1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Luận văn tiềm năng phát triển du lịch huyện bình giang tỉnh hải dương

65 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiềm Năng Phát Triển Du Lịch Huyện Bình Giang Tỉnh Hải Dương
Trường học Trường Đại Học Hải Dương
Chuyên ngành Du Lịch
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hải Dương
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,29 MB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG (4)
    • 1.1. Một số khái niệm cơ bản về du lịch (4)
      • 1.1.1. Khái niệm về du lịch (4)
      • 1.1.2. Khái niệm về tài nguyên du lịch (5)
    • 1.2. Đặc điểm và vai trò của tài nguyên du lịch (6)
      • 1.2.1. Đặc điểm của tài nguyên du lịch (6)
      • 1.2.2. Vai trò của tài nguyên du lịch đối với phát triển du lịch (7)
    • 1.3. Tài nguyên du lịch tự nhiên (8)
      • 1.3.1. Khái niệm tài nguyên du lịch tự nhiên (8)
      • 1.3.2. Đặc điểm tài nguyên du lịch tự nhiên (8)
      • 1.3.3. Các dạng tài nguyên du lịch tự nhiên (8)
        • 1.3.3.1. Địa hình (8)
        • 1.3.3.2. khí hậu (10)
        • 1.3.3.3. Tài nguyên nước (11)
        • 1.3.3.4. Tài nguyên sinh vật (12)
    • 1.4. Tài nguyên du lịch nhân văn (13)
      • 1.4.1. Khái niệm tài nguyên du lịch nhân văn (13)
      • 1.4.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch nhân văn (14)
      • 1.4.3 Các dạng tài nguyên du lịch nhân văn (15)
        • 1.4.3.1. Các di tích lịch sử văn hoá (15)
        • 1.4.3.2. Các lễ hội (16)
        • 1.4.3.3. Các đối tượng gắn với dân tộc học (17)
        • 1.4.3.4. Các đối tượng văn hoá, thể thao và hoạt động nhận thức khác (18)
  • CHƯƠNG II:TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN BÌNH (19)
    • 2.1. Khái quát về tỉnh Hải Dương (19)
    • 2.2. Tiềm năng phát triển du lịch huyện Bình Giang (20)
      • 2.2.1. Khái quát về huyện Bình Giang (20)
      • 2.2.2. Tiềm năng tài nguyên du lịch của huyện (22)
        • 2.2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên (22)
        • 2.2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn (25)
      • 2.2.3. Thực trạng khai thác (40)
        • 2.2.3.1. Tài nguyên (40)
        • 2.2.3.2. Khách du lịch (42)
        • 2.2.3.3. Cơ sở vật chất kĩ thuật (43)
        • 2.2.3.4. Dân số và lao động (46)
        • 2.2.3.5. Kết quả hoạt động kinh doanh (47)
        • 2.2.3.6. Sản phẩm du lịch (48)
        • 2.2.3.7. Công tác quảng cáo, xúc tiến đầu tư du lịch (49)
        • 2.2.3.8. Môi trường tự nhiên và môi trường xã hội (49)
      • 2.2.4 Đánh giá chung (50)
  • CHƯƠNG III ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN BÌNH GIANG (53)
    • 3.1. Định hướng (53)
      • 3.1.1. Định hướng tổ chức không gian du lịch (53)
      • 3.1.2. Đinh hướng tổ chức các loại hình du lịch (0)
    • 3.2. Giải pháp (54)
      • 3.2.1. Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng 54 3.2.2. Bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá (54)
      • 3.2.3. Giải pháp phát triển các làng nghề (56)
      • 3.2.4. Xây dựng các tour du lịch liên huyện, liên tỉnh (57)
      • 3.2.5. Tăng cường xúc tiến quảng bá cho điểm du lịch (58)
      • 3.2.6. Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực (58)
      • 3.2.7. Nâng cao hiểu biết và thu hút cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch (60)
      • 3.2.8. Bảo vệ tài nguyên môi trường tự nhiên (60)
    • 1. Kết luận (62)
    • 2. Khuyến nghị (62)

Nội dung

SỞ LÝ LUẬN CHUNG

Một số khái niệm cơ bản về du lịch

1.1.1 Khái niệm về du lịch

Ngày nay, du lịch đã trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống con người, dẫn đến việc ngành du lịch ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới.

