1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khóa luận tư tưởng triết học giáo dục đại học của wilhelm von humboldt

54 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư Tưởng Triết Học Giáo Dục Đại Học Của Wilhelm Von Humboldt
Tác giả Đinh Thị Mỹ Linh
Người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Vũ Hảo
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn, ĐHQGHN
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 676,94 KB

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: BỐ I C Ả NH VÀ NH Ữ NG TI ỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞ NG (13)
    • 1.1. B ố i c ả nh l ị ch s ử - xã h ộ i (13)
    • 1.2. Wilhelm Von Humboldt: Cu ộc đờ i và tác ph ẩ m (14)
      • 1.2.1. Vài nét v ề ti ể u s ử c ủ a Wilhelm Von Humboldt (14)
      • 1.2.2. Các tác ph ẩ m c ủ a Wilhelm Von Humboldt (18)
    • 1.3. Nh ữ ng ti ền đề ra đờ i tri ế t h ọ c giáo d ục đạ i h ọ c c ủ a Wilhelm Von (21)
      • 1.3.1. Tư tưở ng chính tr ị c ủ a John Locke (21)
      • 1.3.2. Tư tưở ng giáo d ụ c c ủ a J.J. Rousseau (29)
      • 1.3.3. Tư tưở ng nhân h ọ c c ủ a Immanuel Kant (31)
      • 1.3.4. Tư tưở ng giáo d ụ c c ủ a Johann Heinrich Pestalozzi (32)
  • CHƯƠNG 2: NHỮ NG N ỘI DUNG CƠ BẢ N, GIÁ TR Ị VÀ H Ạ N CH Ế (35)
    • 2.1. Nh ữ ng n ề n t ảng cho tư tưở ng tri ế t h ọ c giáo d ục đạ i h ọ c khai phóng (37)
      • 2.1.1. Tư tưở ng nhân h ọ c c ủ a Humboldt (37)
      • 2.1.2. Tư tưở ng c ủ a Humboldt v ề vai trò c ủa nhà nướ c trong giáo d ụ c đạ i h ọ c (38)
    • 2.2. Quan ni ệ m v ề t ự do và khoa h ọc trong tư tưở ng tri ế t h ọ c giáo d ụ c đạ i h ọ c c ủ a Humboldt (42)
    • 2.3. Quan ni ệ m v ề chân lý và giáo d ụ c trong tri ế t h ọ c giáo d ục đạ i h ọ c của Humboldt (44)
      • 2.4.1. Nh ữ ng giá tr ị (46)
      • 2.4.2. Nh ữ ng h ạ n ch ế (47)

Nội dung

BỐ I C Ả NH VÀ NH Ữ NG TI ỀN ĐỀ RA ĐỜI TƯ TƯỞ NG

B ố i c ả nh l ị ch s ử - xã h ộ i

Cuối thế kỉ 18 và đầu thế kỉ 19, các quốc gia phong kiến châu Âu nhanh chóng sụp đổ trước sức mạnh của quân đội Cách mạng Pháp, buộc phải thực hiện cải cách theo hướng xã hội công dân Như nhà cải cách Hardenberg nhận định, “sức mạnh của những nguyên lý này (Cách mạng 1789) rất lớn, nhà nước nào không chấp nhận sẽ bị tiêu vong hoặc bị áp đặt phải chấp nhận.” Phổ cũng không thoát khỏi số phận đó; vào ngày 14 tháng 10 năm 1806, quân đội Phổ bị đánh bại bởi quân đội Napoleon tại Jena và Auerstedt Sau hoà ước Tilsit 1807, Phổ mất một nửa lãnh thổ, triều đình phải chạy trốn, và phần còn lại nằm dưới sự kiểm soát của quân đội chiếm đóng, đánh dấu sự kết thúc của Vương quốc 900 năm (Holy Roman Empire) chỉ trong chốc lát Quadriga trên Cổng Brandenburg, biểu tượng của Berlin, cũng bị Napoleon mang về Paris và chỉ được trả lại sau khi Phổ thắng Pháp vào năm 1870.

Một sự nhục nhã không thể nói hết cho vương quyền và cho dân tộc

Napoleon tự hào tuyên bố rằng ông đã "nghiền nát nền quân chủ Phổ", thực hiện khẩu hiệu của Voltaire: “écrasexz l’ifâme”, nghĩa là “nghiền nát sự sỉ nhục” từ chế độ phong kiến chuyên chính Ông đã giải phóng xã hội Đức khỏi sự kìm hãm và bất lực đang đè nặng lên đất nước này.

Xã hội Đức vào thời điểm đó còn rất lạc hậu so với Anh, nơi đã trải qua cuộc cách mạng công nghiệp từ thế kỷ XVIII Trong khi nền sản xuất công nghiệp và động cơ hơi nước được áp dụng rộng rãi ở Anh, Đức vẫn chưa phát triển tương xứng trong lĩnh vực này.

Trong số 10 quốc gia có nền nông nghiệp phát triển, 85% dân số sống ở khu vực nông thôn Đức, từng là bãi chiến trường với những tàn phá nặng nề do chiến tranh, cũng góp mặt trong danh sách này.

Trong ba mươi năm (1618-1648) và các cuộc chiến tranh như Schlesien (1740-1745) và chiến tranh bảy năm (1756-1763), khu vực này bị chia cắt thành nhiều vương quốc nhỏ độc lập, chịu ảnh hưởng nặng nề từ hàng rào thuế quan và chính sách "ngăn sông cấm chợ" Tình trạng mù chữ phổ biến trong dân cư, trong khi dân số tăng mạnh từ 24,8 triệu năm 1816 lên 35,6 triệu năm 1850 và đạt 56,3 triệu vào năm 1900 Napoleon đã ra lệnh đóng cửa Đại học Halle và Jena, khiến Halle không còn thuộc Phổ Những cuộc chiến tranh của Napoleon đã làm giảm số lượng đại học châu Âu từ 143 năm 1789 xuống chỉ còn 83 năm 1815, nhằm thiết lập sự thống trị của nền giáo dục Pháp và thực hiện chế độ thực dân văn hóa.

Tình hình hiện tại đã thúc đẩy ý tưởng thành lập Đại học Berlin của các nhà cải cách Phổ, đánh dấu bước tiến quan trọng trong quá trình cải cách giáo dục, khép lại cuộc Đại Cải cách.

Sự thành lập Đại học Berlin là một bước ngoặt quan trọng trong việc hồi sinh đất nước Phổ, đánh dấu sự chuyển mình mạnh mẽ của nền tảng chính trị và tinh thần Đức.

Và công việc này được giao cho Wilhelm Von Humboldt - một nhân tài của nước Đức

Humboldt viết thư cho Thủ tướng Hardenberg để kêu gọi ủng hộ ông:

Khi đất nước đối mặt với những thách thức mới, việc thu hút sự chú ý vào các hoạt động nổi bật là rất cần thiết Nước Phổ, từng khuyến khích khai minh và khoa học, giờ đây cần tăng cường những nỗ lực này để thu hút thiện cảm từ nước ngoài Điều này không chỉ giúp tạo ra một sức mạnh tinh thần tại Đức mà còn mang lại tầm quan trọng lớn cho nhiều khía cạnh trong tương lai.

