Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng.
Đặtvấnđề
Chuỗi giá trị (CGT) là khái niệm đã được nhiều tác giả đề cập từ sớm và vẫn được áp dụng rộng rãi ngày nay CGT bao gồm các hoạt động sản xuất kinh doanh liên quan, từ cung cấp đầu vào, sản xuất, thu gom, sơ chế, chế biến đến bán sản phẩm cho người tiêu dùng (GTZ, 2007) Nghiên cứu về chuỗi giá trị có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay Kaplinsky & Morris (2001) nhấn mạnh rằng phân tích chuỗi giá trị giúp xác định sự phân phối lợi ích cho những người tham gia, từ đó phân tích lợi nhuận và lợi nhuận biên của sản phẩm trong chuỗi để nhận diện ai là người hưởng lợi và những ai có thể được hỗ trợ nhiều hơn.
Hiện nay, các nghiên cứu về CGT nông sản trong và ngoài nước được thực hiện theonhiềucáchtiếpcậnnhưphươngphápphântíchCGTtoàncầuKaplinsky&Morris
Trong phân tích chuỗi giá trị (CGT) nông sản, có nhiều phương pháp được áp dụng như phương pháp phân tích CGT của FAO (2003, 2010), phương pháp liên kết CGT ValueLink của GTZ (2007) và khung phân tích SCP (Structure-Conduct-Performance) Các nghiên cứu có thể sử dụng một hoặc kết hợp nhiều phương pháp này, tuy nhiên, việc kết hợp khung phân tích SCP với các phương pháp khác trong phân tích CGT vẫn chưa phổ biến, đặc biệt là trong lĩnh vực phân tích CGT nông sản, bao gồm cả cà phê.
Các nghiên cứu trước đây về CGT thường chỉ tập trung vào phân tích giá cả, giá trị gia tăng và lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu vào nguyên nhân của sự tăng giá qua từng tác nhân, cũng như phân tích sức mạnh thị trường để xác định tác nhân nào có quyền lực thị trường và khả năng quyết định giá trong chuỗi (Kumbhakar và cộng sự, 2012).
Trong phân tích chuỗi giá trị (CGT), thường chỉ tập trung vào các yếu tố nội tại mà ít chú trọng đến tác động của các yếu tố bên ngoài Các nghiên cứu chủ yếu sử dụng công cụ phân tích như ma trận SWOT và mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter, hoặc mô hình PEST để đưa ra giải pháp nâng cấp CGT Việc lựa chọn công cụ phân tích phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, sản phẩm của CGT và quan điểm của nhà nghiên cứu Tuy nhiên, rất ít nghiên cứu kết hợp đầy đủ ba mô hình PEST, 5 áp lực cạnh tranh và SWOT, dẫn đến việc thiếu cơ sở vững chắc cho việc đề xuất giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị nông sản.
Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới, chỉ sau Brazil, với diện tích trồng cà phê lên tới 622.637 ha và sản lượng đạt 1.683.971 tấn (FAO, 2019a) Cà phê Robusta chiếm ưu thế lớn, với 96% sản lượng và 93% diện tích canh tác (Bộ Công thương, 2020b) Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu cà phê chỉ chiếm khoảng 8,8% tổng kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp (Bộ NN&PTNT, 2017), chủ yếu do cà phê Việt Nam được xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô và chất lượng chưa cao Mặc dù Việt Nam chủ yếu trồng cà phê Robusta, thị trường thế giới lại ưa chuộng cà phê Arabica hơn Tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam đang ở khâu đáy của chuỗi, tạo ra giá trị gia tăng thấp nhất (Xuan và ctv., 2016; Linh, 2017) Chuỗi giá trị cà phê có đặc điểm là số lượng người thu mua ít, trong khi giá bán của nông hộ thường thấp và biến động.
2014), đôi khi nông hộ phải bán cà phê với giá thấp hơn giá thành sản xuất (Mehta & Chavas, 2008).
Khu vực Tây Nguyên hiện nay là nơi trồng cà phê Arabica lớn nhất Việt Nam, trong đó Lâm Đồng chiếm 37,3% diện tích cả nước với khoảng 19 nghìn ha (Bộ Công Thương, 2020b) Các giống cà phê nổi bật tại đây bao gồm Catimor, Moka, Typica và đặc biệt là Bourbon, một trong những loại cà phê thượng hạng Với độ cao trung bình trên 1.200m, khí hậu mát mẻ và thổ nhưỡng phù hợp, Lâm Đồng tạo điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của cà phê Arabica chất lượng cao UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành quyết định số 2261 về quy hoạch phát triển cà phê giai đoạn 2016-2020, với mục tiêu tăng diện tích canh tác cà phê Arabica từ 10% lên 15-20% vào năm 2020, kèm theo nhiều chương trình hỗ trợ kỹ thuật và tài chính Ngoài ra, việc canh tác cà phê Arabica tại Lâm Đồng còn nhận được sự hỗ trợ từ các dự án bền vững và chứng nhận như UTZ, 4C và FairTrade, trong đó có dự án VNSAT và KOICA từ Hàn Quốc.
Nhiều nông hộ không thể tiếp cận các kênh hỗ trợ từ nhà nước và tổ chức phi chính phủ, trong khi giá cà phê giảm mạnh và dịch bệnh gia tăng Năng suất cà phê không cao, chi phí lao động cho thu hái và chế biến ngày càng tăng, dẫn đến thu nhập và lợi nhuận của người trồng cà phê giảm sút Sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng còn lỏng lẻo, nông hộ ít quyền lực trong việc thương lượng giá cả Cà phê thường được bán qua nhiều khâu trung gian và chủ yếu là sản phẩm thô, dẫn đến giá trị gia tăng thấp.
Nhiều nông hộ trồng cà phê ở Lâm Đồng đã chuyển sang cây trồng khác như cây ăn trái hoặc rau màu do không còn hứng thú với cà phê Những hộ còn lại vẫn chưa thực sự làm giàu từ nghề trồng cà phê vì nhiều lý do khách quan và chủ quan, dẫn đến hiệu quả sản xuất giảm sút Điều này đã kìm hãm sự phát triển của chuỗi giá trị cà phê Do đó, việc nghiên cứu để tìm ra những nút thắt cản trở sự phát triển và khai thác các lợi thế chưa được sử dụng là cần thiết, nhằm nâng cao lợi nhuận cho chuỗi cà phê Arabica ở Lâm Đồng Đây là lý do để thực hiện đề tài “Phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở tỉnh Lâm Đồng” với mục tiêu nghiên cứu rõ ràng.