Thuật ngữ “du lịch” ngày càng phổ biến, nhưng không phải ai cũng hiểu rõ ý nghĩa của nó Từ “du lịch” có nguồn gốc từ tiếng Pháp, trong đó “Tour” có nghĩa là đi vòng quanh hoặc cuộc dạo chơi, còn “touriste” chỉ người tham gia vào các hoạt động dạo chơi.

Trong hơn 6 thập kỷ qua, kể từ khi hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch IUOTO được thành lập vào năm 1925 tại Hà Lan, khái niệm du lịch đã luôn gây tranh cãi Ban đầu, du lịch được hiểu là việc di chuyển của cá nhân hoặc nhóm người rời khỏi nơi ở trong thời gian ngắn để nghỉ ngơi, giải trí hoặc chữa bệnh Hiện nay, người ta đã thống nhất rằng tất cả các hoạt động di chuyển của con người, cả trong và ngoài nước, trừ việc di cư chính trị, tìm việc làm và xâm lược, đều được coi là du lịch.

Mỗi người có cách hiểu khác nhau về du lịch tùy thuộc vào hoàn cảnh thời gian và khu vực, cũng như góc độ nghiên cứu Nhà kinh tế du lịch Robert Languar đã chỉ ra rằng "đối với du lịch, có bấy nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa".

Du lịch được định nghĩa là hoạt động của con người trong thời gian rảnh, bao gồm việc di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên Mục đích của du lịch có thể là để nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, cũng như nâng cao nhận thức văn hóa hoặc thể thao Bên cạnh đó, du lịch còn liên quan đến việc tiêu thụ các giá trị tự nhiên, kinh tế và văn hóa.

Tổ chức du lịch thế giới WTO định nghĩa du lịch gồm những loại hình

Du lịch quốc tế (International Tourism) gồm:

+du lịch vào trong nước (Inbound Tourism)

+du lịch ra ngoài nước (Outbound Tourism)

Du lịch của trong nước (Internal Tourism) gồm:

+du lịch nội địa (Domestic Tourism)

+du lịch quốc gia (National Tourism) Định nghĩa theo quan niệm của W.McIntosh(Mỹ) du lịch gồm 4 thành phần

+các doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ cho khách

+chính quyền tại địa điểm du lịch

Du lịch được định nghĩa là tổng hợp các hiện tượng và mối quan hệ phát sinh từ sự tương tác giữa du khách, nhà cung cấp dịch vụ và cộng đồng địa phương trong quá trình thu hút và tiếp đón khách du lịch.

Theo luật du lịch Việt Nam

Du lịch là những hoạt động liên quan đến việc di chuyển của con người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên, nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí và nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.

1.1.2 Khái niệm về tài nguyên du lịch

Tài nguyên đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế và đời sống con người, bao gồm tất cả các nguồn lực, năng lượng và thông tin trên trái đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng Các yếu tố tài nguyên liên quan đến điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa và kinh tế xã hội, và chúng gắn liền với môi trường tự nhiên và xã hội của từng vùng miền Tuy nhiên, để trở thành tài nguyên du lịch, các yếu tố này cần được đầu tư, quy hoạch và phát triển đúng cách, nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả cho mục đích phát triển du lịch.

Theo luật du lịch Việt Nam, tài nguyên du lịch được định nghĩa là tổng hợp các cảnh quan tự nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, và các công trình sáng tạo của con người, cùng với các giá trị nhân văn khác Những tài nguyên này có thể được khai thác để đáp ứng nhu cầu du lịch và là yếu tố cơ bản hình thành các khu du lịch, điểm du lịch và đô thị du lịch.

Tài nguyên du lịch bao gồm cả tài nguyên đang được khai thác và chưa được khai thác, với mức độ khai thác phụ thuộc vào khả năng nghiên cứu, phát hiện và đánh giá các tiềm năng này Các tài nguyên vốn có còn tiềm ẩn, cùng với trình độ phát triển khoa học công nghệ, đã tạo ra những phương tiện cần thiết để khai thác hiệu quả các tiềm năng du lịch.

Đặc điểm và vai trò của tài nguyên du lịch

1.2.1 Đặc điểm của tài nguyên du lịch

Khối lượng và diện tích phân bố các nguồn tài nguyên là yếu tố quan trọng để phát triển khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ du lịch nghỉ dưỡng.