Wilhelm Von Humboldt: Cu ộc đờ i và tác ph ẩ m

1.2.1 Vài nét về tiểu sử của Wilhelm Von Humboldt

Wilhelm von Humboldt tên thật là Friedrich Wilhelm Christian Karl Ferdinand Freiherr von Humboldt, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1767 và mất

Vào ngày 8 tháng 4 năm 1835, ông sinh ra tại Potsdam, gần Berlin, trong khu vực Sanssouci dành cho các vua Phổ Từ năm 1802 đến 1808, trước khi nhậm chức cải cách đại học và giáo dục, ông giữ chức đại sứ của Phổ tại Vatican Tại đây, ông không chú trọng đến chính trị và xã hội Roma mà tập trung theo đuổi lý tưởng tân nhân văn, lấy cảm hứng từ người Hy Lạp, được các nhà cổ điển Đức tại Weimar và Jena đề xướng Ông được xem là “đối tác trẻ” của trường phái cổ điển Đức và có mối quan hệ thân thiết với các đại văn hào như Schiller và Goethe trong thời kỳ trước khi ông nhậm chức tại Roma.

Humboldt thành thạo nhiều ngôn ngữ như Latin, Hy Lạp, Hebrew và tiếng Pháp, đồng thời nhận được kiến thức từ các gia sư Hai địa điểm quan trọng trong sự phát triển tinh thần của ông là Đại học Gottingen, nơi được xem là "quê hương của sự phát triển trí tuệ" của Humboldt, và thành phố Weimar, trung tâm văn hóa của trường phái cổ điển-lãng mạn Tại Gottingen, niềm đam mê với văn minh Cổ đại của Humboldt bùng cháy mạnh mẽ, trở thành nguồn năng lượng chính cho lý thuyết giáo dục của ông Christian Gottlieb Heyne, một thầy giáo nổi bật trong lĩnh vực Cổ đại, đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Humboldt.

Wilhelm Von Humboldt và Alexander von Humboldt, hai anh em nổi bật, thể hiện những “thái cực” khác nhau trong tư duy Wilhelm tập trung vào việc khám phá chiều sâu tâm hồn con người, trong khi Alexander, một nhà thám hiểm và địa chất học, tìm hiểu thế giới tự nhiên Alexander từng mô tả Wilhelm với sự ngưỡng mộ, nhấn mạnh rằng Gottinger đã trở thành trung tâm tri thức của Đức, nơi Wilhelm tìm thấy chất liệu cho tinh thần và sự kết nối với nhiều người Cả hai anh em đều để lại dấu ấn sâu sắc trong lĩnh vực của mình.

12 một sự giáo dục được cung cấp bởi những gia sư tại gia được chọn một cách cẩn trọng

Sau khi cha qua đời vào năm 1779, hai anh em nhà Humboldt tiếp tục được mẹ giáo dục nghiêm khắc, bà đã cho họ học tại trường đại học Frankfurt và sau đó là đại học Göttingen, nơi họ được tiếp xúc với bầu không khí trí tuệ sôi nổi cùng các học giả nổi tiếng Wilhelm hoàn thành nghiên cứu và tạm thời giữ chức vụ hành chính ở Berlin, nhưng đã từ bỏ vào năm 1791 khi kết hôn với một phụ nữ giàu có có mối quan hệ với Schiller và Goethe Không cần lo lắng về tài chính, Wilhelm đã dành hàng chục năm tiếp theo để phát triển tâm trí và khám phá bản thân Ông sống ở nhiều nơi, bao gồm khu đất của cha vợ gần Erfurt, Weimar, Jena, Dresden, và cuối cùng là khu đất gia đình ở Tegel gần Berlin, nơi ông xây dựng lại theo phong cách cổ điển và biến nó thành nơi ở yêu thích của mình.

Năm 1796, sau khi mẹ qua đời, Wilhelm và anh trai nhận được một gia sản lớn Dù phải đối mặt với chi phí cao và gia đình đang phát triển, Wilhelm quyết định sống tại Ý một thời gian Tuy nhiên, chiến tranh đã buộc gia đình ông phải chuyển đến Paris, nơi họ trải qua bốn năm từ tháng 11 năm 1797.

After the death of their father in 1779, the brothers were educated under the strict guidance of their ambitious mother, first attending the traditional university at Frankfurt an der Oder before moving to the progressive University of Göttingen, where they thrived in a vibrant intellectual environment Wilhelm completed his legal studies and briefly held a government position in Berlin, which he left in 1791 upon marrying a wealthy woman connected to Schiller and Goethe Meanwhile, Humboldt, who never needed to work, spent the next twelve years cultivating his intellect and exploring his individuality He lived in various locations, including his father-in-law's estate near Erfurt, Weimar and Jena to be near Goethe and Schiller, Dresden, and finally, he meticulously rebuilt his family estate at Tegel near Berlin, making it his primary residence.

Vào mùa hè năm 1801, Paris trở thành trung tâm của thế kỷ XIX, thu hút nhiều nhà thơ, học giả, nhà văn và nhà khoa học từ khắp Châu Âu, trong đó có Wordsworth Trải nghiệm tại Paris đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng của Humboldt, người đã viết rằng nơi đây mở ra một kỷ nguyên mới trong suy nghĩ của ông Dù không đồng ý với một người bạn định rời Paris, Humboldt vẫn khẳng định rằng Paris luôn thú vị và đáng quay lại Sau khi trở về Berlin vào mùa thu năm 1801, ông đã viết thư về tình hình gia đình mình Chỉ một năm sau, gia đình ông chuyển đến Rome, nơi Humboldt sống cho đến năm 1808 Tuy nhiên, ông đã được gọi trở lại Đức và dành nhiều thời gian cho dịch vụ công cộng, trong khi vẫn duy trì nghiên cứu của mình Từ năm 1809-10, ông giữ chức Trưởng bộ phận giáo dục của Bộ Nội vụ, có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến nền giáo dục.

In 1796, the death of their mother resulted in significant inheritances for her two sons Despite facing considerable expenses and a growing family, Wilhelm chose to temporarily reside in Italy However, due to war, they redirected their journey to Paris, where they lived for four years from November 1797 until the summer of 1801.

During the transformative years of the nineteenth century, Paris emerged as a vibrant cultural capital, attracting poets, scholars, writers, and scientists from across Europe, including Wordsworth Humboldt, deeply influenced by his time in Paris, expressed in his letters that this experience marked a significant shift in his thinking He acknowledged the city's allure despite its challenges, urging a friend not to leave, as he believed Paris was far more significant than Berlin After returning to Berlin in the fall of 1801, Humboldt informed a correspondent about a scarlet fever outbreak in Tegel, which compelled his family to stay in their town house in Berlin.