Mục tiêunghiêncứu
Mục tiêu chung của luận án là phân tích chuỗi giá trị (CGT) cà phê Arabica và đề xuất các giải pháp nâng cấp CGT cà phê Arabica tại tỉnh Lâm Đồng Để đạt được mục tiêu này, luận án sẽ tập trung vào một số mục tiêu cụ thể nhằm cải thiện hiệu quả và giá trị của sản phẩm cà phê Arabica trong khu vực.
(1) Phân tích cấu trúc thị trường và phân tích sức mạnh thị trường trong chuỗi giá trị cà phê Arabica tại LâmĐồng;
(2) Phân tích thực hiện thị trường cà phê Arabica tại LâmĐồng;
(3) Phân tích kết quả thị trường cà phê Arabica tại LâmĐồng;
(4) Đề xuất các giải pháp nâng cấp CGT cà phê Arabica tại LâmĐồng.
Câu hỏinghiêncứu
(1) Cấu trúc thị trường về số lượng, sức mạnh thị trường và các rào cản trong việc gianhậphoặcrútluicủacáctácnhânthamgiatrongchuỗicàphêArabicaởLâm Đồng như thế nào?
CGTvàmốiliênkếtcủacáctácnhânthamgiatrongchuỗicàphêArabicaởLâm Đồng có đặc điểmgì?
(3) Kết quả thị trường thể hiện ở các chỉ tiêu: doanh thu, chi phí, GTGT, lợi nhuận,tỷsốlợinhuận/chiphívàsựphânphốilợinhuậncủacáctácnhânthamgiatrong chuỗi cà phêArabica ở Lâm Đồng như thếnào?
Để nâng cấp chuỗi giá trị (CGT) cà phê Arabica tại Lâm Đồng, cần triển khai các giải pháp toàn diện liên quan đến sản phẩm, tối ưu hóa chi phí sản xuất, cải thiện kênh phân phối và thu hút đầu tư Đồng thời, cần chú trọng đến việc tạo ra nhiều cơ hội việc làm để phát triển bền vững cho ngành cà phê.
Phạm vinghiêncứu
Bài viết này tập trung phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica tại tỉnh Lâm Đồng Do hạn chế về kinh phí và thời gian, các dữ liệu liên quan đến các yếu tố trong chuỗi giá trị cà phê Arabica chỉ được thu thập trong niên vụ 2019-2020.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2019), Lâm Đồng là tỉnh đứng thứ hai về diện tích canh tác cà phê với gần 175 ngàn ha, chỉ sau Đắk Lắk Tuy nhiên, Lâm Đồng dẫn đầu về năng suất với gần 3 tấn/ha và chất lượng cà phê Tại đây, có hai loại cà phê chính được trồng là Robusta và Arabica Mặc dù cà phê Arabica chỉ chiếm hơn 10% tổng diện tích canh tác, nhưng đây là loại cà phê có chất lượng cao và không có khu vực nào trong cả nước sánh bằng Trên thế giới, cà phê Arabica được ưa chuộng hơn Robusta và có giá trị kinh tế cao hơn, do đó, đề tài sẽ tập trung vào phân tích chuỗi giá trị cà phê Arabica ở Lâm Đồng.
Nội dungnghiêncứu
Bài viết này sẽ phân tích cấu trúc thị trường cà phê Arabica tại Lâm Đồng, tập trung vào số lượng và quy mô của các tác nhân tham gia trong chuỗi Ngoài ra, chúng tôi sẽ xem xét sức mạnh thị trường và các rào cản đối với việc gia nhập hoặc rút lui của các tác nhân trong chuỗi cung ứng này.
Phân tích thị trường cà phê Arabica ở Lâm Đồng sẽ tập trung vào các đặc điểm và chức năng của thị trường, bao gồm các hoạt động mua bán, chế biến và vận chuyển Bài viết cũng sẽ nêu rõ những thuận lợi và khó khăn mà các tác nhân gặp phải, cùng với các kênh phân phối chính của cà phê Arabica Hơn nữa, sẽ được làm rõ mối liên kết giữa các tác nhân trong quá trình thực hiện thị trường cà phê tại khu vực này.
Bài viết này sẽ phân tích kết quả thị trường cà phê Arabica tại Lâm Đồng, tập trung vào việc tính toán các chỉ tiêu quan trọng như doanh thu, chi phí, giá trị gia tăng (GTGT), lợi nhuận và tỷ số lợi nhuận/chi phí Đồng thời, nghiên cứu cũng sẽ xem xét sự phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi cung ứng cà phê Arabica.
Đề xuất giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị (CGT) sản phẩm cà phê Arabica tại Lâm Đồng sẽ được thực hiện thông qua việc phân tích các yếu tố vi mô bằng mô hình SCP và đánh giá tác động của môi trường kinh doanh vĩ mô qua mô hình PEST Mục tiêu là xác định cơ hội và thách thức trong phân tích SWOT Đồng thời, việc áp dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter sẽ giúp nhận diện điểm mạnh và điểm yếu của các tác nhân trong chuỗi giá trị Cuối cùng, phân tích ma trận SWOT sẽ cung cấp các giải pháp và hoạt động cụ thể nhằm nâng cao CGT cà phê Arabica tại Lâm Đồng.
Tổng quan về chuỗigiátrị
Cách tiếp cận trong phân tích chuỗigiátrị
Trong phân tích chuỗi giá trị (CGT), có bốn cách tiếp cận phổ biến hiện nay: tiếp cận phân tích ngành hàng "Filière", tiếp cận của Porter (1985), tiếp cận toàn cầu và tiếp cận của GTZ (Danh, 2016) Mỗi cách tiếp cận này mang đến những góc nhìn khác nhau về việc tối ưu hóa giá trị trong chuỗi cung ứng.
2.1.1.1 Cách tiếp cận trong phân tích chuỗi giá trị ngànhhàng
Khái niệm "Filière", hay phân tích ngành hàng, được phát triển từ những năm 1960 tại Pháp như một công cụ phân tích cho lĩnh vực nghiên cứu nông nghiệp, bao gồm nhiều trường phái và tư duy nghiên cứu khác nhau xuất phát từ yêu cầu thực tế Do đó, khái niệm này không có sự đồng nhất cụ thể Trong phân tích ngành hàng, có hai hướng chính: hướng thứ nhất tập trung vào đánh giá kinh tế và tài chính, trong đó chú trọng vào việc phân tích cách tạo ra thu nhập và phân phối thu nhập trong ngành hàng, tách riêng chi phí và thu nhập giữa các thành phần thương mại địa phương và quốc tế, đồng thời đánh giá vai trò của ngành hàng đối với nền kinh tế quốc gia và tổng sản phẩm quốc nội Một số tác giả đã sử dụng phương pháp này để điều tra tác động của toàn cầu hóa đối với lao động Hướng thứ hai lại chú trọng vào phân tích chiến lược, đánh giá sự ảnh hưởng lẫn nhau của các mục tiêu, sự ràng buộc và kết quả của từng tác nhân tham gia ngành hàng, từ đó xây dựng các chiến lược cho cá nhân và tập thể.