Thời gian khai thác du lịch phụ thuộc vào các yếu tố như khí hậu, mùa tắm và sự ổn định của lớp tuyết phủ, từ đó xác định tính mùa vụ và nhịp điệu của dòng du lịch.

Tính bất biến về mặt lãnh thổ của các tài nguyên chủ yếu tạo ra sức hút cho cơ sở hạ tầng và dòng du lịch đến những khu vực tập trung các loại tài nguyên này.

Vốn đầu tư thấp và chi phí sản xuất không cao giúp xây dựng cơ sở hạ tầng nhanh chóng, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội và khả năng sử dụng độc lập các loại tài nguyên.

Việc sử dụng tài nguyên du lịch một cách hợp lý và tuân thủ các quy định bảo vệ sẽ giúp tăng cường khả năng sử dụng nhiều lần của những tài nguyên này Thực hiện các biện pháp bảo vệ chung là điều cần thiết để đảm bảo sự bền vững trong ngành du lịch.

1.2.2 Vai trò của tài nguyên du lịch đối với phát triển du lịch

Tài nguyên du lịch là yếu tố cốt lõi trong việc hình thành các sản phẩm du lịch đa dạng và hấp dẫn Để thu hút du khách, các sản phẩm du lịch cần phải phong phú, độc đáo và mới mẻ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Sự đa dạng và đặc sắc của tài nguyên du lịch chính là chìa khóa để tạo ra những trải nghiệm du lịch đáng nhớ.

Sự phong phú và đa dạng của tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các sản phẩm du lịch đa dạng Chất lượng tài nguyên du lịch là yếu tố then chốt quyết định chất lượng sản phẩm du lịch và hiệu quả của hoạt động du lịch.

Tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các loại hình du lịch mới Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách, các hình thức du lịch mới liên tục ra đời và phát triển, tất cả đều dựa trên nền tảng của tài nguyên du lịch.

Tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tổ chức lãnh thổ du lịch tại một khu vực cụ thể, và mọi hoạt động du lịch đều phản ánh sự tổ chức không gian của lĩnh vực này.

Hệ thống lãnh thổ du lịch là sự kết hợp không gian của các yếu tố quan trọng như khách du lịch, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, đội ngũ cán bộ công nhân viên chức và tổ chức điều hành quản lý du lịch, tạo nên một mối quan hệ mật thiết và đồng bộ.

Hệ thống lãnh thổ du lịch được phân chia thành nhiều cấp độ, bao gồm điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng và vùng du lịch Tài nguyên du lịch đóng vai trò quan trọng ở mọi cấp độ, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm và khu du lịch, từ đó tạo ra sức hấp dẫn cho du lịch và tối ưu hóa việc khai thác tiềm năng.

Tài nguyên du lịch tự nhiên

1.3.1 Khái niệm tài nguyên du lịch tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các đối tượng và hiện tượng trong môi trường tự nhiên, nơi mà thiên nhiên là môi trường sống cho con người và các sinh vật trên trái đất Chỉ những thành phần và cá thể tự nhiên được khai thác, sử dụng để tạo ra sản phẩm du lịch mới được coi là tài nguyên du lịch tự nhiên.

1.3.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch tự nhiên

Nếu được quy hoạch, bảo vệ và khai thác bền vững, tài nguyên du lịch tự nhiên có thể được coi là vô tận và có khả năng tái tạo.

Có tác dụng tham quan giải trí, tác dụng nhậm thức có ý nghĩa thứ yếu, không điển hình

Thời gian tham quan thường diễn ra trong thời gian dài, thời gian tham quan có thể diễn ra trong vài giờ, cả ngày hoặc lâu hơn

Du lịch chịu ảnh hưởng lớn từ tính mùa vụ và các điều kiện khí tượng, tự nhiên Trong hoạt động du lịch tự nhiên, có những thời điểm không thích hợp cho các hoạt động giải trí ngoài trời, như mùa bão làm gián đoạn du lịch biển và mùa mưa không thuận lợi cho các hoạt động như dã ngoại hay cắm trại.

Những khu vực du lịch thường nằm xa khu dân cư, điều này không chỉ làm tăng chi phí và khó khăn trong việc tổ chức hoạt động du lịch mà còn giúp bảo tồn tài nguyên du lịch tự nhiên tốt hơn Sự xa cách này hạn chế ảnh hưởng từ các hoạt động kinh tế xã hội, góp phần làm cho tài nguyên du lịch trở nên hấp dẫn hơn đối với du khách.

