Vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình phát triển kinh tế, Chính phủ Việt Nam luôn chú trọng đến việc xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là ở khu vực nông thôn Tăng trưởng kinh tế đã đóng góp quan trọng vào việc cải thiện tình hình nghèo đói trong hơn một thập kỷ qua Tuy nhiên, vấn đề nghèo đói vẫn còn lớn và cần nhiều nỗ lực cũng như thời gian để giải quyết triệt để.
Sự phát triển kinh tế không đồng đều đang dẫn đến sự gia tăng chênh lệch thu nhập giữa nông thôn và thành thị, trong khi tình trạng nghèo đói ở khu vực nông thôn vẫn còn nghiêm trọng Hiện tại, tỷ lệ người nghèo ở nông thôn chiếm 14,7% tổng dân số theo tiêu chuẩn quốc gia.
Thiếu vốn là một trong những rào cản lớn nhất đối với sự phát triển nông thôn Phát triển tín dụng tại khu vực nông thôn không chỉ là nhu cầu thiết yếu mà còn là giải pháp quan trọng để xóa đói giảm nghèo.
Quảng Trị là tỉnh có thu nhập thấp, với 75% dân số sinh sống tại nông thôn và tỷ lệ hộ nghèo cao Mặc dù tỉnh đã nỗ lực phát triển kinh tế xã hội toàn diện trong những năm qua, tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức 28,4% vào năm 2007, cho thấy công tác xoá đói giảm nghèo chưa đạt hiệu quả như mong muốn Thu nhập của người dân nông thôn vẫn duy trì ở mức thấp và thiếu ổn định.
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu tại Huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị nhằm tìm kiếm giải pháp nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo, góp phần vào việc xây dựng giảm nghèo Nghiên cứu này áp dụng các kiến thức kinh tế lượng để phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nghèo tại địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, đề tài cần tìm kiếm câu trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu đã được đặt ra.
- Tổng quan về hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu?
- Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo?
- Các chính sách nào cần được thực hiện để nâng cao thu nhập cho hộ nghèo và đáp ứng nhu cầu tín dụng của họ?
Trả lời những câu hỏi trên, đề tài chú trọng vào những mục tiêu nghiên cứu như sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn việc xóa đói giảm nghèo;
Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo là rất quan trọng Cần đánh giá thực trạng tiếp cận tín dụng của họ và phân tích tác động của tín dụng đến việc nâng cao thu nhập Việc này sẽ giúp hiểu rõ hơn về cách tín dụng có thể hỗ trợ hộ nghèo cải thiện đời sống kinh tế.
- Đề xuất định hướng và các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập của các hộ nghèo.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chuyên gia được áp dụng để nghiên cứu các quan điểm và kinh nghiệm trong chính sách xoá đói giảm nghèo tại Việt Nam Bên cạnh đó, việc phỏng vấn và trao đổi với các công chức, chuyên viên tham gia vào công tác xây dựng giảm nghèo tại tỉnh Quảng Trị cũng được thực hiện nhằm thu thập thông tin hữu ích.
Phương pháp điều tra xã hội học bao gồm việc thực hiện phỏng vấn và điều tra trong các hộ dân cư tại khu vực nghiên cứu Các tiêu chí quan trọng cần thu thập bao gồm cấu trúc hộ gia đình, lao động, việc làm, mức sống và các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống cư dân Đây là phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp, phản ánh thực tế tại cộng đồng, hỗ trợ quyết định của lãnh đạo và làm nền tảng cho việc xây dựng các mô hình kinh tế lượng.
Phương pháp thống kê mô tả giúp phân tích và hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đói, từ đó cung cấp cơ sở vững chắc để đề xuất các chính sách phù hợp nhằm xoá đói giảm nghèo tại địa phương.
Phương pháp định lượng trong kinh tế lượng giúp xác định mối quan hệ giữa thu nhập và các yếu tố như cấu trúc hộ, trình độ văn hoá, giới tính, và nguồn lực sản xuất Bằng cách xây dựng mô hình kinh tế lượng, chúng ta có thể phân tích các yếu tố ảnh hưởng chính đến thu nhập, từ đó đề xuất các chính sách phù hợp nhằm cải thiện thu nhập và đáp ứng nhu cầu tín dụng cho các hộ nghèo.
Dựa trên phỏng vấn trực tiếp với các cán bộ thực hiện và quản lý chương trình XĐGN của tỉnh, cùng với dữ liệu thu thập từ điều tra thực tế hộ nghèo tại huyện Cam Lộ, tác giả tiến hành nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo Nghiên cứu này áp dụng phương pháp định lượng kết hợp với thống kê mô tả để phân tích dữ liệu.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo là nghiên cứu đầu tiên về XĐGN tại địa bàn này, sử dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích Nghiên cứu này sẽ cung cấp tư liệu tham khảo mới, bổ sung cho các công trình trước đó Đồng thời, đề tài cũng là nguồn thông tin quý giá cho các cấp quản lý địa phương và ban chỉ đạo XĐGN của tỉnh trong việc hoạch định chính sách, nhằm thúc đẩy nhanh chóng quá trình XĐGN tại huyện.
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, nội dung đề tài gồm 04 chương và phần kết luận Các chương cụ thể như sau:
Chương 1, “Cơ sở lý thuyết”, giới thiệu các khái niệm cơ bản về nghèo đói, phương pháp xác định tình trạng nghèo và các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nghèo, đồng thời nêu rõ các tiêu chí để đo lường nghèo đói.
Chương 2, "Thiết kế nghiên cứu", tập trung vào việc xác định vùng nghiên cứu và xây dựng thiết kế nghiên cứu phù hợp với những đặc điểm đặc thù của vùng đó Đồng thời, chương này cũng đề xuất một mô hình kinh tế lượng nhằm hỗ trợ cho quá trình phân tích và đánh giá.
Chương 3, “Kết quả nghiên cứu”, cung cấp phân tích thống kê về các nhân tố liên quan đến nghèo đói tại huyện Cam Lộ Chương này cũng trình bày kết quả từ mô hình kinh tế lượng được áp dụng trong nghiên cứu, nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo.
Chương 4, “Gợi ý chính sách”, đề xuất các biện pháp nhằm tăng cường thu nhập cho hộ nghèo và đáp ứng nhu cầu tín dụng của họ Chương này cũng chỉ ra những hạn chế trong nghiên cứu và đưa ra hướng phát triển cho các nghiên cứu tiếp theo.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Khái niệm nghèo đói
Quan điểm và định nghĩa về nghèo đói đã được thống nhất toàn cầu, nhưng tiêu chí xác định nghèo đói lại khác nhau giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ Chuẩn nghèo thường dựa vào mức thu nhập hoặc chi tiêu cần thiết để đáp ứng các nhu cầu cơ bản như ăn uống, sinh hoạt, quần áo, giáo dục và giải trí Mức độ thỏa mãn các nhu cầu này phụ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế-xã hội cũng như phong tục tập quán của từng khu vực.