Wilhelm von Humboldt là một nhân vật quan trọng trong việc thiết lập hệ thống giáo dục ở Đức, đặc biệt là việc thành lập các trường đại học mới ở Berlin, điều này đã góp phần vào việc thể chế hóa kiến thức và giáo dục Đây được coi là thành tựu nổi bật nhất trong cuộc đời ông Sau đó, Humboldt tham gia vào các cuộc đàm phán phức tạp, đặc biệt là tại Đại hội Vienna sau sự sụp đổ của đế chế Napoleon Từ năm 1817 đến 1818, ông đã làm đại sứ tại Toà án Saint James ở London, trước khi trở lại phục vụ chính phủ Berlin cho đến cuối năm 1819, khi ông bị thả ra do mâu thuẫn về chính sách.

Wilhelm Von Humboldt qua đời vào đầu tháng 4 năm 1835 tại Tegel Ông lớn lên trong bầu không khí của thời kỳ Khai sáng, nhưng khi bước vào tuổi thanh niên, ông đã phát triển thành một nhân vật mang đậm tinh thần nhân văn và lãng mạn của thời Hậu khai sáng.

1.2.2 Các tác phẩm của Wilhelm Von Humboldt

 “Socrates và Plato về Thần học” (“Socrates and Plato on the Divine”) (orig Sokrates und Platon über die Gottheit) 1787-1790

 “Giới hạn hành động của nhà nước” (“On the Limits of State Action”, first seen in 1792 Ideen zu einem Versuch, die Grenzen der

4 “After barely a year in Berlin, the growing family now travelled to Rome, where Humboldt remained until

In 1808, a Prussian resident accredited to the Vatican experienced a period of leisure that allowed for intensified language study, particularly American Indian languages, thanks to grammars brought by his brother from Jesuit missions However, his return to Germany marked the beginning of a busy decade in public service, during which he served as the director of the education section in the Ministry of the Interior from 1809 to 1810, significantly influencing educational aims and organization beyond Germany He was instrumental in founding the new University of Berlin, a pivotal achievement in his public life that shaped modern education Following his involvement in post-Napoleonic negotiations, he served as ambassador to London in 1817-18 before returning to Berlin until 1819 After leaving government service, he enjoyed a private life at Tegel, dedicating himself once again to his passion for languages and self-education until his death in 1835.

Wirksamkeit des Staates zu bestimmen, page ii Published by E Trewendt,

 ĩber mọnnliche und weibliche Form 1795

 “Đề cương của Nhân học so sánh” (“Outline of a Comparative Anthropology”) (orig Plan einer vergleichenden Anthropologie) 1797

 “Thế kỉ thứ mười tám” (“The Eighteenth Century”) (orig Das achtzehnte Jahrhundert) 1797

 Ästhetische Versuche I - ĩber Goethe's Hermann und Dorothea 1799

 Geschichte des Verfalls und Untergangs der griechischen Freistaaten

 Pindars "Olympische Oden" Translation from Greek, 1816

 Aischylos' "Agamemnon" Translation from Greek, 1816

 ĩber das vergleichende Sprachstudium in Beziehung auf die verschiedenen Epochen der Sprachentwicklung 1820

 ĩber die Aufgabe des Geschichtsschreibers 1821

Research on the early inhabitants of Spain has been significantly enhanced through the study of the Basque language This exploration, originally titled "Prüfung der Untersuchungen über die Urbewohner Hispaniens vermittelst der vaskischen Sprache," was published in 1821 The findings highlight the importance of linguistic analysis in understanding the historical context and cultural heritage of Spain's original residents.

 ĩber die Entstehung der grammatischen Formen und ihren Einfluss auf die Ideenentwicklung 1822

 “Viết và mối quan hệ của nó với Nói” (“Upon Writing and its Relation to Speech”) (orig ĩber die Buchstabenschrift und ihren Zusammenhang mit dem Sprachbau) 1824

 “Những ngôn ngữ của các vùng biển Nam” (“On the languages of the South Seas”) (orig ĩber die Sprache der Sỹdseeinseln) 1828

 “Schiller và con đường của sự phát triển tâm linh” (“On Schiller and the Path of Spiritual Development”) (orig ĩber Schiller und den Gang seiner

 Rezension von Goethes Zweitem rửmischem Aufenthalt 1830

The diversity of human language structures significantly impacts the intellectual development of humanity This heterogeneity not only reflects cultural variations but also shapes cognitive processes and communication styles Understanding these linguistic differences can enhance our appreciation of human thought and creativity, ultimately contributing to a richer intellectual landscape.

1836 Phiên bản mới: “On Language On the Diversity of Human Language Construction and Its Influence on the Mental Development of the Human

Species, Cambridge University Press, 2nd rev edition 1999”

Năm 24 tuổi, Wilhelm Von Humboldt viết tác phẩm “The Limits of State Action” hay dịch ra tiếng Việt là “Giới hạn hành động của nhà nước” bàn về nhà nước và sự phát triển, tự hoàn thiện của nhân cách con người Ở tác phẩm này ông đã đặt nền móng chi những ý tưởng giáo dục và cuộc cải cách giáo dục mười năm sau Tác phẩm này được dịch sang tiếng Anh lần đầu tiên năm 1854 dưới tên “Khu vực và những nhiệm vụ của chính phủ” (“The Sphere and Duties of Government”) do Joseph Coulthard thực hiện, và cũng thông qua tác phẩm này, được John Stuart Mill trích dẫn trong tác phẩm “Bàn về tự do” của mình Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng bản dịch tiếng Anh của J W Burrow được xuất bản năm 1969 của Cambridge University Press

Nh ữ ng ti ền đề ra đờ i tri ế t h ọ c giáo d ục đạ i h ọ c c ủ a Wilhelm Von

1.3.1 Tư tưởng chính trị của John Locke

John Locke (1632 – 1704) là một triết gia nổi tiếng, sinh ngày 29 tháng 8 năm 1632 tại Wrington, Somerset Ông lớn lên trong một gia đình Thanh giáo, là con trai của một chủ đất nhỏ và luật sư tham gia Nội chiến bên phe Cromwell Năm 1646, Locke theo học tại trường Westminster ở London và tiếp tục học tại Christ Church, Đại học Oxford từ năm 1652 Ông nhận bằng cử nhân vào năm 1656 và thạc sĩ năm 1658, sau đó trở thành giảng viên tại trường này từ năm 1660 Trong thời gian tại Oxford, Locke cũng phát triển niềm đam mê với khoa học thực nghiệm và trở thành hội viên Hội Hoàng gia vào năm 1668.

Năm 1666, ông làm thư ký cho Huân tước toàn quyền Carolinas, Huân tước Ashley tức Bá tước Shaftesbury Ashley đã thuyết phục vua Charles

Sau khi thành lập Ban Thương mại và Thuộc địa, Locke trở thành thư ký của ban này Năm 1674, khi Shaftesbury rời chính trường, Locke quay lại Đại học Oxford để lấy bằng cử nhân Y học và giấy phép hành nghề, rồi sau đó sang miền Nam nước Pháp Khi Shaftesbury trở lại chính trị năm 1679, Locke cũng về Anh nhưng do lo sợ bị nghi ngờ liên quan đến âm mưu ám sát vua, ông quyết định sang Hà Lan năm 1683 Tại đây, ông viết "Lá thư về lòng khoan dung" bằng tiếng Latinh và hoàn thành tác phẩm "Luận về sự hiểu biết của con người" trước khi rời Hà Lan vào tháng 2 năm 1689.