1.3.3 Các dạng tài nguyên du lịch tự nhiên

1.3.3.1 Địa hình Địa hình hiện tại của bề mặt trái đất là sản phẩm của các quá trính địa chất lâu dài Trong chừng mực nhất định mọi hoạt động sống của con người trên một lãnh thổ đều phụ thuộc vào địa hình Đối với hoạt động du lịch quan trọng hơn cả là dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng địa hình đặc biệt có sức hấp dẫn khai thác cho du lịch Các đơn vị hành chính của địa hình là núi đồi và đồng bằng,chúng được phân biệt bởi độ cao của địa hình, mỗi loại địa hình lại có sức thu hút khách du lịch khác nhau

Đồng bằng có địa hình tương đối đơn điệu, ít gây ấn tượng với du khách, nhưng lại là khu vực thuận lợi cho phát triển kinh tế và nông nghiệp Sự phát triển này góp phần tạo nền tảng văn hóa cho con người, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến ngành du lịch.

Địa hình vùng đồi mang lại không gian thoáng đãng và bao la, ảnh hưởng tích cực đến tâm lý du khách yêu thích dã ngoại Đây là nơi lý tưởng cho các hoạt động cắm trại và tham quan, với dân cư đông đúc cùng nhiều di tích khảo cổ và tài nguyên văn hóa lịch sử độc đáo Điều này tạo cơ hội phát triển đa dạng các loại hình du lịch như du lịch tham quan và du lịch chuyên đề.

Địa hình vùng núi đóng vai trò quan trọng trong phát triển du lịch, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động thể thao mùa đông, nghỉ dưỡng và các cơ sở du lịch Khu vực này có khả năng chuyển tiếp lộ trình và đỉnh núi mang đến cảnh quan toàn cảnh tuyệt đẹp, lý tưởng cho môn thể thao leo núi Bên cạnh đó, khí hậu và hệ động thực vật phong phú trong miền núi cũng góp phần hình thành tài nguyên du lịch đa dạng, phục vụ cho cả du lịch ngắn ngày và dài ngày.

Địa hình karst là kết quả của quá trình hòa tan nước trong các loại đá dễ hòa tan như đá vôi, thạch cao và muối mỏ Tại Việt Nam, đá vôi là loại đá chủ yếu tạo nên địa hình này, trong đó hang động karst là một trong những điểm thu hút du lịch nổi bật Sự hình thành của các kiểu karst có thể xảy ra từ cả nước mặt và nước ngầm Hang động karst không chỉ mang lại cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp mà còn chứa đựng giá trị văn hóa phong phú, thu hút đông đảo du khách Đây thực sự là nguồn tài nguyên quý giá, có khả năng sinh lợi cao cho ngành du lịch.

Ngoài hang động karst, các dạng địa hình karst ngập nước và karst đồng bằng cũng mang lại giá trị du lịch lớn, thu hút sự quan tâm của du khách.

Kiểu địa hình ven bờ và các kho chứa nước như đại dương, biển, sông, hồ có thể được khai thác phục vụ cho du lịch với nhiều mục đích khác nhau, từ tham quan chuyên đề đến nghỉ dưỡng, tắm biển và thể thao nước.

Trên toàn cầu, du lịch biển là loại hình phổ biến nhất, với bãi biển lý tưởng cho tắm biển thường có diện tích rộng, phẳng và cảnh quan đẹp Những bãi biển gần các thành phố du lịch trung tâm sẽ thu hút nhiều du khách hơn nhờ sự thuận tiện trong di chuyển và tham quan.

Khí hậu đóng vai trò quan trọng trong môi trường tự nhiên và được xem là một tài nguyên du lịch quý giá Hai chỉ tiêu khí hậu chính là nhiệt độ không khí và độ ẩm không khí, bên cạnh đó còn có gió, lượng mưa, thành phần lý hoá của không khí, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng khí hậu đặc biệt Để đánh giá điều kiện khí hậu cho hoạt động du lịch, cần xem xét ảnh hưởng của các yếu tố này đến sức khoẻ con người và các loại hình du lịch Điều kiện khí hậu không chỉ ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch mà còn đến các dịch vụ liên quan, do đó cần lưu ý đến những hiện tượng thời tiết đặc biệt có thể cản trở kế hoạch du lịch.