Theo Uỷ ban Kinh tế khu vực Châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) năm 1993, nghèo đói được định nghĩa là tình trạng mà một bộ phận dân cư không được đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương Định nghĩa này cũng được sử dụng phổ biến tại Việt Nam.
Theo Chương trình phát triển các quốc gia, Hirschowitz đồng ý với định nghĩa về đói nghèo trong Báo cáo Đo lường mức độ đói nghèo ở Nam Phi, nhấn mạnh rằng đói nghèo không chỉ đơn thuần là thu nhập thấp hay tiêu dùng thấp Thay vào đó, đói nghèo được nhìn nhận trong một bối cảnh rộng hơn, liên quan đến việc thiếu cơ hội và lựa chọn cơ bản cho sự phát triển con người Điều này dẫn đến việc không thể có một cuộc sống năng động, khỏe mạnh, bền vững, cũng như không được tận hưởng điều kiện sống ổn định, tự do, có phẩm chất và được tôn trọng.
Amartya Sen nhấn mạnh rằng đói nghèo không chỉ đơn thuần là vấn đề thu nhập thấp mà còn là sự tước đoạt những khả năng cơ bản về kinh tế, chính trị và xã hội Ông cho rằng cần phải phân loại rõ ràng giữa người giàu và người nghèo để hiểu rõ hơn về sự tồn tại của con người, từ đó tạo ra cơ hội phát triển cho cả hai nhóm Điều này cho thấy người giàu thường có nhiều cơ hội tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng hơn người nghèo.
Nghèo đói có hai dạng là nghèo đói tuyệt đối và nghèo đói tương đối.
Nghèo đói tuyệt đối, theo David O Dapice từ Viện Phát triển Harvard, được định nghĩa là tình trạng không có khả năng mua đủ sản phẩm tối thiểu cần thiết để sinh tồn.
Nghèo đói tuyệt đối xảy ra khi thu nhập hoặc tiêu dùng của cá nhân hay hộ gia đình giảm xuống dưới mức giới hạn nghèo đói Giới hạn này được xác định dựa trên chi phí ước tính cho một khối lượng hàng hóa thiết yếu hoặc tiêu chuẩn dinh dưỡng, bao gồm lượng calo và chất đạm cần thiết cho cơ thể.
Nói cụ thể, Ngân hàng thế giới phân loại đói nghèo tuyệt đối là “mức sống ít hơn
Mặc dù tỷ lệ đói nghèo đã giảm, hiện vẫn còn 1/5 dân số thế giới sống dưới mức 1 đô la mỗi ngày, cho thấy rằng 2/3 thế giới vẫn đang phải đối mặt với tình trạng nghèo đói tuyệt đối.
Nghèo đói tương đối được đánh giá trong bối cảnh xã hội, phụ thuộc vào vị trí địa lý và thói quen tiêu dùng của cộng đồng Nó thể hiện những người sống dưới mức sống chấp nhận được tại một thời điểm và địa điểm cụ thể Hình thức nghèo đói này phản ánh sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Hiện nay, việc giảm nghèo đói tương đối đang được chú trọng nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các tầng lớp giàu và nghèo.
Tóm lại, những quan niệm về nghèo đói nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo:
• Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
• Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người.
• Thiếu cơ hội được lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng.
Tiêu chí chính để xác định nghèo đói là mức thu nhập hoặc chi tiêu cần thiết để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người Những nhu cầu này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và các phong tục tập quán của từng vùng và quốc gia.
Các phương pháp xác định nghèo đói
Các phương pháp đo mức độ nghèo và xác định đối tượng nghèo ở Việt Nam được phân thành 6 nhóm chính: 1) Chi tiêu của hộ gia đình; 2) Vẽ bản đồ nghèo; 3) Dựa vào thu nhập; 4) Phân loại theo địa phương; 5) Tự đánh giá; và 6) Xếp hạng giàu nghèo.
Phương pháp chi tiêu của hộ dựa vào các cuộc điều tra như ĐTMSDC 1993, 1998 và ĐTMSHGĐ 2002, cung cấp thông tin chi tiết về chi tiêu hộ gia đình Dữ liệu này được sử dụng để xác định chuẩn nghèo, tính toán mức chi tiêu đầu người cần thiết để đảm bảo 2100 calo mỗi ngày Các hộ có mức chi tiêu dưới chuẩn nghèo sẽ được phân loại là nghèo, và tỷ lệ nghèo được tính dựa trên tỷ lệ dân số có mức chi tiêu thấp hơn chuẩn Tuy nhiên, phương pháp này gặp hạn chế do chi phí điều tra cao, dẫn đến mẫu nhỏ và ước tính nghèo đói không chính xác Trong các cuộc điều tra ĐTMSDC 1993 và 1998, không thể xác định tỷ lệ nghèo đáng tin cậy ở cấp tỉnh trở xuống, trong khi ĐTMSHGĐ 2002 cho phép tính toán tỷ lệ nghèo ở cấp vùng và tỉnh, nhưng không thể áp dụng ở cấp huyện, xã hay hộ.
Phương pháp vẽ bản đồ nghèo kết hợp phỏng vấn sâu trong điều tra hộ với tổng điều tra dân số, thu thập thông tin về chi tiêu, quy mô, thành phần hộ, trình độ học vấn, nghề nghiệp và tài sản Phương pháp này thực hiện qua ba bước: xác định biến số chung giữa hai cuộc điều tra, phân tích thống kê để đánh giá mối quan hệ giữa chi tiêu bình quân đầu người và các biến số, và sử dụng kết quả để dự báo chi tiêu của hộ trong tổng điều tra dân số Mức chi tiêu dự báo được dùng để xác định tình trạng nghèo của hộ Mặc dù phương pháp này cho phép tính tỷ lệ nghèo ở các cấp địa phương, nhưng chi tiêu "dự báo" vẫn chỉ là ước tính và có thể có sai số.