Cuộc Cách mạng Vinh quang năm 1688đã đánh dấu một bước ngoặt không chỉ của nước Anh, mà với cả Locke Ông trở lại Anh trên chiếc tàu chở

Nữ hoàng Mary trở về nước để cùng chồng quản lý vương quốc, trong khi ông xuất bản các tác phẩm quan trọng như “Luận về sự hiểu biết của con người” và “Hai chuyên luận về nhà nước” Tác phẩm “Lá thư về lòng khoan dung” cũng được dịch từ tiếng Latinh sang tiếng Anh Sau đó, ông có mối quan hệ thân thiết với Quý bà Masham và sống tại Oates, Essex, nơi ông viết nhiều thư từ và tranh luận để bảo vệ các tác phẩm của mình, đồng thời cho ra mắt các cuốn sách “Tính hợp lý của Kitô giáo” và “Một số suy nghĩ về giáo dục”.

Từ năm 1696 đến 1700, John Locke tham gia vào Ban Thương mại và Thuộc địa, nơi quản lý các vấn đề liên quan đến Mỹ trước Cách mạng Mỹ Sau khi về hưu, ông sống những ngày cuối đời tại Oates và qua đời vào ngày 28 tháng 10 năm 1704 Là một triết gia theo chủ nghĩa kinh nghiệm Anh, Locke phát triển lý thuyết về khế ước xã hội và vai trò của nó trong chức năng và nguồn gốc nhà nước Ông đấu tranh chống lại chủ nghĩa chuyên chế và có những đóng góp lớn cho chủ nghĩa tự do, khuyến khích con người sử dụng lý trí để tìm kiếm chân lý Locke tách biệt các chức năng chính đáng và không chính đáng của nhà nước và nhà thờ, từ đó định nghĩa cách sử dụng bạo lực của các thể chế này Những khái niệm về quyền tự nhiên và khế ước xã hội của ông đã khiến ông trở thành một nhà tư tưởng lớn của phong trào Khai sáng, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc Cách mạng Mỹ và bản Tuyên ngôn Độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Lý thuyết quyền tự nhiên và khế ước xã hội là nền tảng quan trọng trong quan điểm của Locke về nhà nước và tổ chức nhà nước Quyền tự nhiên được hiểu là quyền mưu cầu sinh tồn của con người, trong đó tài sản đóng vai trò thiết yếu trong việc bảo vệ và phát triển cuộc sống cá nhân.

Quyền sở hữu tài sản là quyền tự nhiên, được hình thành từ lao động Chính lao động tạo ra giá trị cho tài sản, và tài sản tồn tại trước cả sự hình thành của nhà nước Do đó, nhà nước không có quyền can thiệp vào quyền sở hữu tài sản của cá nhân.

Lao động tạo ra của cải, nhưng việc tích lũy của cải bị giới hạn bởi khả năng sản xuất và tiêu thụ của con người Để giải quyết vấn đề này, lưu thông tiền tệ là cần thiết, vì tiền tệ giúp tích lũy mà không bị lãng phí như khi tích lũy hàng hóa Bất bình đẳng xuất phát từ thỏa thuận ngầm trong việc sử dụng tiền tệ, không phải từ khế ước xã hội hay luật lệ về quyền sở hữu đất đai Mặc dù ông nhận thức được vấn đề từ việc tích lũy không có giới hạn, ông chỉ ám chỉ rằng chính quyền cần điều hòa mâu thuẫn giữa tích lũy và phân phối của cải một cách bình đẳng, mà chưa đề cập đến các nguyên tắc cụ thể để giải quyết vấn đề này.

Nguồn gốc của thể chế nhà nước không chỉ đến từ nhu cầu kinh tế, mà còn từ quan niệm về sự bình đẳng và độc lập trong trạng thái tự nhiên của con người Theo Hobbes và Locke, mọi người đều có quyền trừng phạt kẻ vi phạm, dẫn đến việc hình thành xã hội văn minh khi con người giao một số chức năng cho các quan chức nhằm quản trị tốt hơn Nhà nước ra đời từ khế ước xã hội, với quyền lực có giới hạn và nghĩa vụ đối với người dân Đồng thời, quyền lực của nhà nước có thể được thay đổi bởi chính người dân, những người đã trao quyền cho nhà nước.

Locke cho rằng con người vốn ích kỷ và đầy ham muốn, vì vậy ngay cả trong trạng thái tự nhiên trước khi có nhà nước, họ đã tự cho mình quyền xét xử và trừng phạt để duy trì luật tự nhiên Sự ra đời của xã hội văn minh và thể chế nhà nước là kết quả của khế ước xã hội, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự phát triển của nhân loại.

Một nhà nước, dù là chuyên chế hay dân chủ, cần tuân thủ các nguyên tắc của khế ước xã hội để tồn tại Chính quyền dân sự có trách nhiệm bảo vệ quyền tự nhiên của công dân, bao gồm quyền sống, tự do, sức khỏe và tài sản Quyền hạn của nhà nước truyền ngôi là hạn chế, trong khi quyền hạn chính trị được xây dựng từ quyền của cá nhân nhằm thực hiện luật tự nhiên Ngược lại, quyền độc tài lạm dụng quyền của người khác để củng cố sức mạnh của mình.

Theo quan điểm của Locke về khế ước xã hội, nhà nước không nên có quá nhiều quyền lực để tránh sự áp bức đối với người dân Ông cảnh báo về nguy cơ của quyền lực tuyệt đối và độc tài, dù là do một cá nhân hay một nhóm người nắm giữ Nhà nước lý tưởng phải có quyền lực được phân chia thành các nhánh khác nhau, mỗi nhánh có quyền hạn riêng để thực hiện chức năng của mình Locke nhấn mạnh tầm quan trọng của một hệ thống xét xử độc lập, với quyết định chỉ dựa trên hiến pháp quốc gia Ông xác định rằng trách nhiệm lập pháp thuộc về quốc hội, trong khi nhà vua thực hiện vai trò chấp pháp tối cao Để duy trì trật tự xã hội, sự đồng thuận của người dân là cần thiết, và Locke cho rằng quyết định nên dựa trên ý kiến của đa số Ông cũng khẳng định rằng quyền lập pháp, liên quan đến việc quyết định trật tự xã hội và phúc lợi chung thông qua luật lệ về tài sản, là yếu tố quan trọng hơn cơ cấu nhà nước.

