắc tự do thỏa thuận vẫn có hiệu lực ngay cả khi chế độ tài sản đã được xác định, cho phép vợ chồng thay đổi thỏa thuận trước hoặc trong thời kỳ hôn nhân Theo điều 1394 BLDS, việc thỏa thuận về chế độ tài sản phải được thực hiện với sự tham gia của công chứng viên theo những thể thức nhất định.
Chế đô ̣ tài sản ước định ở Viê ̣t Nam
Trong thời kỳ Pháp thuộc, luật dân sự Việt Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Bộ luật Napoleon Ba bộ dân luật được áp dụng ở ba miền đều sao chép chế định về quyền tự do lập hôn ước từ Bộ luật Dân sự Pháp Tuy nhiên, Bộ dân luật Bắc và Bộ dân luật Trung chỉ quy định một số trường hợp chung cho các cặp vợ chồng không lập hôn ước, mà không đưa ra các chế độ vợ chồng có thể thỏa thuận lựa chọn như trong Bộ luật Dân sự Pháp.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhà nước Việt Nam đã ban hành hai sắc lệnh quan trọng về hôn nhân gia đình Sắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950 quy định về ly hôn, trong khi sắc lệnh 97/SL ngày 22/5/1950 sửa đổi một số quy định trong dân luật Mặc dù sắc lệnh 97 đề cập đến vấn đề tài sản của vợ chồng, nhưng nó không nhắc đến chế độ tài sản ước định, mà chỉ tập trung vào việc đảm bảo bình đẳng trong quan hệ vợ chồng, bao gồm cả vấn đề tài sản.
Vào ngày 29/12/1959, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã thông qua Luật Hôn nhân và Gia đình đầu tiên Theo Điều 15 của luật này, vợ và chồng có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng tài sản một cách ngang nhau, bao gồm cả tài sản có trước và sau khi kết hôn.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 ở miền Bắc quy định về chế độ tài sản pháp định, cụ thể là chế độ cộng đồng toàn sản, mà không đề cập đến chế độ tài sản ước định.
Pháp luật ở miền Nam Việt Nam đã thể hiện sự khác biệt trong việc điều chỉnh chế định tài sản ước định qua ba đạo luật chính: Luật Gia đình (1959), Luật 15/64 (1964), và Bộ Dân luật (1972) Các đạo luật này đều thừa nhận quyền tự do lập hôn ước của vợ chồng, đồng thời quy định rằng chế độ tài sản pháp định chỉ áp dụng khi không có hôn ước Cụ thể, Điều 144 của Bộ Dân luật năm 1972 nêu rõ: “Luật pháp chỉ quy định chế độ phụ phu tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước.”
“Vợ chồng có thể tự do lập hôn ước tùy ý muốn, miễn không trái với trật tự công cộng và thuần phong mỹ tục”
Việc ghi nhận hôn ước trong các văn bản pháp luật Việt Nam chủ yếu chịu ảnh hưởng của dân luật Pháp, không phải do sự biến đổi nội tại của xã hội Việt Nam Chế định hôn ước được quy định trong Bộ luật dân sự Bắc kỳ năm 1931 và Bộ dân luật Trung kỳ năm 1936 Trong khi đó, tập Dân luật giản yếu Nam kỳ năm 1883 không ghi nhận hôn ước hay vấn đề tài sản vợ chồng, nhưng các án lệ tại Nam kỳ trong thời kỳ này vẫn nhấn mạnh nguyên tắc tự do lập hôn ước, được các tòa án Pháp coi là điều hiển nhiên mặc dù không được quy định trong luật.
Chế định hôn ước được quy định trong Bộ dân luâ ̣t năm 1972 với những nét cơ bản sau:
- Luật pháp chỉ qui định chế độ phu phụ tài sản khi vợ chồng không lập hôn ước.
- Vợ chồng được tự do lập hôn ước tùy ý muốn, miễn là không trái với trâ ̣t tự công cô ̣ng và thuần phong mỹ tục.
- Hôn ước phải được lập trước khi kết hôn và được công chứng.