Phương pháp 3 - dựa vào thu nhập được Bộ LĐTBXH áp dụng để đo mức nghèo thông qua việc điều tra tài sản và thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau Thu nhập được tổng hợp và chia cho số người trong hộ, sau đó so sánh với chuẩn nghèo tùy theo vùng, như 260.000 đồng/người/tháng ở thành phố và 200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn Tuy nhiên, phương pháp này gặp phải hai vấn đề chính: thứ nhất, các mốc thu nhập để phân loại hộ nghèo mang tính chủ quan và không thể so sánh giữa các vùng khác nhau; thứ hai, việc áp dụng không đồng nhất tại các địa phương, dẫn đến chỉ một phần hộ được điều tra và kết quả thường không được chính quyền địa phương xem xét khi phân bổ trợ giúp như miễn học phí hay thẻ khám chữa bệnh.
Phương pháp phân loại địa phương là yếu tố quan trọng trong việc xác định hộ nghèo và phân bổ trợ giúp tại cấp xã, với sự chi phối của trưởng thôn, người được bầu và tôn trọng trong cộng đồng Trưởng thôn có trách nhiệm tìm hiểu tình hình các hộ và xác định đối tượng nghèo để lập danh sách, cập nhật hàng năm nhằm phân bổ các khoản trợ giúp như miễn học phí và thẻ khám chữa bệnh Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là thiếu quy tắc chặt chẽ trong việc xác định hộ nghèo và có thể loại trừ những hộ không được xem xét, như những hộ bị coi là không chăm chỉ hoặc không có trách nhiệm xã hội Điều này có thể gây thiệt thòi cho con cái của họ, những người không có lỗi do hoàn cảnh gia đình Tại Quảng Trị, cán bộ thôn cũng không cấp sổ hộ nghèo cho những hộ đang mắc nợ và những người di cư không có hộ khẩu không được hưởng trợ giúp.
Phương pháp tự đánh giá yêu cầu các hộ tự đánh giá tình trạng nghèo của mình mà không có tiêu chí hướng dẫn, dẫn đến tính chủ quan cao Mặc dù người dân hiểu rõ thu nhập và chi tiêu của bản thân, câu trả lời của họ thường không phản ánh đúng chuẩn nghèo chung Phương pháp này giúp xác định tương đối vị trí của hộ trong xã, nhưng không thể so sánh tỷ lệ nghèo giữa các địa phương Hơn nữa, nó dễ bị sai lệch do sự chủ quan của người trả lời, vì vậy tự đánh giá là một công cụ nghiên cứu hữu ích nhưng không phải là phương pháp chính xác để đo lường nghèo hay xác định đối tượng nghèo.
Phương pháp xếp hạng giàu nghèo thường được áp dụng trong PPA, bao gồm các nhận xét về tình hình của tất cả các hộ trong một cộng đồng, đặc biệt là ở nông thôn Việt Nam, nơi thôn là đơn vị tiêu biểu Nhiều hộ gia đình sẽ tập hợp để xếp thứ tự hoặc phân loại các hộ trong thôn, với sự tham gia của đại diện nam, nữ, người già, người trẻ, người nghèo và không nghèo, cùng với chính quyền địa phương Các cán bộ xã hội từ tổ chức phi chính phủ và nghiên cứu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc liên hệ Việc phân loại hộ diễn ra qua thảo luận nhóm để xác định đặc điểm của người nghèo, sau đó các phiếu ghi tên hộ được phát cho người tham dự để phân loại Những trường hợp có sự khác biệt trong phân loại sẽ được thảo luận để tìm ra nguyên nhân và đạt sự đồng thuận Phương pháp này mang tính toàn diện hơn so với các phương pháp dựa trên chi tiêu hay thu nhập, và khách quan hơn so với tự đánh giá hay phân loại bởi chính quyền địa phương, tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất là chi phí cao.
Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Cam Lộ đang xác định các hộ nghèo dựa trên điều tra thu nhập và phân loại địa phương Nghiên cứu này sử dụng kết quả xác định hộ nghèo của huyện để lựa chọn các hộ nghèo làm mẫu nghiên cứu.
Các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo
Trong phân tích này, chúng ta nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình Thu nhập được xác định bởi các yếu tố như tài sản tích lũy, bao gồm vật nuôi và công cụ sản xuất, cùng với vốn con người.
HC (kiến thức và năng lực của con người) bao gồm giáo dục, kinh nghiệm và huấn luyện Bên cạnh đó, các yếu tố khác như vốn xã hội (SC) từ mối quan hệ xã hội, vốn tài chính (FC) liên quan đến khả năng tiếp cận tài sản lưu động, và vốn tự nhiên (NC) từ tài nguyên thiên nhiên cũng rất quan trọng Lựa chọn các nguồn lực để tạo thu nhập được gọi là chiến lược tạo thu nhập (IS), bao gồm cả việc xác định thu nhập và tài sản.
Lựa chọn nguồn thu nhập chính được ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ở cấp độ vùng, bao gồm tiềm năng nông nghiệp, khả năng tiếp cận thị trường và mật độ dân số Các yếu tố lớn hơn được xác định qua việc so sánh lợi thế vùng dựa trên chi phí và rủi ro sản xuất hàng hóa khác nhau, cũng như chi phí và ràng buộc thị trường Những yếu tố này cung cấp cái nhìn tổng quan về cách thức ảnh hưởng đến chiến lược tạo thu nhập, như thông qua tác động vào giá hàng hóa hoặc yếu tố đầu vào, và có thể ảnh hưởng đến quy mô trung bình của hộ gia đình.
Chính sách của chính phủ, các chương trình và tổ chức có thể tác động mạnh mẽ đến chiến lược tạo thu nhập của hộ gia đình thông qua việc cải thiện điều kiện sản xuất và nguồn lực Những chính sách này có thể thúc đẩy các chiến lược tạo thu nhập cụ thể, chẳng hạn như xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp phi truyền thống, hoặc giúp tháo gỡ các rào cản trong quá trình thực hiện các chiến lược này, như cung cấp vốn khởi đầu cho các hoạt động phi nông nghiệp và đáp ứng nhu cầu tín dụng cho sản xuất trồng trọt.
Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình, nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho chính quyền địa phương và các tổ chức phát triển giảm nghèo Việc trả lời câu hỏi này sẽ giúp xây dựng các chính sách hiệu quả trong việc giảm nghèo tại khu vực.
Các yếu tố quyết định thu nhập của hộ 1
Thu nhập của hộ gia đình bao gồm tổng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, các hoạt động phi nông nghiệp như buôn bán, sản xuất thủ công, sản xuất gạch và bán than củi, cùng với các khoản viện trợ Các yếu tố quyết định về việc sử dụng lao động và tài sản cho các hoạt động khác nhau có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập hộ gia đình Như đã đề cập trước đó, thu nhập và tích lũy tài sản được xác định bởi những yếu tố này.