Luật lệ được thiết lập sẽ được duy trì lâu dài, do đó cơ quan lập pháp không cần họp thường xuyên Tuy nhiên, nhánh hành pháp, chịu trách nhiệm thực thi pháp luật, cần hoạt động liên tục trong xã hội Chức năng hành pháp được thực hiện bởi các quan chức và bộ trưởng, những người nhận quyền lực từ nhánh lập pháp Khi nhánh lập pháp ngừng họp, cơ quan hành pháp có quyền xử lý các tình huống khẩn cấp mà chưa có luật lệ quy định.

Locke cảnh báo rằng việc lạm dụng quyền lực có thể gây ra sự bất ổn và đe dọa trật tự quốc gia Khi đó, một khế ước xã hội mới sẽ hình thành để đảm bảo thực hiện quyền phán xét tối cao theo luật tự nhiên, dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu xã hội.

Quan điểm của Locke về sự ra đời của nhà nước là một đóng góp quan trọng cho lý thuyết khế ước xã hội, và một thế kỷ sau, Jean Jacques Rousseau đã phát triển ý tưởng này trong tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội” Rousseau cho rằng khi tham gia khế ước xã hội, con người đánh đổi tự do tự nhiên và quyền hạn chế hành động của mình để đổi lấy quyền tự do dân sự và quyền sở hữu Sự gia nhập khế ước xã hội cho phép con người từ bỏ những gì thuộc về trạng thái tự nhiên để đạt được sự bảo vệ tốt hơn cho bản thân, trong đó sức mạnh cá nhân bị thay thế bởi sức mạnh chung của cộng đồng.

John Locke được xem là người khởi thảo cho học thuyết phân quyền, với những nhận định lý luận về nguồn gốc của chính quyền và mối quan hệ giữa xã hội dân sự và xã hội chính trị Trước Locke, Hobbes mô tả nhà nước như một con quái vật khổng lồ với quyền lực tối cao và bất khả chiến bại, cho rằng nhân dân chuyển giao toàn bộ quyền lực cho nhà nước, dẫn đến quyền lực nhà nước là bất khả phân.

NHỮ NG N ỘI DUNG CƠ BẢ N, GIÁ TR Ị VÀ H Ạ N CH Ế

Nh ữ ng n ề n t ảng cho tư tưở ng tri ế t h ọ c giáo d ục đạ i h ọ c khai phóng

2.1.1 Tư tưởng nhân học của Humboldt

Theo Wilhelm Von Humboldt, dạy cho những đầu óc ấu thơ tinh thần

Hy Lạp không phải là một giấc mơ lý tưởng hóa quá khứ, mà là tinh thần gần gũi với lý tưởng đào luyện con người Tinh thần này tránh xa ba cực đoan: văn hóa La Mã áp bức cá nhân, tín ngưỡng Kito giáo đè nén nhục cảm, và sự cuồng nhiệt của công nghệ hiện đại Ông đồng cảm với lý tưởng nhân bản của Schiller, Goethe, Herder, Winckelmann về con người “toàn diện”, thể hiện sự thống nhất giữa thể xác và tâm hồn, lý trí và nhục cảm, nghĩa vụ và xu hướng, giữa thế giới và cá nhân, với quan niệm “Sống đã đành, còn phải sống đẹp”.

Trong thời kỳ Khai minh, nhà trường đã tiếp nhận nhiều ý tưởng mới, tuy nhiên cũng bị chỉ trích vì tính thực dụng và thiển cận Dù vậy, nhà trường vẫn đáp ứng được nhu cầu giáo dục của xã hội.

Các ông vua chuyên chế thường tìm kiếm những bề tôi trung thành thay vì những công dân có tư duy độc lập Trong bối cảnh nền tư bản mới đang hình thành, xã hội cần những người thợ chuyên môn và an phận, không phải những tâm hồn thi sĩ Friedrich Đại đế đã từng nói rõ quan điểm này.

Wilhelm Von Humboldt kiên quyết phản đối quan điểm cho rằng giáo dục ở nông thôn chỉ cần hạn chế, cho rằng chỉ cần biết đọc, viết là đủ Ông tin rằng việc học tập không chỉ giúp con người phát triển mà còn tạo ra những con người tự do thực sự, sống đẹp và có ý nghĩa.

Trong bối cảnh đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh và mọi nhu cầu tiêu dùng đều trở thành xa xỉ, ông vẫn yêu cầu học sinh học cổ văn Hy Lạp Lý do cho sự lựa chọn này là vì theo Humboldt, văn hóa Hy Lạp mang lại những giá trị tri thức và tư tưởng sâu sắc.

Lạp có khả năng vượt qua những lo âu về thực tại, chuyển mình từ những điều nhỏ bé đến những lý tưởng lớn lao, từ những khía cạnh đơn giản đến những giá trị cao quý, từ cái riêng lẻ đến toàn bộ vũ trụ, đồng thời biết lắng nghe giai điệu của tự do.

Nhân học của Humboldt hướng đến chỗ đề cao tính đa dạng của con người cà ý nghĩa đặc biệt của nó đối với sự phát triển xã hội

2.1.2 Tư tưởng của Humboldt về vai trò của nhà nước trong giáo dục đại học

Wilhelm Von Humboldt, ở tuổi 24, đã thể hiện quan điểm về vai trò của nhà nước trong tác phẩm “Limits of State Actions”, được coi là nền tảng cho cải cách giáo dục sau này của ông Trong tác phẩm “Tinh thần và cơ cấu tổ chức của các thể chế khoa học cao ở Berlin”, Humboldt cũng đề cập nhiều đến vai trò của nhà nước trong giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học.

“Giới hạn của hành động nhà nước” gồm mười sáu chương đề cập đến những trách nhiệm của nhà nước và sự tự hoàn thiện của con người

Nhà nước cần nhận thức rằng họ không thể tạo ra các hoạt động tri thức hiệu quả, mà thường chỉ gây cản trở khi can thiệp vào quá trình này.

Nhà nước cần nhận thức rằng công việc trí tuệ sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nếu không bị can thiệp Phạm vi hành động của nhà nước cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tế rằng một khung tổ chức và nguồn lực là cần thiết cho mọi hoạt động Do đó, nhà nước phải cung cấp các điều kiện và tài nguyên cần thiết cho khoa học và học bổng Tuy nhiên, cách thức mà nhà nước thực hiện việc này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến bản chất của khoa học.

Một xã hội hiện thực cần có các hình thức tổ chức và phương tiện để hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học, do đó, nhà nước có trách nhiệm cung cấp những yếu tố này Tuy nhiên, cách thức mà nhà nước cung cấp có thể ảnh hưởng tiêu cực đến bản chất của khoa học, đặc biệt khi những hình thức và phương tiện này được sử dụng cho mục đích không phù hợp Điều này có thể làm giảm giá trị tinh thần và cao quý của khoa học xuống mức thực tại vật chất thấp hèn Vì vậy, nhà nước cần xem xét sâu sắc bản chất của khoa học để khắc phục những tác hại có thể xảy ra, ngay cả khi vô tình.

Tự do học thuật có thể bị đe dọa không chỉ từ phía nhà nước mà còn từ các tổ chức trong hệ thống đang phát triển Do đó, nhà nước cần có biện pháp ngăn chặn những tác hại có thể phát sinh từ các tổ chức này.