Phương pháp phân tích ngành hàng được áp dụng để nghiên cứu cấu trúc các quá trình kinh tế trong sản xuất và phân phối nông sản, nhằm nâng cao hiệu quả của các chuỗi giá trị thông qua cải thiện chức năng của tổ chức tiếp thị công cộng và giảm chi phí giao dịch cho nông hộ Cách tiếp cận "Filière" nổi bật ở việc đo lường mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giá cả và giá trị gia tăng ở các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất Do đó, phương pháp này rất phù hợp cho việc nghiên cứu các mặt hàng nông sản và được kiểm soát bởi hệ thống tiếp thị trong phạm vi quốc gia.
2.1.1.2 Cách tiếp cận của Porter(1985)
Lợi nhuận chuỗi là kết quả của các hoạt động trong một công ty nhằm sản xuất sản lượng nhất định Để xác định lợi thế cạnh tranh, cần phân tích các hoạt động của công ty thành một chuỗi, từ đó tìm ra lợi ích cạnh tranh trong từng hoạt động Sự cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được đánh giá thông qua việc xem xét chuỗi giá trị, bao gồm các hoạt động chi tiết khác nhau Hình 2.1 phân tích chuỗi giá trị theo khung khái niệm của Porter, tập trung vào các hoạt động, hỗ trợ quyết định quản lý, chiến lược quản trị và giá trị của công ty.
Cơ sở hạ tầng Quản lý nguồn nhân lực Phát triển công nghệ Hoạt động mua sắm Đầu vào Sản xuất Đầu ra Marketing, bán hàng Dịch vụ
Các hoạt động chính Hình 2.1: Mô hình chuỗi giá trị của Porter (1985)
Theo khung khái niệm của Porter (1985), phân tích chuỗi giá trị (CGT) chỉ giới hạn trong hoạt động của một công ty, với mục tiêu cuối cùng là nâng cao lợi thế cạnh tranh Một số nghiên cứu đã áp dụng khung phân tích này vào việc nghiên cứu CGT của tỏi ở Ninh Thuận (Son & An, 2014) và chuỗi giá trị cá tra tại Đồng bằng sông Cửu Long (Hiếu, 2020).
2.1.1.3 Phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị toàncầu
Khác với cách tiếp cận của Porter (1985), phân tích chuỗi giá trị toàn cầu (CGT) cung cấp cái nhìn toàn diện về sự hội nhập toàn cầu của các công ty và quốc gia, đồng thời đánh giá các yếu tố phân phối thu nhập Khung phân tích CGT, được phát triển bởi Gereffi (1999) và Kaplinsky (1999, 2000), đã thu hút sự chú ý lớn và tiếp tục được mở rộng bởi Kaplinsky & Morris (2001) và Gereffi & Memodovic (2003) Khung này giúp hiểu rõ tổ chức của nền công nghiệp toàn cầu thông qua việc xem xét cấu trúc và hoạt động của các tác nhân trong một ngành cụ thể.
Phương pháp tiếp cận toàn cầu là cách tiếp cận mới hơn, giúp các công ty và quốc gia hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu Nó đánh giá các yếu tố quyết định đến phân công lao động, sự phân phối thu nhập và phân chia tổng thu nhập của các công ty Đồng thời, phương pháp này cũng tìm hiểu mối liên kết giữa các công ty, khu vực và quốc gia trong nền kinh tế toàn cầu.
H oạ t độ ng bổ trợ
Trồng trọt Chăm sóc Thu hoạch
Thuốc Đầu vào Sản xuất Thu gom Sơ chế Thương mại Tiêu dùng
Chính quyền địa phương, ngân hàng, các Sở/ngành liên quan nôngsảnđượcthựchiệntheocáchtiếpcậnnày(Lộc&Son,2011;Vươngvàctv.,2015; Lộc vàctv., 2015; Nghi, 2015; Trúc & Hạnh, 2017; Linh, 2017; Thơ & Khiêm,2020).
2.1.1.4 Cách tiếp cận chuỗi giá trị Valuelinks của tổ chứcGTZ
Gần đây, GTZ (2007) nhấn mạnh rằng chuỗi giá trị (CGT) bao gồm một loạt các doanh nghiệp và nhà vận hành thực hiện các chức năng như sản xuất, chế biến, buôn bán và phân phối một sản phẩm cụ thể Trong CGT, có các "khâu" được mô tả bằng các "hoạt động" để thể hiện rõ các công việc của từng khâu Tác nhân trong CGT là những người thực hiện các chức năng trong chuỗi, như nhà cung cấp đầu vào, nông hộ sản xuất, và thương lái vận chuyển hàng hóa Ngoài các tác nhân, CGT còn có các tổ chức và đơn vị hỗ trợ nhằm giúp phát triển chuỗi bằng cách tạo điều kiện nâng cấp CGT.
Hình 2.2: Sơ đồ chuỗi giá trị của GTZ (2007)
Phân tích chuỗi giá trị (CGT) theo cách tiếp cận GTZ (2007) tập trung vào hai nội dung chính: phân tích tài chính, kinh tế và phân tích chiến lược chuỗi Phân tích tài chính và kinh tế trong CGT chú trọng vào lợi ích và phân phối lợi ích giữa các cá nhân tham gia trong chuỗi, trong khi phân tích chiến lược tập trung vào mối quan hệ giữa các cá nhân và các chiến lược riêng cho từng cá nhân trong chuỗi Kết quả phân tích sẽ làm cơ sở để nâng cấp giá trị cho chuỗi sản phẩm Cách tiếp cận này đặc biệt phù hợp với các sản phẩm nông nghiệp có giá trị nhỏ và các liên kết chuỗi được hình thành ở phạm vi nhỏ, như địa phương hoặc khu vực, nhằm hướng đến mục tiêu phát triển và xóa đói giảm nghèo Do đó, nhiều tác giả đã phân tích CGT nông sản theo cách tiếp cận GTZ.
Người bán sỉ, bán lẻ
Nông hộ, hợp tác xã
Nhà cung cấp đầu vào
(2007)(Lộc&Son,2011;Khaivàctv.,2012;Son&Nhỏ,2013a,2013b;Vươngvàctv., 2015; Lộc vàctv., 2015; Nghi, 2015; Hanh & Diem,2017).
Dựa trên tiếp cận CGTValueLinks của GTZ (2007), Ngân hàng Phát triển Châu Á đã phát hành cuốn sổ tay thực hành phân tích CGT mang tên “Nâng cao hiệu quả thị trường cho người nghèo” (M4P, 2007) Phương pháp này nhấn mạnh sự tham gia cao của người nghèo trong chuỗi giá trị, với mục tiêu tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho họ Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao tính phù hợp của cách tiếp cận này đối với các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là những sản phẩm liên quan đến người nghèo.