1 Các thức tạo thu nhập (IS), tích luỹ tài sản (PC), vốn con người (HC), vốn tự nhiên (NC) và vốn xã hội (SC);
2 Các nhân tố cấp độ vùng (X) ảnh hưởng đến lợi thế so sánh của địa phương, bao gồm cả điều kiện nông sinh học, tiếp cận thị trường và cơ sở hạ tầng, mật độ dân số;
3 Lao động của hộ (L), các yếu tố ngẫu nhiên (Uy)
Thu nhập = y(IS, L, NC, PC, FC, HC, SC, X, Uy)
1 Theo: Rhona Walusimbi, Ephraim Nkonya (2004), Community And Household-level
Income & Asset Status Baseline Suvey Report, AFRICARE-Uganda [11]
Chúng ta sẽ xem xét các yếu tố chính sách ảnh hưởng đến quyết định về thu nhập, bao gồm tiềm năng nông nghiệp, khả năng tiếp cận thị trường và giao thông, quy mô nông trại, khả năng tiếp cận tín dụng, tham gia các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và tổ chức, cũng như vốn con người và tài sản hiện vật như gia súc và trang thiết bị.
Tiềm năng nông nghiệp được hình thành từ các yếu tố như khí hậu, sinh học, đặc tính lý hóa của đất, địa hình, độ cao, nhiệt độ và sự đa dạng sinh học Đối với người dân phụ thuộc vào nông nghiệp, tiềm năng này có thể làm tăng thu nhập nếu các yếu tố khác giữ nguyên Đồng thời, tiềm năng nông nghiệp cũng gợi ý về các chiến lược tạo thu nhập phù hợp, ví dụ như việc trồng cây lâu năm trên những vùng đất khô cằn sẽ không khả thi.
Tiếp cận thị trường được xác định qua danh mục “kết hợp thị trường tiềm năng”, dựa trên thời gian di chuyển đến chợ gần nhất và được trọng số theo quy mô dân số Các chi phí giao dịch như lưu kho, vận chuyển và tiếp thị hàng hóa ảnh hưởng đến lợi thế so sánh của vùng và tiềm năng nông nghiệp Chẳng hạn, một xã ở vùng cao có thể không hoàn toàn có lợi thế trong sản xuất rau khó bảo quản, dù cây trồng giá trị cao có khả năng tạo lợi nhuận Nông dân, đối mặt với chi phí vận chuyển cao, có thể chọn trồng cây có giá trị thấp hơn để đảm bảo sinh kế.
Sản phẩm từ sữa và chăn nuôi gia súc như lợn và gia cầm thường được đặt gần đô thị để tối ưu hóa chi phí và tiếp cận thị trường Việc này giúp giảm chi phí vận chuyển cho các hàng hóa dễ hỏng như sữa và trứng, đồng thời dễ dàng tiếp cận các đầu vào như thức ăn hỗn hợp Chăn nuôi quy mô lớn các loại vật nuôi dễ vận chuyển như gia súc và động vật ăn cỏ thường xuất hiện ở những vùng xa thị trường tiêu thụ, mang lại lợi thế so sánh cho những khu vực có tiềm năng trồng trọt thấp.
Cơ hội cho các hoạt động phi nông nghiệp thường lớn hơn ở vùng đô thị, nơi có giao thông thuận lợi, bao gồm các hoạt động như chế biến nông sản, buôn bán và cung cấp đầu vào cho nông nghiệp Những người sống gần trung tâm đô thị thường có nhiều cơ hội nghề nghiệp hơn Tiếp cận thị trường tốt hơn dự kiến sẽ mang lại tác động tích cực đến thu nhập và tài sản, giúp tăng cơ hội thu nhập cho hộ gia đình thông qua việc gia tăng sản phẩm nông nghiệp hoặc các hoạt động phi nông nghiệp Sự gia tăng tiếp cận thị trường cũng khuyến khích sự tham gia vào các chương trình và tổ chức, thường tập trung vào các vùng có khả năng tiếp cận cao.
Các nguồn chính tạo ra thu nhập
Sự lựa chọn các nguồn chính tạo ra thu nhập ảnh hưởng đến thu nhập và tài sản của hộ
Các hộ gia đình dựa vào cây trồng giá trị cao, chăn nuôi và thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp thường có thu nhập cao hơn so với những hộ chỉ sản xuất lương thực thiết yếu Tuy nhiên, những hộ phụ thuộc vào thu nhập thấp từ việc làm phi nông nghiệp có thể gặp khó khăn hơn so với các hộ canh tác tự cung tự cấp Các nguồn thu nhập chính có thể ảnh hưởng đến mức độ tham gia của họ vào các chương trình và tổ chức, vì người dân sống dựa vào hoạt động phi nông nghiệp thường không mặn mà tham gia vào các chương trình liên quan đến nông nghiệp và quản lý nguồn lực tự nhiên.
Các chương trình và các tổ chức
Các chương trình và tổ chức có thể nâng cao khả năng thực hiện kỹ thuật quản lý tài nguyên thiên nhiên (NRM), nhưng tác động của chúng phụ thuộc vào mục tiêu cụ thể Các chương trình tập trung vào nông nghiệp và NRM thường giúp tăng sản lượng nông nghiệp, dẫn đến tăng thu nhập và tài sản cho nông dân Tuy nhiên, thu nhập có thể bị ảnh hưởng tiêu cực trong ngắn hạn nếu các hoạt động nông nghiệp không tạo ra sự gia tăng sản lượng đáng kể, do chi phí cơ hội của lao động Mục tiêu của chương trình cũng có thể ảnh hưởng đến sự lựa chọn chiến lược tạo thu nhập của nông dân, đặc biệt khi họ dễ dàng theo đuổi các chiến lược được hỗ trợ.
Tiếp cận tín dụng giúp nông dân nâng cao thu nhập thông qua việc mua sắm đầu vào và tài sản vật chất, đồng thời gia tăng sản xuất và tiếp thị cho cây trồng giá trị cao Tín dụng cũng hỗ trợ đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, tạo ra lợi nhuận cho hộ gia đình Tuy nhiên, tác động của tín dụng đối với sự tham gia vào các chương trình nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên (NRM) không rõ ràng; ví dụ, tín dụng cho kinh doanh phi nông nghiệp có thể dẫn đến giảm đầu tư vào nông nghiệp Mặt khác, tín dụng cũng có thể giúp nông dân tiếp cận các kỹ thuật mới từ các chương trình nông nghiệp và NRM.