The state must recognize that it cannot create the conditions for intellectual activity to thrive and that its intervention often has a detrimental effect To support science and scholarship effectively, the state should provide the necessary organizational framework and resources without overstepping its bounds However, the way in which these resources are allocated can compromise the integrity of intellectual pursuits, potentially reducing them to mere material concerns Therefore, it is crucial for the state to understand and respect the fundamental nature of science and scholarship to avoid inadvertently hindering their progress.

Intellectual freedom faces threats not only from the state but also from the very institutions that foster it These institutions often establish a specific perspective at their inception, leading them to resist the emergence of alternative viewpoints Therefore, it is crucial for the state to take measures to prevent potential harm that may arise from these institutional biases.

36 phương pháp để lựa chọn nhân sự cho hoạt động tri thức Các biện pháp điều chỉnh sự lựa chọn nhân sự sai sót chỉ được áp dụng khi đã phân chia toàn bộ thể chế thành các bộ phận cụ thể.

Nhà nước cần đối xử với các đại học một cách khác biệt so với các trường trung học và trường chuyên nghiệp Không nên yêu cầu các đại học thực hiện những nhiệm vụ trực tiếp liên quan đến nhà nước, mà nên tạo niềm tin rằng khi đạt được mục tiêu của mình, các đại học cũng sẽ đáp ứng được các yêu cầu của nhà nước Nhiệm vụ chính của nhà nước là tổ chức các trường học sao cho chúng có thể hòa nhập vào các thể chế khoa học cao một cách hiệu quả.

Tư tưởng giáo dục đại học của Humboldt xoay quanh từ “Bildung”

Quan ni ệ m v ề t ự do và khoa h ọc trong tư tưở ng tri ế t h ọ c giáo d ụ c đạ i h ọ c c ủ a Humboldt

Humboldt coi các thể chế khoa học cao là đỉnh cao của hệ thống giáo dục và văn hóa đạo đức của quốc gia, nơi tập hợp mọi thành tựu văn hóa Ông nhấn mạnh rằng sứ mệnh của các thể chế này là phát triển khoa học theo nghĩa sâu rộng, đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục tinh thần và đạo đức, với mục đích nội tại không cần phải tính toán trước.

“Humboldt đặt Đại học Berlin lên nền những “nguyên lý tiên đề” sau:

Khoa học là hành trình không ngừng khám phá chân lý, với cô đơn và tự do là nền tảng cho tinh thần và đạo đức trong nghiên cứu Nó không chỉ là một lĩnh vực nghiên cứu mà còn là triết lý sống của con người.

2.Tự do học tập và tự do giảng dạy phải được đảm bảo, và ra khỏi các ảnh hưởng từ mọi chi phối tôn giáo hay nhà nước

3.Thống nhất giữa nghiên cứu và giảng dạy

4 Khoa học là thể thống nhất thông qua triết học, trên nền tảng của sự đa dạng

5.Lấy khoa học để xây dựng giáo dục, và thông qua giáo dục, xây dựng nền văn hoá quốc gia, tiến đến một nhà nước văn hoá.

6 Đại học cần được tự chủ, không có sự can thiệp của nhà nước.” [3; tr 74]

Tuổi trẻ và những năm tháng học đường là kho báu quý giá nhất trong cuộc đời Hãy để thanh niên học cách làm chủ bản thân và không bao giờ trở thành nô lệ, kể cả trước nghề nghiệp và cuộc sống mưu sinh.

Chủ nghĩa tâm nhân văn, xuất phát từ truyền thống văn học cổ điển của Đức, đóng vai trò quan trọng trong cải cách giáo dục của Humboldt, với trọng tâm là giá trị của tính cá nhân.

“Tự do” theo Humboldt là quyền của mỗi con người, với khí chất là yếu tố quan trọng nhất Khí chất này thúc đẩy sự phát triển và hình thành nhân cách riêng Tư tưởng của ông nhấn mạnh vào sự phát triển nội tâm, khuyến khích con người nắm bắt cơ hội để nuôi dưỡng năng lực của mình Từ đó, năng lực này sẽ được sử dụng để phát triển thêm nhiều tiềm năng khác Tự do chính là điều kiện tiên quyết để con người có thể phát triển một cách toàn diện.

Tinh thần giáo dục khai phóng của Humboldt cốt được thể hiện qua “tự do giảng dạy” và “tự do học tập”

Tự do giảng dạy của người thầy bao gồm quyền tự do nghiên cứu và truyền đạt những kiến thức mà họ tin tưởng Để chinh phục sinh viên, người thầy cần dựa vào phẩm chất và năng lực nghiên cứu của mình, cùng với kết quả từ sự lao động kiên trì và kiểm chứng nghiêm ngặt, thay vì chấp nhận những giả thuyết chưa được kiểm chứng hay áp đặt quyền lực Nếu người thầy không còn tự do trong giảng dạy, sinh viên cũng sẽ mất đi quyền tự do trong việc học tập.

Sinh viên cần có tự do trong việc học tập và lựa chọn con đường trưởng thành của riêng mình, không nên bị dẫn dắt như trẻ nhỏ Mục đích của đại học là đánh thức một cuộc sống mới và tinh thần khoa học trong thanh niên Dù có thể có những lầm lạc, nhưng chấp nhận rủi ro là cần thiết để phát triển những con người độc lập Một người trẻ đi sai đường của chính mình vẫn có giá trị hơn những người đi đúng trên con đường không phải của họ.

Theo Humboldt, khoa học là nền tảng quan trọng, vì khi được thực hiện một cách trung thực và thích đáng, nó sẽ dẫn đến những hiểu biết sâu sắc, mặc dù có thể có những sai lầm nhất định Nhận thức khoa học cần hướng tới cái toàn thể của vũ trụ và con người, nhằm khám phá ý nghĩa toàn diện của sự tồn tại và chân lý.

Ông nhấn mạnh rằng khoa học cần được xem như một lĩnh vực chưa hoàn thiện, đòi hỏi sự tìm kiếm không ngừng Khi con người ngừng theo đuổi tri thức khoa học hoặc coi đó chỉ là việc thu thập thông tin, thì sẽ dẫn đến mất mát không thể cứu vãn cho cả khoa học và nhà nước Khoa học, xuất phát từ chiều sâu nội tâm, có khả năng biến đổi tính cách, điều này quan trọng hơn kiến thức và lời nói Do đó, khoa học trở thành động lực nội tại cho các hoạt động nghiên cứu.

Quan ni ệ m v ề chân lý và giáo d ụ c trong tri ế t h ọ c giáo d ục đạ i h ọ c của Humboldt

Khoa học đóng vai trò then chốt trong các hoạt động nghiên cứu, khiến cho các ngành học trong đại học không ngừng tìm kiếm chân lý Do đó, bản chất của đại học không chỉ là sở hữu tri thức mà còn là vươn tới khoa học Người nghiên cứu không chỉ cần nắm giữ kiến thức mà còn phải truyền đạt hiểu biết của mình cho các thế hệ sau.