Tính mùa vụ của du lịch chủ yếu bị ảnh hưởng bởi yếu tố khí hậu, và các vùng khác nhau sẽ có mức độ mùa vụ du lịch khác nhau do sự tác động của các thành phần khí hậu.

Mùa du lịch diễn ra suốt cả năm, đặc biệt phù hợp với du lịch chữa bệnh tại suối khoáng và du lịch trên núi vào cả mùa đông lẫn mùa hè Tuy nhiên, sự phân bổ các loại hình du lịch theo mùa thường không đồng đều do ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, tự nhiên, xã hội và kinh tế - kỹ thuật.

Tài nguyên du lịch nhân văn

1.4.1 Khái niệm tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên văn hóa là những sản phẩm do con người sáng tạo, bao gồm các di tích lịch sử, di chỉ khảo cổ, lễ hội, nghề thủ công truyền thống, phong tục tập quán, nét văn hóa đương đại và các công trình kiến trúc nghệ thuật.

1.4.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch nhân văn

Tài nguyên du lịch nhân văn có tác dụng nhận thức nhiều hơn Tác dụng giải trí không điển hình hoặc có ý nghĩa thứ yếu

Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian ngắn, từ vài phút đến vài giờ, cho phép du khách khám phá nhiều khía cạnh của chúng trong khuôn khổ chuyến du lịch Tài nguyên du lịch nhân văn rất phù hợp với loại hình du lịch nhận thức theo lộ trình.

Số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hoá cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn

Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung tại các thành phố lớn, nơi có hệ thống giao thông thuận lợi, giúp du khách dễ dàng tiếp cận Khi khám phá các nguồn tài nguyên này, du khách có thể tận dụng cơ sở vật chất du lịch đã có mà không cần xây dựng thêm Một ưu điểm lớn của tài nguyên du lịch nhân văn là tính không mùa, không phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, cho phép khai thác quanh năm và giảm thiểu tính mùa vụ của du lịch Trong những ngày không thuận lợi cho hoạt động ngoài trời, việc tham quan tài nguyên du lịch nhân tạo trở thành một giải pháp lý tưởng.

Việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân văn thường dựa vào các yếu tố định tính như cảm xúc và trực cảm, do sở thích của du khách đối với tài nguyên nhân tạo rất đa dạng và phức tạp Điều này tạo ra nhiều thách thức trong việc đánh giá tài nguyên du lịch nhân tạo, khác với tài nguyên du lịch tự nhiên, nơi có thể áp dụng các phương pháp định lượng Các yếu tố như độ tuổi, trình độ văn hóa, hứng thú và nghề nghiệp cũng ảnh hưởng đến việc khám phá tài nguyên du lịch nhân tạo.

Tài nguyên du lịch nhân văn ảnh hưởng qua các giai đoạn: thông tin, tiếp xúc, nhận thức và đánh giá Trong giai đoạn thông tin, du khách nhận được những tin tức tổng quát về đối tượng nhân tạo Giai đoạn tiếp xúc cho phép du khách quan sát trực tiếp đối tượng Đến giai đoạn nhận thức, du khách làm quen sâu hơn với đối tượng, dành thời gian tìm hiểu kỹ lưỡng Cuối cùng, ở giai đoạn đánh giá, du khách dựa vào kinh nghiệm cá nhân để so sánh và nhận xét đối tượng này với các đối tượng khác.

1.4.3 Các dạng tài nguyên du lịch nhân văn

1.4.3.1 Các di tích lịch sử văn hoá

Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, phản ánh các giá trị lịch sử tiêu biểu Chúng được hình thành từ những hoạt động sáng tạo của con người, thể hiện những dấu ấn quan trọng trong quá trình phát triển lịch sử.

Di tích văn hoá khảo cổ là những địa điểm chứa đựng giá trị văn hóa của một thời kỳ lịch sử có văn tự Thường thì các di tích này nằm dưới lòng đất, nhưng cũng có những trường hợp nằm trên bề mặt như các bức chạm khắc trên vách đá Chúng còn được gọi là di chỉ khảo cổ, và được phân loại thành di chỉ cư trú và di chỉ mộ táng.