Vốn con người (Trình độ giáo dục, giới tính và tuổi của chủ hộ)
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Giới thiệu vùng nghiên cứu và mẫu nghiên cứu
2.1.1 Tổng quan về tỉnh Quảng trị
Quảng Trị, một trong 15 tỉnh nghèo nhất Việt Nam, nằm ở miền Trung, nơi có sự giao thoa giữa các điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của miền Nam và miền Bắc Tính đến năm 2007, 28,4% hộ dân tại đây sống trong tình trạng nghèo đói Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này không chỉ do hậu quả của chiến tranh, mà còn là sự kết hợp của các yếu tố địa lý, tự nhiên, xã hội, kiến thức, cùng với rủi ro cao, mất mùa, dịch bệnh và thiếu nguồn lực thiết yếu.
Quảng Trị, một tỉnh nghèo ở khu vực duyên hải Bắc miền Trung Việt Nam, có diện tích 4.745 km2, trong đó 75% là đồi núi Tỉnh nằm trên tuyến Hành lang Đông-Tây và có dân số khoảng 630.339 người vào năm 2007 Quảng Trị bao gồm 11 huyện thị, đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế khu vực.
139 xã, phường, thị trấn (trong đó có 42 xã đặc biệt khó khăn nằm ở khu vực miền núi và vùng ven biển bãi ngang)
Kinh tế Quảng Trị chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, với 78% dân số sinh sống ở vùng nông thôn và lao động nông nghiệp chiếm 59% tổng lực lượng lao động Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2005 - 2007 ước đạt 8,5%, trong khi GDP năm 2007 đạt 4.823 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người vào năm 2007 là 7.652.000 đồng.
- Về sản xuất nông nghiệp:
Tỉnh có tổng diện tích đất nông nghiệp lên tới 73.500 ha, trong đó diện tích lúa nước chiếm 46.500 ha Đặc biệt, tỉnh đã quy hoạch vùng lúa chất lượng cao khoảng 10.000 ha, tập trung chủ yếu ở các huyện Triệu Phong, Hải Lăng, Vĩnh Linh và Gio Linh Sản lượng lương thực có hạt đạt gần 220.000 tấn.
Quảng Trị sở hữu tiềm năng đất đai lớn với hơn 23.000 ha đất đỏ bazan thích hợp cho phát triển cây công nghiệp Hiện tại, tỉnh có 11.500 ha trồng cao su, 3.861 ha cà phê và 2.680 ha hồ tiêu Sản lượng các loại cây công nghiệp tại Quảng Trị đạt 6.100 tấn mủ khô cao su, 5.064 tấn cà phê nhân và 1.996 tấn hồ tiêu.
Theo đánh giá của FAO, trữ lượng hải sản tại biển Quảng Trị dao động từ 100.000 đến 150.000 tấn, với sản lượng đánh bắt hàng năm khoảng 17.000 tấn Đến năm 2004, diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 2.050 ha, trong đó diện tích nuôi tôm chiếm 1.100 ha.
- Về sản xuất công nghiệp:
Sản xuất công nghiệp tại tỉnh Quảng Trị hiện vẫn còn nhỏ bé, chủ yếu tập trung vào các cơ sở quy mô vừa và nhỏ, tạo ra việc làm cho một bộ phận lao động địa phương Trong số các cơ sở lớn, tỉnh có nhà máy xi măng với công suất 8,2 vạn tấn/năm, nhà máy chế biến tinh bột sắn ở Hướng Hóa, Hải Lăng, cùng với 6 nhà máy sản xuất gạch tuynen và nhà máy chế biến gỗ MDF có công suất 60.000 tấn/năm.
+ Tỷ lệ xã, phường đạt chuẩn THCS: 89,1%.
+ Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng khoảng 25%
+ Tỷ lệ lao động thất nghiệp ở đô thị khoảng 5%; quỹ thời gian lao động được sử dụng ở khu vực nông thôn 78%.
Mặc dù tỉnh Quảng Trị đã nỗ lực trong công tác xoá đói giảm nghèo, nhưng vẫn đứng thứ 35/64 tỉnh, thành trong cả nước về chỉ số nghèo đói do xuất phát điểm thấp và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt Theo chuẩn nghèo của Việt Nam năm 2007, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh là 28,4%, chủ yếu tập trung ở khu vực miền núi và vùng biển bãi ngang, nơi có trình độ dân trí thấp và cơ sở hạ tầng sản xuất kém phát triển Theo chuẩn nghèo của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ nghèo đói tại Quảng Trị hiện khoảng 50%.
Mục tiêu và chỉ tiêu XĐGN giai đoạn 2006-2010 của tỉnh Quảng Trị: 2
- Giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 28,48% đầu năm 2006 xuống còn 15% vào cuối năm 2010
Cải thiện cuộc sống cho người nghèo là một nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt là đối với những người dân sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa Cần tạo điều kiện thuận lợi để họ tiếp cận các dịch vụ phúc lợi xã hội, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm bớt khó khăn.
Các xã đặc biệt khó khăn và vùng biển bãi ngang cần được trang bị đầy đủ cơ sở hạ tầng thiết yếu như hệ thống thủy lợi nhỏ, điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế, chợ và nguồn nước sạch phục vụ sinh hoạt.
- 92.200 lượt hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng chính sách xã hội.
2 HĐND tỉnh Quảng Trị (2006), Nghị quyết thông qua Chương trình mục tiêu giảm nghèo giai đoạn 2006-2010
- 104.000 lượt hộ nghèo được khuyến nông-lâm-ngư, hướng dẫn cách làm ăn, chuyển giao khoa học kỷ thuật.
- 450.000 lượt người nghèo khi ốm đau được khám chữa bệnh miễn phí.
- 440.000 lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí, hỗ trợ sách giáo khoa, học bổng và các khoản đóng góp khác.
- 5.635 lượt cán bộ tham gia làm công tác giảm nghèo ở các cấp được tập huấn nâng cao năng lực.
- 3.865 hộ nghèo được hỗ trợ làm nhà ở.
- 2.510 hộ được di dân để phát triển vùng kinh tế mới.
- 5.000 hộ dân ở các xã vùng 135 được hỗ trợ để định canh, định cư.
- 16.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ: đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt và đời sống.
- Xây dựng 195 công trình cơ sở hạ tầng ở các xã đặc biệt khó khăn và các xã đặc biệt khó khăn ven biển bãi ngang.