Theo Humboldt, trong môi trường đại học, chân lý và chứng minh đóng vai trò tiêu chuẩn Bản chất của Đại học Berlin không chỉ là tiếp thu tri thức mà còn là tạo ra và truyền bá tri thức, thể hiện sự nhận thức sâu sắc về giá trị của việc học.

Nguyên lý nền tảng của đại học Humboldt nhấn mạnh rằng khoa học và chân lý là mục tiêu cần được theo đuổi liên tục Đại học cần bảo đảm tự do trong giảng dạy và học tập, đồng thời thực hiện sự thống nhất giữa nghiên cứu và giảng dạy Khoa học phải dựa trên sự đa dạng để phát triển bền vững.

Để xây dựng một nền giáo dục vững chắc dựa trên khoa học, cần thống nhất triết lý giáo dục, từ đó phát triển nền văn hóa quốc gia và một nhà nước văn hóa Một người thầy giỏi không chỉ cần có năng lực giảng dạy mà còn phải là người nghiên cứu xuất sắc.

Đại học Berlin, được hình thành dưới ảnh hưởng của Immanuel Kant, là biểu tượng của lý trí và tinh thần nhân văn Đây là nơi tập trung vào khoa học và nghiên cứu, kết hợp giữa giảng dạy và nghiên cứu, đồng thời bảo vệ tự do học thuật Mục tiêu cao nhất của đại học này là khám phá chân lý mà không bị sự can thiệp của nhà nước, nhằm phát triển con người một cách toàn diện và thúc đẩy sự tìm kiếm khoa học, như Humboldt đã từng quan niệm về chân lý.

Giáo dục là quá trình phát triển toàn diện các thiên phú của con người một cách hài hòa, nhằm hình thành nên một nhân cách độc đáo Trong bối cảnh chủ nghĩa tân nhân văn, các yếu tố quan trọng bao gồm tính cá nhân, tính toàn thể và tính phổ quát, đều góp phần vào việc xây dựng một con người hoàn thiện.

Giáo dục được xem là cứu cánh tự thân và mang giá trị nhân văn cao nhất, vì vậy nó cần phải phát triển cùng với sự tiến bộ của nền kinh tế Câu hỏi đặt ra là: "Chế tạo ra một mảnh sắt tốt có ích gì nếu tâm hồn tôi vẫn đầy những cặn gỉ sắt? Và việc đưa đất nước vào một trật tự tốt có giá trị gì nếu tâm hồn tôi không hòa điệu với chính mình?"

Việc dạy học không chỉ đơn thuần là truyền đạt kiến thức từ sách vở mà còn là hướng dẫn sinh viên khám phá những điều mới mẻ Trong khi các bài giảng của giáo sư mang tính chất giảng dạy, thì seminar lại tạo điều kiện cho sự tranh luận và giao tiếp gần gũi giữa giáo sư và sinh viên Trong quá trình tìm kiếm chân lý khoa học, thầy và trò trở thành một thể thống nhất, nơi giáo sư không chỉ là người dạy mà còn là người hướng dẫn và hỗ trợ sinh viên trong nghiên cứu Giáo dục đại học giúp sinh viên hiểu sâu sắc sự thống nhất của tri thức hàn lâm và phát triển nó, đồng thời khuyến khích khả năng sáng tạo, vì việc hiểu biết tri thức hàn lâm cũng là một hành động sáng tạo.

Ở đại học, việc khám phá tri thức hàn lâm đòi hỏi sự tự do và đôi khi là sự cô đơn, điều này tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc hiểu sâu sắc về khoa học thuần túy Từ đó, cơ cấu tổ chức của các đại học được hình thành dựa trên hai yếu tố này.

2.4 Những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học giáo dục đại học của Wilhelm Von Humboldt

Vào thời điểm Humboldt đảm nhận chức vụ cải cách giáo dục, nhà nước

Humboldt đã phản đối sự chuyên quyền trong giáo dục, nhằm ngăn chặn việc lạm dụng giáo dục để đào tạo những thần dân vâng lời Ông đề xuất tự do học thuật và xây dựng một cấu trúc giáo dục mới, xoá bỏ hệ thống trường học phân cấp Mỗi cấp học có nhiệm vụ riêng: cấp một khuyến khích sự hứng thú với việc học, cấp hai cung cấp kiến thức cơ bản, và cấp ba chuẩn bị cho cuộc sống Humboldt kiên quyết không cho phép đại học trở thành cấp học cuối cùng.

4, nó phải là với chức năng chính là nghiên cứu và đào tạo tri thức)

Tư tưởng triết học giáo dục đại học khai phóng của ông được thể hiện rõ nét qua mô hình Đại học Humboldt tại Berlin Ba đặc điểm nổi bật trong tư tưởng giáo dục đại học khai phóng của ông bao gồm sự kết hợp giữa nghiên cứu và giảng dạy, sự tự do học thuật, và sự phát triển toàn diện của sinh viên.

Trường đại học là môi trường thuần túy của khoa học và nghiên cứu, hoạt động độc lập mà không chịu ảnh hưởng từ bất kỳ thế lực bên ngoài nào, bao gồm cả nhà nước, dựa trên nguyên tắc tự do học thuật.

Trường đại học cần đảm bảo sự kết nối chặt chẽ giữa nghiên cứu và giảng dạy, nơi mà giảng viên truyền đạt kiến thức dựa trên nghiên cứu và niềm tin cá nhân Trong môi trường học thuật, không có chỗ cho sự áp đặt chân lý hay độc quyền tư tưởng Mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên nên được xây dựng trên sự gắn bó, kết hợp giữa sự trưởng thành trong nghiên cứu của giảng viên và tư duy cởi mở, sáng tạo của sinh viên, mặc dù họ còn non trẻ trong kiến thức.

Quyền tự do khoa học và quyền tự trị cho đội ngũ giảng viên, bao gồm quản lý nhân sự, tài chính và quy mô đào tạo, là những yếu tố quan trọng trong triết học giáo dục Ông nhấn mạnh rằng con người là sinh vật luôn nỗ lực và học tập suốt đời, do đó, quá trình tự rèn luyện và phát triển "Bildung" là một hành trình không bao giờ kết thúc.

Đại học Humboldt, hay còn gọi là Đại học Berlin, được xem như là "Bà Mẹ" của nền giáo dục đại học hiện đại trên toàn thế giới Ảnh hưởng của trường không chỉ lan tỏa khắp châu Âu mà còn đến Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác, hình thành nên những nguyên tắc và giá trị cốt lõi của giáo dục đại học ngày nay.