Di chỉ cư trú bao gồm nhiều loại hình như di chỉ hang động, di chỉ có thành luỹ bằng đất hoặc đá, và di chỉ không có thành luỹ, thường liên quan đến các tộc người sống bằng nghề trồng trọt và chăn nuôi Những di chỉ này thường nằm ở các khu vực như bãi, sườn đồi, dọc triền sông, bên cạnh các đầm hồ lớn, và đặc biệt là di chỉ đống vỏ sò, thường thấy ở các vùng ven biển.

Mỗi quốc gia và dân tộc đều sở hữu những di tích lịch sử độc đáo, phản ánh những đặc điểm văn hóa và quá trình phát triển riêng Những di tích này không chỉ đa dạng về số lượng mà còn phong phú về nội dung và giá trị, góp phần làm phong phú thêm di sản văn hóa của nhân loại.

Loại hình di tích lịch bao gồm:

-Di tích ghi dấu về dân tộc học: sự ăn ở, sinh hoạt của các tộc người

-Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu có ý nghĩa quyết định chiều hướng phát triển của đất nước, của địa phương

-Di tích ghi dấu chiến công xâm lược

-Di tích ghi dấu những kỷ niệm

-Di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động

-Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến

Di tích lịch sử thường được phân chia thành các thời kỳ khác nhau, bao gồm thời kỳ cổ đại, thời kỳ cận đại và thời kỳ hiện đại.

Di tích văn hoá nghệ thuật là những công trình kiến trúc có giá trị, không chỉ thể hiện giá trị kiến trúc mà còn phản ánh các giá trị văn hoá xã hội và văn hoá tinh thần Những di tích này đóng vai trò quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá của cộng đồng.

Mỗi quốc gia không chỉ sở hữu các di tích lịch sử và văn hóa mà còn được thiên nhiên ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh độc đáo, tạo nên giá trị văn hóa phong phú.

Các danh lam thắng cảnh không chỉ nổi bật với vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ và thoáng đãng, mà còn mang giá trị nhân văn sâu sắc, được hình thành từ sự sáng tạo của con người.

Các danh lam thắng cảnh không chỉ đẹp mắt mà còn mang trong mình giá trị của nhiều di tích lịch sử và văn hóa, từ đó đóng góp quan trọng cho sự phát triển của ngành du lịch.

Lễ hội là hoạt động văn hóa phong phú và đa dạng, thường diễn ra sau những giờ lao động mệt mỏi, tạo cơ hội cho cộng đồng sum họp Đây cũng là dịp để con người tưởng nhớ tổ tiên, ôn lại truyền thống, và giải tỏa những lo âu, khát vọng mà cuộc sống hiện tại chưa đáp ứng.

NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN BÌNH

Khái quát về tỉnh Hải Dương

Hải Dương là một tỉnh nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, tọa độ từ 20 độ 36 đến 21 độ 33 vĩ độ bắc và từ 106 độ 30 đến 106 độ 36 kinh độ đông Tỉnh này giáp với Bắc Ninh, Bắc Giang và Quảng Ninh ở phía bắc, Hải Phòng ở phía đông, Hưng Yên ở phía tây, và Thái Bình ở phía nam Thành phố Hải Dương là trung tâm hành chính của tỉnh.

Hải Dương có diện tích là:1.648km2, với dân số là: 1.711522 người, tỉnh lị là thành phố Hải Dương

Hải Dương là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đồng thời cũng là khu vực du lịch quan trọng ở phía Bắc Tỉnh này có hệ thống giao thông phát triển với các tuyến đường bộ và đường sắt quốc gia, bao gồm quốc lộ 5.

Tỉnh Hải Dương nằm ở vị trí trung tâm của hệ thống giao thông vận tải quan trọng, với quốc lộ 18 nối Hà Nội - Bắc Ninh - Hạ Long dài 20 km đi qua, tạo điều kiện thuận lợi cho du khách đến tham quan khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc Đường cao tốc số 5 và tuyến đường xe lửa kết nối Hà Nội với Hải Phòng chia tỉnh thành hai phần, trong đó thành phố Hải Dương là điểm giao thoa chính Ngoài ra, hệ thống giao thông đường thủy, đặc biệt là sông Thái Bình, cũng đóng vai trò quan trọng, cho phép du khách thăm các địa danh như Côn Sơn - Kiếp Bạc và tiếp tục hành trình tới vịnh Hạ Long qua các con sông như Kinh Môn và Kinh Thầy.