2.1.2 Các đặc điểm chính của Huyện Cam Lộ
Huyện Cam Lộ được chọn làm mẫu đại diện cho toàn tỉnh nhờ sự phù hợp về địa lý và điều kiện kinh tế xã hội Nằm giữa vùng cao và đồng bằng của Quảng Trị, Cam Lộ có một số xã ở vùng đồi núi và phần còn lại ở đồng bằng Cuộc điều tra được thực hiện trên ba xã: Cam Thuỷ, Cam Nghĩa và thị trấn Cam Lộ, nhằm cung cấp cái nhìn hệ thống về vùng nghiên cứu Cam Nghĩa là khu vực đồi núi, Cam Thuỷ là vùng đất thấp, trong khi thị trấn Cam Lộ là nơi kết nối giữa đất cao và đồng bằng, đồng thời là trung tâm hành chính-kinh tế của huyện Ba xã này đại diện cho các đặc điểm chính về địa lý và kinh tế của huyện Cam Lộ.
Để hiểu rõ những thay đổi trong cuộc sống của người dân nông thôn và cơ cấu sản xuất nông nghiệp do ảnh hưởng của hệ thống tài chính nông thôn, cần xem xét khả năng tiếp cận của người nghèo nông thôn đối với các dịch vụ tài chính vi mô.
Nghiên cứu này tập trung vào nghèo đói ở nông thôn, bao gồm cả những hộ gia đình thuộc diện nghèo theo chuẩn quốc gia và những người vừa thoát nghèo Các hộ điều tra được lựa chọn ngẫu nhiên từ danh sách hộ nghèo của địa phương, nhằm đảm bảo tính đại diện và khách quan trong nghiên cứu.
Cam Lộ, trung tâm của tỉnh Quảng Trị, giáp ranh với huyện Gio Linh ở phía Bắc, huyện Triệu Phong ở phía Nam, huyện Dakrong ở phía Tây và thị xã Đông Hà ở phía Đông Khu vực này bao gồm 8 xã và 1 thị trấn, trong đó có 4 xã nằm ở vùng đồi núi: Cam Chính, Cam Nghĩa, một phần Cam Thanh và Cam Tuyền.
Huyện có tổng diện tích 36.742 km2, chiếm 8% diện tích tỉnh Quảng Trị, và được chia thành 3 vùng chính: vùng núi, vùng đồi và vùng đồng bằng Vùng núi phù hợp cho phát triển lâm nghiệp, trong khi vùng đồi với đất đỏ bazan thuận lợi cho trồng cao su và hạt tiêu Những vùng đất thấp ven sông Hiếu thích hợp cho việc trồng lúa và cây hoa màu ngắn ngày.
Mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp lấy mẫu nhiều bước để lựa chọn mẫu phù hợp Đầu tiên, nghiên cứu xác định vùng nghiên cứu, sau đó chọn các xã trong vùng và cuối cùng là lựa chọn người phỏng vấn từ cộng đồng nông thôn Theo Dale (1998), cỡ mẫu có thể được xác định bằng công thức tổng quát.
Bảng 2.4: Lựa chọn cỡ mẫu
Population Mẫu đại diện Ghi chú
> 1.000 90 – 100 Đây là cỡ mẫu cho đám đông biến động mạnh (highly varied population) với 10% sai số lấy mẫu ở mức độ tin cậy 95%.
Mẫu nghiên cứu được chọn gồm 90 hộ trong tổng số 352 hộ nghèo tại ba xã thuộc huyện Cam Lộ Ba xã này có những đặc điểm riêng biệt, góp phần vào việc phân tích tình hình nghèo đói trong khu vực.
Bảng 2.5: Đặc điểm của các xã lấy mẫu
Số người được phỏng vấn
Phân loại điều kiện sống Điều kiện cụ thể
- khó khăn để tiếp cận thị trường
- cơ sở hạ tầng thuận lợi
- khoảng cách đến trung tâm huyện là 20 km
- chủ yếu trồng các cây công nghiệp (tiêu, cao su)
- có một số nghề phụ không ổn định dựa vào thiên nhiên.
- dễ dàng tiếp cận thị trường
- cơ sở hạ tầng thuận lợi
- thu nhập chủ yếu từ trồng lúa
23 Thuận lợi - cơ sở hạ tầng tốt
- có nhiều loại nghề phụ trong hoạt động kinh tế
- nông nghệp chiếm tỷ lệ cao trong thu nhập.
Số lượng người phỏng vấn được chọn thông qua phương pháp chọn mẫu hệ thống Theo nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ trong cuốn "Nghiên cứu Marketing" (1998), mẫu được sắp xếp theo thứ tự chữ cái trong từng xã và thuộc nhóm thu nhập nghèo Danh sách này do chính quyền địa phương ở ba xã cung cấp.
Tại thời điểm nghiên cứu, có 352 hộ nghèo và để lấy mẫu, chúng ta cần 90 hộ, do đó bước nhảy được tính là 4 (352/90 xấp xỉ 4) Trong danh sách, chúng ta đánh dấu thứ tự từ 1 đến 2.
Để chọn mẫu hộ trong danh sách hộ nghèo, ta đánh số từ 1 đến 4 cho từng nhóm 4 hộ, tiếp tục cho đến khi hết danh sách Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản được áp dụng để xác định hộ đầu tiên, ví dụ hộ số 2 Hộ thứ hai được chọn là hộ thứ 6 trong khung chọn mẫu (2 + 4) Quá trình này tiếp tục cho đến khi đạt được 90 hộ, chiếm 26% tổng số hộ nghèo ở mỗi xã.
Bảng 2.6: Số lượng người được phỏng vấn ở mỗi xã
Xã lấy mẫu Tổng số hộ nghèo trong xã
Nguồn dữ liệu
Dữ liệu để nghiên cứu được thu thập từ cả hai nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp.
Thu thập dữ liệu thứ cấp là bước đầu tiên trong nghiên cứu, yêu cầu tìm hiểu thông tin cơ bản về vùng nghiên cứu từ các tài liệu có sẵn liên quan đến chương trình giảm nghèo Các thông tin này bao gồm dữ liệu kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên, được lấy từ các ấn phẩm địa phương như niên giám thống kê hàng năm của tỉnh, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, cũng như ngân hàng chính sách tại tỉnh Dữ liệu cấp huyện được thu thập từ UBND huyện và các chi nhánh ngân hàng liên quan Ngoài ra, thông tin từ báo chí và tạp chí tài chính ngân hàng cũng được sử dụng để bổ sung cho nghiên cứu.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập trực tiếp từ người dân thông qua các phương pháp như quan sát, phỏng vấn không chính thức, phỏng vấn bán cấu trúc, đánh giá nhanh nông thôn (RRA) và bảng câu hỏi điều tra.
Phương thức thu thập dữ liệu
2.4.1 Quan sát và phỏng vấn không chính thức: Để có được thông tin cho nghiên cứu, những công cụ trên được sử dụng liên tục và xuyên suốt trong quá trình thực hiện nghiên cứu tại địa phương
Sự quan sát cung cấp những hiểu biết quan trọng về hoạt động của các tổ chức tài chính như Quỹ tín dụng Tân Lâm và Ngân hàng chính sách xã hội huyện, cũng như các hoạt động cho vay và điều kiện sống tại địa phương Những thông tin này sẽ được sử dụng để lựa chọn xã phù hợp cho việc thực hiện RRA.
