ỨNG DỤNG CỦA PROTEIN TRONG CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM TRONG HÓA SINH THỰC PHẨM Potein là một trong những thành phần quan trọng của thực phẩm cung cấp những tiền chất cho quá trình sinh tổng hợp protein của cơ thể. Protein đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành nên những tính chất đặc trưng riêng của sản phẩm, vì nhiều sản phẩm thực phẩm có thành phần protein rất cao. Protein tham gia hình thành nên cấu trúc, mùi vị, trạng thái của thực phẩm. Protein có khả năng tham gia vào các quá trình tạo gel, tạo màng, tạo bột nhão, tạo bọt, tạo nhũ hóa và cố định mùi trong các thực phẩm.
Trang 1Chào mừng thầy và các bạn đến với bài thuyết
trình của nhóm
ỨNG DỤNG CỦA PROTEIN TRONG
CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
Thàh viên
1 .
Trang 2Giới thiệu chung
Potein là một trong những thành phần quan trọng của thực phẩm cung cấp những tiền chất cho quá trình sinh tổng hợp protein của cơ thể
Protein đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành nên những tính chất đặc trưng riêng của sản phẩm, vì nhiều sản phẩm thực phẩm có thành phần protein rất cao
Protein tham gia hình thành nên cấu trúc, mùi vị, trạng thái của thực phẩm
Protein có khả năng tham gia vào các quá trình tạo gel, tạo màng, tạo bột nhão, tạo bọt, tạo nhũ hóa và cố định mùi trong các thực phẩm
Trang 31 Khả năng tạo gel
Là sự tập hợp các phân tử bị biến tính và tạo thành một mạng lưới protein có trật tự
Các sản phẩm thực phẩm có dạng gel protein như giò, chả, phomat, bánh mì, đậu hủ,…
Trang 4 Các mạch polypeptid bị duỗi ra có thể tiếp xúc với nhau và liên kết với nhau tại các vị trí gọi là nút mạng, tạo thành dạng không gian
ba chiều hình mạng lưới
Trong đó có chứa các phân tử của pha phân tán (nước) tạo thành
một hệ đồng nhất gọi là gel.
Khi phân tử protein bị
biến tính, các cấu tạo hóa
học trước đây có thể nằm
ẩn bên trong bây giờ xuất
hiện ra ngoài
Gel
Trang 5 Tạo gel protein được sử dụng không chỉ để tạo thành các gel cứng, gel nhớt mà còn đồng thời cải thiện được tính chất hấp thụ nước, tính độ dày, cải thiện lực liên kết của các tiểu phần và để làm bền các hệ nhũ tương, hệ bọt thực phẩm
Thường gia nhiệt, hoặc tác động cơ học để phá vỡ cấu trúc bậc cao của các phân tử protein và tạo điều kiện để chúng thiết lập nên một trạng thái trật tự mới – trạng thái gel
Đậu hủ được sản xuất
từ protein đậu nành
Trang 62 Khả năng tạo bột nhão
Protein của gluten
bột mỳ có khả năng
giữ khí, cố kết, dẻo và
có thể tạo hình vì vậy
khi ra nhiệt (nướng)
sẽ tạo nên cấu trúc
xốp cho bánh mỳ
Trang 73 Khả năng tạo màng
Protein như gelatin còn có khả năng tạo màng Màng này do các gelatin tạo ra chủ yếu bằng các liên kết hidro nên có tính thuận nghịch
Các màng thu được thường mỏng, mịn, ngậm nước, có thể cuốn lại, xếp
ép hoặc cắt
Khi nhiệt độ trên 300 độ C thì tan chảy và để nguội thì tái lập
Trang 84 Khả năng nhũ hóa
• Nhũ tương là hệ phân tán của hai chất lỏng không trộn lẫn vào nhau.
•Những sản phẩm là nhũ tương như sữa, kem, bơ, mayonnaise vv
• Nhũ tương là hệ không bền, luôn có xu hướng hợp giọt để phân pha và phá vỡ cân bằng của hệ
Trang 9Các biện pháp để làm hệ nhũ tương bền
• Cho các chất điện ly vô cơ vào các giọt tích điện và đẩy nhau
• Bổ sung các chất hoạt động bề mặt có cấu trúc lưỡng cực giảm sức căng bề mặt giữa 2 pha
• Thêm các chất có phân tử lượng lớn hòa tan được trong pha liên tục giọt không hợp lại được với nhau để phân pha
• Bổ sung thêm protein vào hệ nhũ tương giữ các giọt ở trạng thái phân tán
Trang 105 Khả năng tạo bọt
• Các bóng bọt thường chứa không
khí hoặc khí CO2, áp suất bên trong
bóng bọt cao hơn bên ngoài làm
chúng dễ vỡ
Khi có mặt của protein thì chúng sẽ hấp thụ lên bề mặt liên pha (giữa pha khí và pha lỏng) sẽ làm cho màng mỏng bao quanh bóng bọt có được tính đàn hồi và không thấm khí, giữ hệ bọt bền
Trang 116 Khả năng cố định mùi
• Các protein có thể hấp phụ chất mùi hoặc liên kết với các chất mùi
• Sự hấp phụ thông thường do sự hình thành các liên kết không bền giữa chất mùi với protein
• Sự liên kết có thể xảy ra giữa các nhóm chức của các gốc axit amin với nhóm chức của gốc tạo mùi