Hải Dương, mặc dù không có biển, nhưng sở hữu khí hậu lý tưởng cho du lịch và tài nguyên du lịch nhân văn phong phú Nơi đây ghi dấu ấn lịch sử quan trọng của dân tộc và gắn liền với nhiều danh nhân Du khách không thể bỏ qua các điểm tham quan nổi tiếng như Côn Sơn - Kiếp Bạc và Văn Miếu Mao Điền, cùng với các lễ hội đặc sắc như lễ hội Côn Sơn-Kiếp Bạc, hội đền Cuối (Gia Lộc) và hội đền An Phụ (Kinh Môn) Bên cạnh đó, du khách còn có cơ hội thưởng thức những đặc sản nổi tiếng như bánh đậu xanh, bánh gai Ninh Giang và vải thiều Thanh Hà, tạo nên sức hấp dẫn cho Hải Dương.

Du lịch Hải Dương đang ngày càng thu hút đông đảo khách du lịch, không chỉ từ trong nước mà còn cả từ quốc tế.

Tiềm năng phát triển du lịch huyện Bình Giang

2.2.1 Khái quát về huyện Bình Giang

Lịch sử hình thành và phát triển của huyện Bình Giang

Qua các triều đại lịch sử Việt Nam, từ thời Hùng Vương đến các giai đoạn sau như Bà Trưng, Lý Bôn, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, nhà Lý và nhà Trần, Bình Giang vẫn giữ lại nhiều di tích văn hóa quan trọng Những chứng tích này không chỉ phản ánh lịch sử mà còn khẳng định sự hiện diện và phát triển của người và đất Bình Giang từ thời xa xưa của dân tộc Việt Nam.

Thời kỳ của 18 đời vua Hùng Vương, ước tính từ năm 2879 đến năm 258 trước công nguyên và từ năm 275 đến năm 40 sau công nguyên, là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử Việt Nam Huyện Bình Giang nổi bật với nhiều người con đã đứng lên chiêu binh luyện võ, giúp vua đánh giặc và lập công lớn, được phong làm thành hoàng làng Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh thời Bắc thuộc lần thứ nhất, đánh dấu những nỗ lực kháng chiến và bảo vệ đất nước.

Thời kỳ phong kiến xâm lược phương Bắc, nước ta bị nhà Hán coi như một phần của Trung Hoa, chia thành 9 quận Trong số đó, 3 quận thuộc lãnh thổ Việt Nam hiện nay là Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam, trong đó huyện Bình Giang nằm trong vùng Giao Chỉ.

Trong thời kỳ Nhà Đường đô hộ, nước ta được gọi là An Nam phủ và được chia thành 12 châu, trong đó 8 châu thuộc về Việt Nam Huyện Bình Giang nằm trong khu vực Giao Châu.

Năm 825, vua Đường cử Vũ Hồn làm thứ sử Giao Châu, trong thời gian này, ông đã cắm đất lập ấp tại làng Mộ Trạch và đổi tên huyện Bình Giang thành huyện Đường An.

Năm 863, nhà Đường bỏ chức đô hộ phủ,đặt ra Hành Giao Châu ở Hải môn trấn Huyện Bình giang vẫn giữ tên là Đường An

Ngô Quyền xưng vương đóng đô ở Cổ Loa Sau Ngô Quyền đến thời vua Đinh, vua Lê thì huyện Bình Giang vẫn giữ nguyên tên là Đường An

Vào năm 1010, nhà Lý đã thay thế nhà Lê, và tỉnh Hải Dương lúc bấy giờ được gọi là Hồng Châu, trong khi huyện Bình Giang vẫn mang tên Đường An Dưới triều đại nhà Trần và nhà Hồ, huyện Bình Giang tiếp tục giữ nguyên tên gọi Đường An.

Năm 1407 nhà Minh đánh nhà Hồ, chiếm nước ta 20 năm, từ năm 1407 đến 1427, thời thuộc Minh, Hải Dương chia làm 2 phủ là Lạng Giang và Tiên

An Phủ Lạng Giang có 3 châu và 5 huyện, huyện Đường An thuộc quyền cai quản của châu Nam Sách

Năm 1428, nhà Lê khôi phục độc lập dân tộc, giữ nguyên tên nước và kinh đô như thời Trần Đất Hải Dương thuộc Đông Đạo, chia thành 4 lộ: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách, An Bang, trong đó huyện Bình Giang thuộc lộ Thượng Hồng Đến năm 1822, thời Nguyễn, phủ Thượng Hồng được đổi thành phủ Bình Giang để kiêng tên huý của vua Minh Mệnh Năm 1885, thời Đồng Khánh, cũng có sự kiêng kỵ tương tự đối với tên vua.