2.4.2 Phỏng vấn bán cấu trúc (Semi-Structured Interviews):
Phỏng vấn là phương pháp quan trọng để thu thập dữ liệu giá trị từ những người cung cấp tin tức và cư dân nông thôn về hiểu biết của họ về một chủ đề cụ thể Trong nghiên cứu này, phỏng vấn bán cấu trúc được áp dụng kết hợp với RRA, sử dụng hướng dẫn phỏng vấn với các câu hỏi mở không cấu trúc Những người có thông tin tốt được lựa chọn để phỏng vấn nhằm hiểu sâu về các ngữ cảnh đặc thù trong lĩnh vực nghiên cứu Thông tin được khai thác trong quá trình phỏng vấn, dựa trên danh mục câu hỏi và các vấn đề liên quan, nhằm thu thập những dữ liệu kỳ vọng cần thiết.
Người được phỏng vấn Thông tin kỳ vọng
Các cán bộ phụ trách công tác xoá đói giảm nghèo
(Chuyên viên văn xã của
UBND tỉnh – Sở KH và ĐT, lãnh đạo các dự án
- Đánh giá thực hiện XĐGN của tỉnh, của huyện Cam Lộ.
- Hiệu quả hoạt động của ban chỉ đạo XĐGN tỉnh
- Các hạn chế của chương trình XĐGN của tỉnh.
- Các góp ý nâng cao hiệu quả XĐGN của tỉnh.
Cấp quản lý của các tổ chức tài chính chính thức
Quỹ tín dụng nhân dân)
- Cấu trúc, cách thức vận hành của các tổ chức
- Các tổ chức có liên kết với nhau hay không Nếu có, cách thức hợp tác như thế nào?
- Thuận lợi, khó khăn của các tổ chức.
- Trách nhiệm cho vay và giám sát các khoản vay XĐGN.
Lãnh đạo xã, trưởng thôn và người dân
Thông tin tổng quát về thôn, xã:
- Nhân khẩu học: Dân số, hộ gia đình, cấu trúc và phân bổ dân cư, phong tục, văn hoá và truyền thống.
3 L aurentina P và các tác giả khác, 1998
- Hoạt động kinh tế: nông nghiệp, năng suất lao động.
- Các vấn đề và thách thức đối với người nghèo trong vay vốn.
2.4.3 RRA (Rapid Rural Appraisal – Đánh giá nhanh nông thôn) Đánh giá nhanh nông thôn (RRA) là cách thức nghiên cứu cơ bản dùng để xác định các vấn đề, mục tiêu và chiến lược của các hộ gia đình, tập thể và cộng đồng 4 Đây là nghiên cứu nhanh để có được những thông tin tổng quát cơ bản Phương pháp này được sử dụng để xác định các trục trặc của dịch vụ tài chính và các hoạt động khác trong công tác xoá đói giảm nghèo và làm sáng tỏ các vấn đề liên quan trong nghiên cứu.
Trong suốt quá trình nghiên cứu thực nghiệm, phương pháp RRA được thực hiện như sau:
Công cụ thứ nhất: Viếng thăm và tìm hiểu
Ngày đầu tiên viếng thăm làng/xã là cơ hội quý báu để khám phá và thảo luận với người dân về đời sống và văn hóa địa phương Qua việc tiếp xúc thân mật, chúng ta có thể tìm hiểu sâu hơn về các sự kiện quan trọng trong lịch sử của làng, từ đó tạo dựng mối quan hệ gần gũi và hiểu biết hơn về cộng đồng nơi đây.
Công cụ thứ 2: Vẽ bản đồ làng
Trưởng thôn và người lớn tuổi được phỏng vấn để tạo ra bản đồ đơn giản của làng, xác định vị trí các hộ nghèo Phương pháp này giúp nhận diện các nguồn lực tự nhiên, vật chất và mối liên hệ xã hội đặc thù trong cộng đồng.
4 R ural development planning and mobilization – AITCV_03/2000 [12]
Công cụ thứ 3: Phỏng vấn
Phỏng vấn riêng lẽ và thảo luận nhóm được thực hiện với những người liên quan và người nghèo, nhằm thu thập thông tin từ nhóm dễ bị tổn thương Kỹ thuật nhóm tập trung giúp tiếp cận các định chế tài chính vi mô cho nhóm người nghèo ở nông thôn Sau đó, tiến hành phỏng vấn sâu với những người trong thôn, từ nhóm phỏng vấn mục tiêu, để chọn ra các hộ tiêu biểu cho những tình huống nghiên cứu nhỏ.
Phương pháp này tích hợp nhiều kỹ thuật như quan sát nhanh, giao tiếp không chính thức với những người có thông tin hữu ích, thảo luận nhóm ngắn và sử dụng checklist nghiên cứu Ngoài ra, việc áp dụng mẫu đơn giản với danh sách các câu hỏi hoặc vấn đề cần khảo sát cũng rất quan trọng.
2.4.4 Bản câu hỏi nghiên cứu:
Bảng câu hỏi phỏng vấn được thiết kế để thu thập thông tin từ nhiều người với các câu hỏi đồng nhất, trình bày theo mẫu chuẩn Nó bao gồm các câu hỏi chính thuộc năm lĩnh vực: thông tin chung về hộ gia đình, tình hình vay và sử dụng vốn vay, thông tin về thu nhập, các dịch vụ tư vấn và hỗ trợ kỹ thuật có sẵn, cũng như đánh giá và nguyện vọng vay vốn của hộ.
Danh sách người được phỏng vấn được xây dựng dựa trên danh sách hộ nghèo do UBND xã cung cấp, với các hộ nghèo được chọn ngẫu nhiên Người phỏng vấn sẽ tổ chức buổi gặp gỡ và phỏng vấn trực tiếp các chủ hộ được chọn, trong đó chủ hộ hoặc thành viên trong hộ có trách nhiệm cung cấp thông tin cần thiết để trả lời bảng câu hỏi Phương pháp này rất hữu ích cho việc thu thập dữ liệu và đánh giá từ một lượng lớn người liên quan Các câu hỏi có thể là câu hỏi mở, đóng hoặc trung dung, và yêu cầu câu trả lời ngắn gọn.