(2007) cũng được các nhà nghiên cứu ứng dụng trong phân tích CGT nông sản (Lộc & Son, 2011; Perez & Viana, 2012; Khai vàctv., 2012; Son & Nhỏ, 2013a, 2013b; Son &
An, 2014; Việt, 2014; Lộc vàctv., 2015; Hanh & Diem,2017).
2.1.1.5 Cách tiếp cận mô hình SCP trong phân tích chuỗi giátrị
Lý thuyết SCP, dựa trên cấu trúc, vận hành và kết quả thị trường, được phát triển từ lý thuyết tổ chức công nghiệp, đã được áp dụng để nghiên cứu ngành hàng và tiếp tục được nhiều tác giả trên thế giới phát triển.
Mô hình SCP là một khung phân tích thị trường quan trọng, bao gồm ba yếu tố chính Yếu tố đầu tiên, cấu trúc thị trường, đề cập đến số lượng và quy mô của các tác nhân trong chuỗi, sự khác biệt sản phẩm và các rào cản gia nhập ngành Những yếu tố này ảnh hưởng đến bản chất cạnh tranh và hành vi giá cả trên thị trường Yếu tố thứ hai, thực hiện thị trường, liên quan đến cơ chế phối hợp và chính sách giá cả của các tác nhân Các yếu tố này ảnh hưởng đến kết quả thị trường, bao gồm mối quan hệ giữa giá cả và sản lượng, cũng như hiệu quả của cải tiến và đầu tư Đáng chú ý, kết quả thị trường cũng tác động trở lại các yếu tố cấu trúc và thực hiện thị trường.
Khung phân tích SCP có thể sử dụng cho phân tích CGT theo quan điểm từ các yếu tố bên ngoài (FAO, 2003) Vì vậy Figueirêdo Junior vàctv.(2014), Jordaan vàctv.
Năm 2014 và 2018, các nhà nghiên cứu đã mở rộng khung SCP để áp dụng vào phân tích chuỗi giá trị (CGT), nhằm làm nổi bật các cấu trúc, quy trình và hiệu suất của CGT Khung phân tích này cung cấp cái nhìn tổng hợp về sự tương tác giữa các yếu tố và chiến lược cho một số CGT Đặc biệt, đơn vị phân tích không chỉ là một công ty mà là một phần của CGT tại một địa phương, cạnh tranh với CGT khác ở khu vực khác Những đặc điểm này của mô hình SCP đã được áp dụng để nghiên cứu một cách tiếp cận có hệ thống trong lĩnh vực này.
Sản phẩm Định giá Khuyến mại Kênh phân phối Công nghệ sản xuất Phát triển sản phẩm Tổ chức tìm nguồn cung ứng:
Liên kết dọc Liên kết ngang Mạng lưới liên kết Chất lượng dịch vụ hỗ trợ
Giá trị gia tăng tại địa phương Việc làm tại địa phương
Mức độ tập trung của khách hàng/nhà cung cấp
Cơ sở hạ tầng này vào trong phân tích CGT sản phẩm và ngành hàng nông nghiệp (Nam, 2004; Hải,
2005, 2006; Ngaruko & Mbilinyi, 2014; Thuận & Danh, 2014; Kiệt, 2014; Kuguru, 2016; Tùng & Hải, 2016a, 2016b; Gashaw, 2018).
Hình 2.3: Khung nghiên cứu chuỗi giá trị SCP mở rộng
(Nguồn: Figueirêdo Junior và ctv., 2014)
Mỗi phương pháp tiếp cận chuỗi giá trị (CGT) đều có những ưu điểm riêng và tập trung vào các mục tiêu nghiên cứu khác nhau, do đó không có phương pháp nào là chung nhất hay đúng nhất cho việc phân tích CGT sản phẩm Tùy thuộc vào từng sản phẩm và mục tiêu nghiên cứu, các nhà nghiên cứu sẽ chọn lựa cách tiếp cận phù hợp, thậm chí sử dụng đồng thời nhiều phương pháp Ví dụ, một số nghiên cứu đã áp dụng đồng thời hai cách tiếp cận của Kaplinsky & Morris (2001) và GTZ (2007), trong khi các nghiên cứu khác lại kết hợp GTZ (2007) và M4P (2007) Ngoài ra, có những nghiên cứu đã phát triển đến ba cách tiếp cận từ Kaplinsky & Morris (2001), GTZ (2007) và M4P (2007) trong phân tích CGT, và thậm chí có những nghiên cứu sử dụng nhiều hơn ba cách tiếp cận, như trong phân tích CGT cà phê của Việt Nam và Campuchia.
2012), CGT dừa Bến Tre (Khai vàctv.,2012).
Sự tham gia của các tác nhân trong chuỗigiátrị
Sơ đồ chuỗi giá trị sản phẩm thể hiện sự kết nối và phụ thuộc giữa các tác nhân trong chuỗi, đồng thời làm nổi bật vai trò của từng tác nhân Trong mỗi giai đoạn lưu thông sản phẩm, các tác nhân thực hiện những chức năng cụ thể như đầu vào, sản xuất, thu mua, chế biến, thương mại và tiêu dùng Số lượng tác nhân trong chuỗi phụ thuộc vào quy mô và cách vận hành của chuỗi giá trị.
Theo phân tích của Tuân (2012) về chuỗi giá trị (CGT) sắn tại Thừa Thiên Huế, có bốn tác nhân chính tham gia gồm nông hộ trồng sắn, người thu gom lớn, người thu gom nhỏ và nhà máy chế biến, phục vụ cho cả kênh tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Tương tự, CGT ớt tại Đồng Tháp (Lộc vàctv., 2015) và CGT ca cao ở Bến Tre (Tâm & Hải, 2014) cũng cho thấy cấu trúc tương đương Ngược lại, khi phân tích kênh tiêu thụ nội địa của CGT nho Ninh Thuận (Son & Nhỏ, 2013a), CGT chè tại Mộc Châu, Sơn La (Khoi vàctv., 2015), CGT cà phê tại Oromia, Ethiopia (Gashaw vàctv., 2018) và CGT tiêu ở São Tomé Príncipe (Fonseca vàctv., 2020), số lượng tác nhân tham gia tăng lên hơn năm, bao gồm cả tác nhân bán lẻ.