- Hôn ước không thể thay đổi trong thời kì hôn nhân.
- Hôn ước có thể sửa đổi trước khi kết hôn nhưng bản sửa đổi cũng phải được công chứng.
- Hôn ước sẽ không có hiệu lực với người thứ ba nếu như không được ghi và giấy đăng kí kết hôn.
Quy định về chế định hôn ước trong Bộ dân luật năm 1972 còn thiếu tính cụ thể và chi tiết so với Luật HN&GĐ năm 1959 Bộ dân luật năm 1972 chỉ có hiệu lực trong một khoảng thời gian ngắn.
Mặc dù có sự khác biệt trong quy định pháp luật giữa hai miền, khái niệm về hôn ước và quyền tự do lập hôn ước của vợ chồng đã được công nhận từ sớm và duy trì trong một thời gian dài tại Việt Nam Sau khi bị xóa bỏ ở miền Bắc vào năm 1959, quy định này vẫn được áp dụng ở miền Nam trong khoảng 20 năm tiếp theo, từ 1959 đến 25/3/1977 Do đó, vấn đề về chế định tài sản ước định không phải là một vấn đề mới mẻ ở Việt Nam.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII thông qua vào ngày 29 tháng 12 năm 1986 và có hiệu lực từ ngày 3 tháng 1 năm 1987, đã thay thế Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959.
So với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 đã có nhiều thay đổi quan trọng về chế độ tài sản Luật mới tạo ra môi trường pháp lý rõ ràng để bảo vệ quyền và nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng, đồng thời đảm bảo sự tự do trong các giao dịch xã hội Luật cũng xác định trách nhiệm thanh toán và nghĩa vụ đối với bên thứ ba Đặc biệt, Điều 16 của Luật HN&GĐ 1986 thừa nhận quyền sở hữu tài sản riêng của vợ chồng, cho phép họ quyết định việc nhập hay không nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung Điều này mang lại sự bảo đảm pháp lý cần thiết trong đời sống và hoạt động của mỗi cá nhân, không bị chi phối bởi yếu tố tình cảm.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 đã khắc phục nhiều hạn chế của Luật năm 1959, nhưng vẫn còn tồn tại những giới hạn trong việc tự do thỏa thuận về tài sản của vợ chồng Cụ thể, Điều 15 quy định về thỏa thuận tài sản trong các giao dịch lớn như mua bán, đổi, cho, vay, mượn, trong khi Điều 42 đề cập đến vấn đề tài sản trong trường hợp ly hôn.
Tài sản chung được sử dụng để bảo đảm những nhu cầu chung của gia đình.
Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ bình đẳng đối với tài sản chung, bao gồm việc mua bán, đổi, cho, vay, mượn, và các giao dịch lớn khác Tất cả những giao dịch này cần có sự thỏa thuận giữa hai bên.
Khi ly hôn, việc phân chia tài sản cần được hai bên thỏa thuận và phải được Tòa án nhân dân công nhận Nếu không đạt được thỏa thuận, Tòa án sẽ đưa ra quyết định về việc chia tài sản.
Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 quy định về thỏa thuận tài sản nhưng phạm vi còn hạn chế, chỉ áp dụng cho tài sản có giá trị lớn trong giao dịch và ly hôn, với điều kiện phải được Tòa án nhân dân công nhận Đối tượng áp dụng cho việc định đoạt tài sản chung còn mơ hồ, và việc xác định tài sản có giá trị lớn chưa rõ ràng, khiến cho khái niệm này trở nên khó hiểu.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 không quy định về việc lập hôn ước giữa vợ chồng, nhưng cũng không cấm việc này Do đó, các luật gia và những người thực thi pháp luật thường cho rằng chế độ hôn sản pháp định áp dụng cho tất cả các quan hệ hôn nhân hợp pháp Vì vậy, bất kỳ thỏa thuận nào của vợ chồng trái với quy định của chế độ hôn sản pháp định sẽ bị tuyên bố vô hiệu khi có tranh chấp xảy ra.