Kế hoạch phát triển nông thôn và huy động nguồn lực là một quá trình quan trọng, trong đó cần sử dụng cả dữ liệu định lượng và định tính Số liệu định lượng cung cấp cái nhìn rõ ràng về tình hình hiện tại, trong khi thông tin định tính giúp hiểu sâu hơn về bối cảnh và nhu cầu của cộng đồng Việc kết hợp hai loại thông tin này sẽ tạo ra một chiến lược phát triển toàn diện và hiệu quả hơn.
Phương pháp thu thập câu trả lời trong thời gian ngắn có thể không cung cấp cái nhìn đầy đủ về các vấn đề quan trọng, do số lượng câu hỏi bị hạn chế và cần nhiều người tham gia, dẫn đến thông tin thu thập không nhất quán Nguyên nhân chính đến từ việc xây dựng câu hỏi nghiên cứu và sự khác biệt trong nhóm người thu thập thông tin, điều này đã hạn chế dữ liệu mà nhà nghiên cứu có thể tích lũy.
Mục tiêu của nghiên cứu này là thu thập thông tin chi tiết về đặc điểm của các hộ nghèo, nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của họ.
Bài nghiên cứu này tiến hành điều tra 90 hộ tại ba xã và thị trấn, sử dụng phần mềm Eview để xử lý số liệu Các thông tin mô tả như số trung bình, tỷ lệ phần trăm và phương sai sẽ được áp dụng để so sánh giữa các nhóm với các biến thiên cụ thể Ngoài ra, một số thông tin khác sẽ phục vụ cho các mục đích khác nhau, trong khi nghiên cứu sâu về quan điểm và ý kiến của những người được khảo sát sẽ được mô tả định tính qua việc khảo sát một số trường hợp cụ thể.
Các loại số liệu từ khảo sát thực địa là cần thiết để tạo ra một bộ dữ liệu đầy đủ và đáng tin cậy Việc áp dụng các phương pháp một cách tuần tự và kiểm tra chéo số liệu sẽ đảm bảo tính chính xác trong nghiên cứu Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng, do đó, sự kết hợp các phương pháp sẽ giúp giảm thiểu những nhược điểm này.
Mô hình kinh tế lượng
6 David J.Luck et al, 2000, Marketing research [9]
2.5.1 Các biến độc lập và các biến phụ thuộc:
Bảng 2.7: CÁC BIẾN PHỤ THUỘC
Tên biến Đơn vị Định nghĩa Đặc điểm Lý do đưa biến vào mô hình
Thu nhập bình quân: nguồn thu trung bình đầu người của hộ gia đình từ các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ
Chỉ tiêu xếp loại hộ nghèo hay không
Bảng 2.8: CÁC BIẾN ĐỘC LẬP
Ký hiệu Đơn vị Định nghĩa Đặc điểm
Lý do đưa biến vào mô hình
CTH Tập hợp của 5 biến độc lập mô tả đặc tính của hộ
Số thành viên trong hộ : Tổng số thành viên sống trong hộ (ông, bà, cha mẹ, vợ chồng, con, họ hàng, người quen )
Cho thấy quy mô của hộ
Số người lao động của hộ Biến định lượng
Nguồn tạo thu nhập của hộ
Tỷ lệ người lao động: Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động (từ 18 tuổi trở lên) trong tổng số nhân khẩu.
Thể hiện khả năng tạo nguồn thu cho hộ
Tuổi của chủ hộ Biến định lượng
Tuổi và sức khỏe của chủ hộ ảnh hưởng đến tạo thu nhập
GD Trình độ giáo dục của chủ hộ: Biến giả Ảnh hưởng đến
Học hết cấp I là 1 Không học hết cấp I là 0 việc sx, quản lý, tiếp thu công nghệ nhằm cải thiện thu nhập
Chủ hộ là nam: 1 Chủ hộ là nữ: 0
Biến giả Chủ hộ là nam có xu hướng đem lại thu nhập cao hơn cho hộ
Tài sản phục vụ sản xuất
TS Tập hợp của 2 biến độc lập
Nhà ở cấp 4 trở lên và có đủ công cụ sản xuất: 1 Ngược lại là 0
DTD là biến chỉ diện tích đất đai (m 2 )
Biến giả Chỉ tiêu phản ánh thu nhập hộ đồng thời là cơ sở để nâng cao năng lực sản xuất
Tổng diện tích các loại đất hộ có (đất nhà ở vườn, ao )
Nhân tố tạo thu nhập của hộ
Dịch vụ hỗ trợ cho hộ:
Hộ được tập huấn kỹ thuật, lập kế hoạch, kinh doanh, cung cấp giống, dịch vụ thú y: 1 Còn không được hỗ trợ: 0
Biến giả Ảnh hưởng đến khả năng tạo thu nhập
Tiếp cận thông tin về nguồn tín dụng; các ngân hàng, quỹ tín dụng cho vay.
Tổng số nợ cho dến thời điểm hiện tại: Nợ ngân hàng, quỹ tín dụng hay các nguồn bán và phi chính thức khác
Kỳ vọng các hộ vay nhiều tăng khả năng tạo thu nhập
Tổng số tiền hộ đã vay trong 2 năm vừa qua.; vay ngân hàng, quỹ tín dụng hay các nguồn chính thức khác
Kỳ vọng các hộ vay có khả năng tạo thu nhập.
Ghú giải: (+) kỳ vọng làm tăng thu nhập trung bình; (-) kỳ vọng làm giảm thu nhập trung bình;
2.5.2 Các bước Xây dựng mô hình
1 Nhận dạng mô hình: ta chọn chiến lược xây dựng mô hình đi từ nhiều biến độc lập đến ít biến Ưu điểm của phương pháp này là tận dụng được các biến trong bộ dữ liệu; đỡ bỏ qua biến quan trọng;
Mô hình : Tìm hiểu những yếu tố tác động đến thu nhập bình quân của hộ nghèo.
TH-NOH = f (CHT, TS, DVHT, TCTT, DAVAY)
Có ba dạng mô hình cơ bản có thể áp dụng là
Mô hình Dạng hàm số Tác động biên tế Diễn dịch
Tuyến tính Y = β1 + β2X ∆ = Y β 2 ∆ X Một đơn vị thay đổi trong X sẽ làm Y thay đổi β2 đơn vị
Một phần trăm thay đổi trong
X sẽ làm Y thay đổi β2/100 đơn vị
Một sự thay đổi đơn vị trong biến X sẽ dẫn đến sự thay đổi 100β2 phần trăm trong biến Y Để phân tích, sử dụng phần mềm EVIEW để chạy các mô hình hồi quy và thực hiện các kiểm định nhằm xác định mức ý nghĩa của mô hình, bao gồm kiểm định đa cộng tuyến và kiểm định phương sai thay đổi.