“Đường” mà đổi huyện Đường An ra huyện Năng An

Năm 1898, người Pháp đã bỏ cấp phủ, và tri phủ Bình Giang được chuyển xuống tri huyện Năng Yên, đổi tên huyện Năng Yên thành phủ Bình Giang Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, tên gọi huyện Bình Giang được khôi phục.

Năm 1968, tỉnh Hải Hưng được thành lập từ việc hợp nhất hai tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, nhưng đến năm 1997, hai tỉnh này lại tách ra Đồng thời, năm 1977, huyện Cẩm Bình được hình thành từ sự kết hợp của hai huyện Bình Giang và Cẩm Giàng, và đến năm 1997, huyện này cũng được tách ra thành hai huyện riêng biệt là Cẩm Giàng và Bình Giang.

Người Bình Giang đã ghi dấu ấn với nhiều thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến và phát triển đất nước, nhờ vào tinh thần hy sinh và vượt khó của cán bộ, đảng viên và nhân dân Mỗi người con Bình Giang, dù ở quê hương hay khắp mọi miền đất nước, đều nỗ lực học tập và lao động, rèn luyện phẩm chất và tài năng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Họ không chỉ mang lại vinh quang cho bản thân và gia đình, mà còn làm đẹp thêm truyền thống anh hùng của quê hương, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

2.2.2 Tiềm năng tài nguyên du lịch của huyện

2.2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Huyện Bình Giang, tọa lạc tại vĩ độ 21° Bắc và kinh độ 105° Đông, nằm ở phía tây tỉnh Hải Dương Phía bắc giáp các xã Cẩm Điền, Cẩm Phúc, Cẩm Đông, Lương Điền huyện Cẩm Giàng với ranh giới là sông Sặt Phía nam tiếp giáp các xã Phạm Kha, Thanh Tùng, Hồng Quang, Ngô Quyền huyện Thanh Miện Phía tây và tây bắc giáp các xã Hòa Phong, Minh Đức, Ngọc Luân huyện Mỹ Hào cùng các xã Phù Ủng, Bãi Sậy, Tân Phúc, Văn Nhuệ huyện Ân Thi thuộc tỉnh Hưng Yên, cũng với ranh giới là sông Sặt Phía đông giáp các xã Trùng Khánh, Yết Kiêu, Lê Lợi huyện Gia Lộc, ranh giới là sông Đào Điểm cực bắc của huyện Bình Giang nằm tại làng Thượng Khuông xã Hưng Thịnh, trong khi điểm cực nam ở làng Kinh Trang xã Thái Dương, cách nhau một khoảng gần.

14 km Điểm cực đông tại làng Ô Xuyên xã Cổ Bì, đến điể cực tây tại làng Thái khương xã Thái Dương cách nhau hơn 13 km

Huyện Bình Giang có diện tích 105.1km2, có 17 xã, 1 thị trấn

Bình Giang, huyện nằm trong đồng bằng châu thổ sông Hồng, có đất đai màu mỡ và địa hình bằng phẳng, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với số ruộng đất bình quân đầu người cao, chỉ sau huyện Chí Linh và Kinh Môn Địa hình này cũng tạo điều kiện cho việc thành lập các xưởng sản xuất phục vụ du lịch và thuận lợi cho vận chuyển hành khách.

Khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ đặc trưng với hai mùa rõ rệt: mùa nóng và mùa lạnh Mùa nóng thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, với lượng mưa dồi dào.

10 Mùa lạnh khô và ẩm từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 24oC độ các ngày nắng nhiệt độ có thể lên tới 38 độ, ngày lạnh nhiệt độ có thể xuống tới 6 độ, lượng mưa bình quân năm là 1.664mm, độ ẩm bình quân dao động từ 70-80%

Bình Giang được bao quanh bởi bốn con sông, tạo nên một không gian thiên nhiên phong phú Phía bắc là sông Sặt, phía đông có sông Đình Hào và sông Đào, phía tây là sông Cửu An, trong khi phía nam được bao bọc bởi sông Cầu Lâm và cầu Cốc.

ĐỊNH HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN BÌNH GIANG

Ngày đăng: 05/08/2021, 21:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w