Nhật Bản, châu Á, đều mang dòng máu này trong người

Ngày đăng: 24/07/2021, 19:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Tr ọng Báu (2008), “Nhìn lạ i hai cu ộ c c ả i cách giáo d ụ c (1906 và 1917) ở Vi ệt Nam đầ u th ế k ỉ XX”, Tạ p chí Nghiên c ứ u l ị ch s ử , s ố 5(385)- 200, tr. 11 - 24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại hai cuộc cải cách giáo dục (1906 và 1917) ở Việt Nam đầu thế kỉ XX”, Tạp chí "Nghiên cứu lịch sử
Tác giả: Phan Tr ọng Báu
Năm: 2008
2. Viên Qu ố c Ch ấ n (2001), Lu ậ n v ề c ả i cách giáo d ụ c, Nxb Giáo d ụ c, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận về cải cách giáo dục
Tác giả: Viên Qu ố c Ch ấ n
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
3. Ngô B ả o Châu, Pierre Darriulat, Cao Huy Thu ầ n, Hoàng T ụ y, Nguy ễ n Xuân Xanh, Ph ạ m Xuân Yêm (2010), Festschrift - K ỷ y ếu Đạ i h ọ c Humboldt 200 năm (1810 -2010), Kinh nghi ệ m th ế gi ớ i và Vi ệ t Nam, Nxb Tri th ứ c, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Festschrift - Kỷ yếu Đại học Humboldt 200 năm (1810-2010), Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam
Tác giả: Ngô B ả o Châu, Pierre Darriulat, Cao Huy Thu ầ n, Hoàng T ụ y, Nguy ễ n Xuân Xanh, Ph ạ m Xuân Yêm
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2010
5. Ph ạm Văn Đồ ng, Nguy ễ n C ả nh Toàn, Nguy ễ n K ỳ (1998), T ự h ọ c, t ự đào tạo tư tưở ng chi ến lượ c phát tri ể n c ủ a phát tri ể n giáo d ụ c Vi ệ t Nam, Nxb Giáo d ụ c, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học, tựđào tạo tư tưởng chiến lược phát triển của phát triển giáo dục Việt Nam
Tác giả: Ph ạm Văn Đồ ng, Nguy ễ n C ả nh Toàn, Nguy ễ n K ỳ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
6. Tr ần Khánh Đứ c (2010), Giáo d ụ c và phát tri ể n ngu ồ n nhân l ự c trong th ế k ỷ XXI, Nxb Giáo d ụ c, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI
Tác giả: Tr ần Khánh Đứ c
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
7. Tr ần Văn Giàu (1993), S ự phát tri ể n c ủa tư tưở ng Vi ệ t Nam t ừ th ế k ỉ XIX đế n cách m ạ ng tháng Tám, t ậ p 1, Nxb Khoa h ọ c xã h ộ i, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỉXIX đến cách mạng tháng Tám
Tác giả: Tr ần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
8. Tr ần Văn Giàu (1993), S ự phát tri ể n c ủa tư tưở ng Vi ệ t Nam t ừ th ế k ỉ X IX đế n cách m ạ ng tháng Tám, t ậ p 2, Nxb Khoa h ọ c xã h ộ i, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỉXIX đến cách mạng tháng Tám
Tác giả: Tr ần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
9. Tr ần Văn Giàu (1993), S ự phát tri ể n c ủa tư tưở ng Vi ệ t Nam t ừ th ế k ỉ XIX đế n cách m ạ ng tháng Tám, t ậ p 3, Nxb Khoa h ọ c xã h ộ i, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỉXIX đến cách mạng tháng Tám
Tác giả: Tr ần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1993
10. Ph ạ m Minh H ạ c (2011), Tri ế t lý giáo d ụ c th ế gi ớ i và Vi ệ t Nam, Nxb Giáo d ụ c, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết lý giáo dục thế giới và Việt Nam
Tác giả: Ph ạ m Minh H ạ c
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2011
11. Nguy ễn Vũ Hả o (2016), Quan ni ệ m v ề con ngườ i trong m ộ t s ố trào lưu triế t h ọc phương Tây hiện đạ i, Nxb Th ế gi ớ i, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về con người trong một số trào lưu triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Nguy ễn Vũ Hả o
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2016
13. Đặng Thành Hưng (2006), “Mộ t cách hi ể u v ề tri ế t h ọ c giáo d ục”, T ạ p chí Khoa h ọ c Giáo d ụ c, s ố 14, tr. 8-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một cách hiểu về triết học giáo dục”, Tạp chí" Khoa học Giáo dụ
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Năm: 2006
14. Vũ Đình Hoè (1946), M ộ t n ề n giáo d ụ c bình dân , Nxb Đạ i La, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một nền giáo dục bình dân
Tác giả: Vũ Đình Hoè
Nhà XB: Nxb Đại La
Năm: 1946
15. H ộ i khuy ế n h ọ c Vi ệ t Nam (1999), Đạ i h ội đạ i bi ể u l ầ n th ứ 2, Nxb Khoa h ọ c Xã h ộ i, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại hội đại biểu lần thứ 2
Tác giả: H ộ i khuy ế n h ọ c Vi ệ t Nam
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
16. Bùi Minh Hi ề n (2005), L ị ch s ử Giáo d ụ c Vi ệ t Nam , Nxb Đạ i h ọc sư ph ạ m, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Giáo dục Việt Nam
Tác giả: Bùi Minh Hi ề n
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2005
17. Vũ Ngọ c Khánh (1985), Tìm hi ể u v ề n ề n giáo d ụ c Vi ệt Nam trướ c 1945, Nxb Giáo d ụ c, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về nền giáo dục Việt Nam trước 1945
Tác giả: Vũ Ngọ c Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1985
18. Đặ ng Bá Lãm, Nguy ễ n Quang Thái, Ph ạ m T ấ t Dong (1998), Nh ữ ng v ấn đề v ề chi ến lượ c phát tri ể n giáo d ụ c trong th ờ i k ỳ công nghi ệ p hoá, hi ệ n đạ i hoá, Nxb Giáo d ụ c, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề về chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Đặ ng Bá Lãm, Nguy ễ n Quang Thái, Ph ạ m T ấ t Dong
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
19. Nguy ễ n Lân (1958), L ị ch s ử giáo d ụ c h ọ c th ế gi ớ i, Nxb Giáo d ụ c, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử giáo dục học thế giới
Tác giả: Nguy ễ n Lân
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1958
21. Nh ữ ng v ấn đề giáo d ụ c hi ệ n nay- Quan điể m và Gi ả i pháp (2008), Nxb Tri th ứ c, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề giáo dục hiện nay- Quan điểm và Giải pháp
Tác giả: Nh ữ ng v ấn đề giáo d ụ c hi ệ n nay- Quan điể m và Gi ả i pháp
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2008
22. Vũ Dương Ninh (1999), L ị ch s ử văn minh thế gi ớ i, Nxb Chính tr ị qu ố c gia, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn minh thế giới
Tác giả: Vũ Dương Ninh
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 1999
23. Vũ Dương Ninh - Nguy ễn Văn Hồ ng (2015), L ị ch s ử th ế gi ớ i c ậ n đạ i, Nxb Giáo d ụ c Vi ệ t Nam, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cận đại
Tác giả: Vũ Dương Ninh - Nguy ễn Văn Hồ ng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w