CGT có nhiều tác nhân tham gia, với 7 tác nhân chính bao gồm CGT lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long (Lộc & Son, 2011), CGT táo xanh ở Ninh Thuận (Son & Nhỏ, 2013b), CGT tỏi Ninh Thuận (Son & An, 2014), CGT khóm ở Tiền Giang (Nghi, 2015), CGT chè Shan ở các tỉnh miền núi phía Bắc (Tuong và ct, 2016), CGT cà phê ở Tây Nguyên (Hanh & Diem, 2017), CGT chè ở Thái Nguyên (Anh & Hương, 2017) và CGT sen Đồng Tháp (Thơ & Khiêm, 2020) cùng CGT chè ở Ấn Độ (Langford, 2021) Số lượng tác nhân trong các CGT này tăng lên nhờ sự tham gia của các công ty xuất khẩu và các nhà bán sỉ, bán lẻ ngoài tỉnh.
Mối liên kết giữa các tác nhân tham gia trong chuỗigiátrị
Số lượng các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị (CGT) ảnh hưởng đến mối liên kết giữa chúng, bao gồm cả liên kết dọc và ngang Nghiên cứu của Anh & Hương (2017) cho thấy rằng mối liên kết dọc trong ngành chè tỉnh Thái Nguyên còn gặp nhiều hạn chế, với những rào cản làm giảm động lực kết nối, đặc biệt là giữa người sản xuất, nhà cung ứng và người chế biến Hình thức liên kết giữa nông hộ và nhà máy chủ yếu diễn ra dưới dạng mua bán đoạn mà không có hợp đồng chính thức, dẫn đến 97% không thực hiện hợp đồng với cơ sở chế biến, gây rủi ro cho người trồng chè khi nguồn cung vượt cầu Trong mô hình liên kết giữa HTX trồng chè nguyên liệu với nhà máy chế biến, nông hộ vẫn là người sản xuất, trong khi HTX tổ chức sản xuất và kết nối với các nhà máy chế biến Hình thức liên kết này có hợp đồng rõ ràng với các điều khoản về khối lượng, chất lượng và thời gian giao dịch Tương tự, nghiên cứu về liên kết dọc trong CGT chè tại Mộc Châu, Sơn La cũng cho thấy mối liên kết giữa nông hộ nghèo và các tác nhân khác trong chuỗi còn rất yếu (Khoi và cộng sự, 2015).
Nghi (2015) đã phân tích mối liên kết giữa nông hộ nghèo và các tác nhân trong chuỗi giá trị (CGT) khóm tại tỉnh Tiền Giang Nghiên cứu chỉ ra rằng nông hộ nghèo bán sản phẩm khóm cho nhiều đối tượng khác nhau, bao gồm thương lái đường dài, thương lái địa phương, chủ vựa và doanh nghiệp chế biến Chủ vựa tại địa phương có mối quan hệ thân thiết với nông hộ nghèo, thường hỗ trợ họ vay tiền trước để thu hoạch khóm, dẫn đến giá mua khóm từ chủ vựa thường thấp hơn so với thương lái đường dài Kết quả này tương tự với mối liên kết giữa nông hộ và thương lái trong CGT ớt tại Đồng Tháp, nơi thương lái và chủ vựa hỗ trợ nông hộ bằng cách cung cấp giống hoặc tiền mặt, sau đó trừ vào sản lượng thu mua Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra mối liên kết giữa nông hộ trồng cà phê và các thương lái thu mua cà phê tại Tây Nguyên (Trúc & Hạnh).
Nghiên cứu năm 2017 cho thấy hơn 95% nông hộ không ký hợp đồng với thương lái, dẫn đến việc trao đổi sản phẩm chỉ diễn ra khi nông hộ có cà phê, làm cho dòng luân chuyển sản phẩm không ổn định và quy trình vận hành chuỗi giá trị ở khâu đầu tiên thiếu nhịp nhàng Số lượng nông hộ chiếm tỷ lệ cao trong khi thương lái thu gom ít, tạo ra quyền lực thị trường nghiêng về phía người mua Hơn nữa, sự liên kết giữa các tác nhân trong tiêu thụ sản phẩm còn yếu hoặc rất hạn chế, như trong các nghiên cứu về chuỗi giá trị táo xanh, nho và tỏi tại Ninh Thuận (Son & Nhỏ, 2013a; Son & Nhỏ, 2013b; Son & An, 2014).
Trong chuỗi giá trị nông sản, liên kết ngang giữa các tác nhân vẫn còn yếu và thiếu sự tin tưởng, đặc biệt trong chuỗi giá trị dừa tại Bến Tre Nghiên cứu của Nên (2015) cho thấy rằng các liên kết ngang trong xuất khẩu dừa Bến Tre chưa được thiết lập rõ ràng, dẫn đến sự cạnh tranh không lành mạnh và xung đột giữa các tác nhân Mặc dù các cơ sở chế biến có sự liên kết chặt chẽ thông qua Hiệp hội dừa Bến Tre, mối quan hệ này vẫn chưa thực sự bền vững do thiếu thỏa thuận liên kết chính thức Điều này tạo ra nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh, đặc biệt khi giá nguyên liệu biến động Tương tự, nghiên cứu về liên kết ngang trong chuỗi giá trị cà phê tại Tây Nguyên cũng chỉ ra những vấn đề tương tự.
Theo Hạnh (2017), mối liên kết ngang giữa các tác nhân trong ngành cà phê còn yếu, ngoại trừ sự kết nối chặt chẽ hơn giữa các nhà máy chế biến Các doanh nghiệp tham gia hiệp hội cà phê địa phương giúp tìm giải pháp hợp lý và có tiếng nói chung với nhà nước về bảo vệ nguồn nguyên liệu và nâng cao năng lực cạnh tranh Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp chưa cam kết chính thức, dẫn đến nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh Vương và cộng sự (2015) cũng chỉ ra sự yếu kém của các tổ hợp tác và hoạt động không hiệu quả của các HTX sản xuất Thanh Long tại huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Nghiên cứu về mối quan hệ giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê tại Indonesia (Vicol và cộng sự, 2018) cũng cho thấy liên kết ngang vẫn còn yếu.
Phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân tham gia trong chuỗigiá trị
Nghiên cứu CGT đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững sản phẩm, đặc biệt trong nông nghiệp Phân tích CGT giúp xác định phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi, từ đó đề xuất giải pháp và chiến lược phù hợp nhằm cải thiện phân phối lợi nhuận một cách hợp lý hơn.
Phân tích chuỗi giá trị chè tại Ấn Độ cho thấy lợi nhuận/kg lá chè xanh của nông hộ cao hơn người thu gom, lần lượt đạt 2,63 Rs và 1,86 Rs Trong khi đó, lợi nhuận của nhà chế biến/kg chè thành phẩm là cao nhất, tiếp theo là nhà bán lẻ và nhà bán sỉ (Das & Mishra, 2019) Tương tự, nghiên cứu tại Mộc Châu (Khoi và ctg., 2015) cho thấy người bán sỉ chiếm tỷ lệ lợi nhuận cao nhất (30%), tiếp theo là thương lái (27%), nông hộ trồng chè (16%), người bán lẻ (13%) và nhà máy chế biến (12%) Kết quả từ chuỗi giá trị lúa gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long (Lộc & Son, 2011) cũng cho thấy người bán sỉ có tỷ lệ phân phối lợi nhuận cao nhất, tiếp theo là bán lẻ, nông hộ và thương lái Ngược lại, nghiên cứu chuỗi giá trị táo ở Ninh Thuận (Son & Nhỏ, 2013b) chỉ ra rằng người bán lẻ có tỷ lệ phân phối lợi nhuận cao nhất (45-58%), tiếp theo là người trồng táo và thương lái.
Nhiều nghiên cứu cho thấy nông hộ đóng vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị (CGT) với tỷ lệ phân phối lợi nhuận cao Cụ thể, tại Thừa Thiên Huế, nông hộ trồng sắn chiếm 70% lợi nhuận, trong khi ở Đồng Tháp, nông hộ trồng ớt nhận được hơn 80% lợi nhuận phân phối Tại Ninh Thuận, nông hộ trồng tỏi và cacao ở Bến Tre cũng nhận được tỷ lệ phân phối thu nhập cao lần lượt là 60% và 74% Ngược lại, trong các kênh chế biến của CGT táo xanh tại Ninh Thuận, cacao tại Bến Tre và CGT sen Đồng Tháp, công ty chế biến lại chiếm tỷ lệ phân phối lợi nhuận cao nhất, từ 67-85%, trước khi đến tay nông hộ.
Phân tích phân phối lợi nhuận trong chuỗi giá trị cho thấy không có quy luật chung về tỷ lệ lợi nhuận trên mỗi đơn vị sản phẩm Tỷ lệ này khác nhau giữa các tác nhân trong các kênh phân phối khác nhau, phụ thuộc vào số lượng tác nhân và cách thức hoạt động của từng kênh.
Tỷ lệ phân phối lợi nhuận trên mỗi đơn vị sản phẩm cao nhất không nhất thiết dẫn đến thu nhập bình quân của các tác nhân trong năm hoặc mùa vụ cũng cao nhất Phân tích lợi nhuận trong kênh xuất khẩu tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy điều này.
Nghiên cứu năm 2011 cho thấy nông hộ là tác nhân có tỷ lệ lợi nhuận phân phối cao nhất (36,5%), nhưng tỷ lệ lợi nhuận của nông hộ trồng lúa chỉ chiếm chưa tới 0,01% trong khi công ty xuất khẩu chiếm tới 88% Tương tự, nghiên cứu về chuỗi giá trị ớt tại Đồng Tháp (Lộc và cộng sự, 2015) cho thấy nông hộ trồng ớt có tỷ lệ phân phối lợi nhuận cao nhất (80-90%), nhưng chủ vựa chỉ chiếm từ 5-16% Tuy nhiên, khi tính lợi nhuận trung bình hàng năm, chủ vựa lại chiếm tỷ lệ cao nhất (64,7%), trong khi nông hộ chỉ có 2,3% Các nghiên cứu về chuỗi giá trị ngành hàng xoài An Giang (Trang & Tú, 2019) và chuỗi giá trị sen Đồng Tháp (Thơ & Khiêm, 2020) cũng cho kết quả tương tự.
Lộc vàctv.(2015) lý giải cho sự phân phối lợi nhuận trong CGT ớt là do lượng báncủahộtrongnămthấphơnnhiềusovớithươngláivàchủvựa.Ngoàira,Lộc&Son
Năm 2011, nghiên cứu chỉ ra rằng việc trồng lúa quy mô nhỏ và chu kỳ sản xuất kéo dài từ 3-4 tháng đã khiến thu nhập và lợi nhuận của nông hộ thấp hơn nhiều so với các tác nhân khác trong chuỗi cung ứng Điều này dẫn đến việc nông dân chỉ có thể bán ra hàng chục tấn lúa gạo mỗi ngày, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng sinh kế của họ.
Việc phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân trong chuỗi sản xuất nông nghiệp có sự chênh lệch lớn hàng năm Nông hộ thường có thu nhập thấp nhất do quy mô sản xuất nhỏ Ngược lại, các thương lái lớn, chủ vựa và công ty chế biến, xuất khẩu lại đạt thu nhập cao nhất nhờ lợi thế về quy mô và sản lượng tiêu thụ lớn.
Tổng quan về phân tích chuỗi giá trịcàphê
2.1.5.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ càphê
Cà phê là sản phẩm tiêu thụ toàn cầu, và nghiên cứu về tình hình sản xuất cà phê diễn ra ở nhiều quốc gia Tại Việt Nam, giá cà phê giảm liên tục đã khiến các nông hộ trồng cà phê tại Tây Nguyên phải phản ứng, theo phân tích của Ha & Shively (2008) Báo cáo của VNSAT (2017) chỉ ra những khó khăn trong sản xuất và kinh doanh cà phê Arabica tại Lâm Đồng, bao gồm rủi ro từ thời tiết, dịch bệnh, thị trường, chính sách và quản lý Chi phí đầu vào cho sản xuất cà phê cũng gia tăng, đặc biệt là phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và lao động, trong khi tình trạng lạm dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật vẫn diễn ra (Trúc và ctg., 2012; Nguyen & Sarker, 2018) Việc sản xuất nhỏ lẻ dẫn đến chất lượng cà phê không ổn định, do điều kiện hiểu biết và mức đầu tư khác nhau trong khâu thu hái và chế biến Để phát triển bền vững, việc quản lý tốt sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nước tưới, giống cây và trồng cây che bóng là rất cần thiết cho các nông hộ tại Tây Nguyên (Anh và ctg., 2019).
Cuộc khủng hoảng giá thấp trên thị trường cà phê đã gây ra nhiều khó khăn cho nông hộ trồng cà phê Trước khủng hoảng, các thị trường cà phê đặc sản và cà phê có chứng nhận như FairTrade và hữu cơ đã thu hút sự quan tâm của người tiêu dùng và các nhà tài trợ quốc tế, mang lại thu nhập ổn định và cao hơn cho nông hộ Nghiên cứu của Tolessa và cộng sự (2018) cho thấy việc sản xuất cà phê có chứng nhận không ảnh hưởng đến chất lượng cà phê, nhưng có sự khác biệt về chất lượng giữa các phương pháp chế biến, trong đó phương pháp chế biến khô và phân loại có thể nâng cao chất lượng sản phẩm.
(2008) cho thấy phương pháp chế biến khô ở Brazil và Ethiopia sẽ cho ra loại cà phê đắng hơn, thích hợp để pha chế cà phêEspresso.
Theo nghiên cứu của Perez & Viana (2012), việc áp dụng phương pháp phân tích CGT toàn cầu cho thấy Colombia và Việt Nam sản xuất các loại cà phê khác nhau Cả hai quốc gia đã thực hiện các chiến lược đa dạng hóa nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa và quốc tế thông qua việc khác biệt hóa sản phẩm Sự khác biệt này đã mở ra cơ hội hợp tác giữa Colombia và Việt Nam trong bối cảnh thị trường cạnh tranh khốc liệt hiện nay.
2.1.5.2 Sự tham gia của các tác nhân trong chuỗi giá trị càphê
Nghiên cứu về chuỗi giá trị (CGT) cà phê đang thu hút sự chú ý từ nhiều tác giả bên cạnh các vấn đề về sản xuất và tiêu thụ CGT không chỉ thể hiện sự kết nối và phụ thuộc giữa các tác nhân mà còn làm rõ vai trò và chức năng của từng tác nhân trong chuỗi Mỗi tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê đảm nhận những chức năng cụ thể trong từng công đoạn, góp phần vào sự vận hành hiệu quả của toàn bộ chuỗi Mặc dù số lượng tác nhân tham gia có thể đa dạng, nhưng thường có khoảng 5 đến 6 tác nhân chính được đề cập trong các nghiên cứu.
Trong nghiên cứu của Gilbert (2008) về phân tích chuỗi giá trị (CGT) cà phê, các tác nhân chính bao gồm nông hộ trồng cà phê, thương lái địa phương, hợp tác xã, nhà xuất khẩu, nhà rang xay và nhà bán lẻ Nghiên cứu cho thấy cà phê được trồng bởi cả nông hộ nhỏ và các trang trại lớn tại châu Phi, trong khi ở Mỹ Latinh và Kenya, quy mô đồn điền phổ biến hơn Các công ty chế biến cà phê, được gọi là nhà rang xay, bán trực tiếp cho các nhà bán lẻ như siêu thị, quán bar và nhà hàng Sản phẩm bán lẻ có thể là cà phê rang (hoặc cà phê xay) hoặc cà phê hòa tan.
Tương tự, các nghiên cứu về CGT cà phê trong nước cũng cho thấy có khoảng 5- 6tácnhânchínhthamgia(FAO,2015;VNSAT,2017;Hải&Mỹ,2017;Hanh&Diem,
Năm 2017, ngành cà phê Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ với sự tham gia của các nhà cung cấp đầu vào như giống, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật Để thu gom cà phê từ các nông hộ nhỏ và hợp tác xã, cần có sự hỗ trợ từ các thương lái và đại lý thu mua địa phương Các công ty chế biến cà phê sẽ sản xuất ra cà phê nhân và cà phê thành phẩm, sau đó xuất khẩu sang thị trường quốc tế cho các nhà rang xay Cuối cùng, sản phẩm cà phê thành phẩm được phân phối qua các cửa hàng bán lẻ, quán cà phê và siêu thị.
Nghiên cứu VNSAT (2017) tập trung vào bốn tác nhân chính trong chuỗi giá trị (CGT) cà phê tại Lâm Đồng, bao gồm nông hộ trồng cà phê Arabica và Robusta, đại lý thu mua địa phương, doanh nghiệp thu mua và các công ty chế biến, xuất khẩu Trong khi đó, FAO (2015) đã phân tích CGT cà phê Arabica ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nhưng chỉ dừng lại ở việc mô tả sự tham gia của năm tác nhân: nhà cung cấp đầu vào, nông hộ trồng cà phê có và không có máy chế biến ướt, nhà thu gom vừa và nhỏ, công ty chế biến địa phương, và nhà xuất khẩu Tương tự, nghiên cứu tại tỉnh Kon Tum cũng chỉ ra năm tác nhân chính, nhưng cho thấy cà phê vẫn chỉ được sản xuất theo quy mô gia đình mà chưa áp dụng công nghệ bảo quản sau thu hoạch, với người sản xuất là tác nhân chủ yếu và các tác nhân khác có ảnh hưởng hạn chế đến sự phát triển của chuỗi (Hải & Mỹ, 2017).
Một số chuỗi giá trị cà phê có số lượng tác nhân tham gia nhiều hơn nhờ vào sự bổ sung các tác nhân bán lẻ (Hanh & Diem, 2017; Gashaw và cộng sự, 2018).
Nghiên cứu của &Diem (2017) đã mô tả chuỗi giá trị cà phê ở Tây Nguyên với sự tham gia của 6 tác nhân chính: nông hộ, thương lái, nhà sơ chế, nhà chế biến, công ty xuất khẩu và nhà bán lẻ Gần đây, Gashaw và cộng sự (2018) đã phân tích chuỗi giá trị cà phê tại khu vực Jimma Zone, Oromia, Ethiopia, cho thấy có 6 tác nhân tham gia, bao gồm nhà cung cấp đầu vào, nông hộ quy mô nhỏ, trang trại của nhà nước và tư nhân quy mô lớn, hợp tác xã, nhà thu mua, nhà xuất khẩu và nhà bán lẻ.
& phân phối Chuỗi giá trị buôn,bánlẻvàngườitiêudùngtrongnước.Mỗitácnhânđảmnhậncácchứcnăngkhác nhau dọc theo CGT đó là sản xuất, chế biến, thương mại vàMarketing.
Theo USAID (2017), chuỗi giá trị cà phê toàn cầu bao gồm các chức năng chính như sản xuất, chế biến, thương mại, rang xay và marketing Trong đó, sản xuất chủ yếu do các nông hộ nhỏ (từ 1-5 ha) đảm nhiệm, với khoảng 70% sản lượng cà phê đến từ họ Chức năng chế biến chủ yếu được thực hiện bởi các công ty và nhà máy tại nước sản xuất cà phê Về thương mại, các công ty kinh doanh cà phê quốc tế chiếm khoảng 70-80% tổng sản lượng Chức năng rang xay được thực hiện bởi các nhà rang xay và chế biến cà phê hòa tan trên toàn cầu Cuối cùng, chức năng marketing được thực hiện bởi các nhà bán lẻ thông qua các kênh bán lẻ, ngành dịch vụ thực phẩm và bán hàng trực tuyến.
2.1.5.3 Phân phối lợi nhuận và giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị càphê
Nghiên cứu về sự tham gia của các tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê cũng chỉ ra sự phân phối lợi nhuận và giá trị gia tăng (GTGT) Kaplinsky (2004) cho rằng toàn cầu hóa đã khiến GTGT của các nước sản xuất cà phê giảm từ năm 1965 đến 2003, trong khi GTGT tại các nước tiêu thụ cà phê lại tăng lên Điều này dẫn đến việc nông hộ trồng cà phê ở các nước xuất khẩu nhận được tỷ lệ lợi nhuận thấp hơn so với toàn bộ chuỗi giá trị.
Hình 2.4: Giá trị gia tăng của chuỗi giá trị cà phê toàn cầu
Theo nghiên cứu của Daviron & Ponte (2005), hoạt động nhập khẩu và thương mại trong chuỗi giá trị cà phê chiếm từ 9-49% giá bán lẻ cuối cùng, trong khi giá trị của cà phê rang xay dao động từ 43-75% Cà phê trên thị trường toàn cầu chủ yếu được bán dưới dạng hạt rang hoặc cà phê xay Giá trị gia tăng trong ngành cà phê chủ yếu đến từ việc xây dựng thương hiệu và hoạt động bán lẻ.
Nghiên cứu của Xuan và Linh chỉ ra rằng Việt Nam hiện đang nằm ở khâu sản xuất trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu, dẫn đến giá trị gia tăng rất thấp do xuất khẩu chủ yếu dưới dạng nguyên liệu thô Để nâng cao vị thế và uy tín của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế, cần tập trung cải thiện chất lượng cà phê, thay vì chỉ chú trọng vào sản lượng xuất khẩu, đồng thời xây dựng thương hiệu và đầu tư vào khâu chế biến.
Theo VNSAT (2017), lợi nhuận từ mỗi kilogram cà phê nhân xô của các hộ nông dân trong chuỗi giá trị cà phê Robusta tại Lâm Đồng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá bán, lên tới 90% Trong khi đó, các nhà xuất khẩu cà phê chỉ đóng góp 6% vào giá bán, và các công ty thu mua cùng đại lý địa phương chỉ chiếm 2%.
Công ty chế biến, xuất khẩu 6%
Nông hộ trồng cà phê 90%
Hình 2.5: Cơ cấu lợi nhuận/kg cà phê Robusta nhân xô ở Lâm Đồng
Boaventura và cộng sự (2018) nghiên cứu mô hình tạo ra giá trị trong chuỗi giá trị cà phê đặc sản, dựa trên dữ liệu thu thập từ hai tờ báo Brazil trong suốt 15 năm và phỏng vấn các chủ quán, nhà sản xuất, hợp tác xã, trung gian và cơ quan quản lý Kết quả cho thấy, các tác nhân trong chuỗi cần tập trung vào phát triển mối quan hệ hợp tác dọc để nâng cao quy trình sản xuất, từ đó tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm thông qua hạt cà phê chất lượng cao và trải nghiệm độc đáo Sự tăng cường hợp tác giữa các bên trong chuỗi không chỉ giúp xây dựng kinh nghiệm và niềm tin mà còn nâng cao giá trị sử dụng của khách hàng đối với cà phê đặc sản Điều này có thể dẫn đến gia tăng giá trị gia tăng, cho phép các tác nhân trong chuỗi bán được giá cao hơn và đạt được lợi nhuận lớn hơn.
Phân tích sức mạnh thịtrường
phân tích sức mạnh thị trường nôngsản
Sức mạnh thị trường là yếu tố quan trọng phản ánh cấu trúc thị trường, đặc biệt trong nghiên cứu về CGT Nó đại diện cho khả năng của công ty trong việc tăng lợi nhuận hoặc giá thị trường hàng hóa và dịch vụ so với chi phí cận biên Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, giá bán bằng với chi phí cận biên (P=MC), do đó, các nhà sản xuất không có sức mạnh thị trường (Murphy, 2006; Cakir & Balagtas, 2012) Có nhiều phương pháp đo lường sức mạnh thị trường, bao gồm chỉ số tập trung thị trường CR, chỉ số HHI (Herfindahl-Hirschman Index), chỉ số RTS (Return to Scale) và chỉ số Lerner (ℒ).
Thị trường hoạt động hiệu quả là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến phúc lợi và thu nhập của các tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê (CGT) Nếu thị trường gặp vấn đề về thông tin không hoàn hảo, các tác nhân sẽ không thể đạt được lợi ích tối đa về thu nhập và phúc lợi Đặc điểm của CGT cà phê cho thấy rằng số lượng người thu mua lớn là hạn chế, dẫn đến giá bán của nông hộ thường thấp và biến động Điều này khiến nông hộ phải bán cà phê với giá thấp hơn giá thành sản xuất Đại lý thu mua cà phê đóng vai trò kết nối quan trọng giữa nông hộ và các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu, nhưng trung bình mỗi xã chỉ có khoảng 4-5 đại lý thu mua Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng nếu không có các thương lái, các công ty chế biến và xuất khẩu sẽ không thể thực hiện chức năng của mình do thiếu nhân lực, kinh nghiệm và cơ sở hạ tầng kỹ thuật cần thiết như vận chuyển, phơi sấy và bảo quản.
Để đo lường sức mạnh thị trường, nhiều nghiên cứu sử dụng chỉ số tập trung thị trường CR4 hoặc HHI Kaplinsky (2004) áp dụng chỉ số CR5 để đánh giá mức độ tập trung của 5 nhà rang xay cà phê lớn nhất châu Âu trong giai đoạn 1995-1998 Kang và cộng sự (2009) so sánh chỉ số CR4 và HHI giữa các nước xuất khẩu và nhập khẩu gạo từ năm 1997 đến 2008 Pavic và cộng sự (2016) phân tích mối quan hệ giữa CR4 và HHI ở ba mức độ tập trung thị trường tại Mỹ Mức độ tập trung thị trường mía đường và gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long cũng được Hải (2005) và Tùng & Hải (2016a) đo lường bằng chỉ số CR4 Tương tự, Gashaw (2018) sử dụng chỉ số CR4 để xác định mức độ tập trung của các nhà thu mua cà phê tại Jimma Zone, Ethiopia.
Việc tính toán các chỉ số sức mạnh thị trường là đơn giản, nhưng hành vi của doanh nghiệp lại không thể mô hình hóa rõ ràng (Murphy, 2006) Một chỉ số khác để ước tính sức mạnh thị trường là chỉ số Lerner, được tính bằng công thức ℒ = (P − MC) / P (Lerner, 1934), trong đó MC là chi phí biên và P là giá đầu ra Chỉ số Lerner cũng có thể được coi là thước đo về sự tăng giá Tuy nhiên, để tính được chỉ số Lerner, cần có MC, mà thường không thể quan sát trực tiếp trong điều kiện hiệu suất không đổi theo quy mô.
Wolfram (1999) đã tính toán chi phí biên (MC) một cách gián tiếp thông qua việc ước lượng tổng chi phí Một phương pháp khác từ tổ chức công nghiệp thực nghiệm mới (NEIO) cho phép ước tính chỉ số Lerner mà không cần tính toán trực tiếp MC Thay vào đó, sự tăng giá được ước lượng từ hàm hồi quy, thường được gọi là quan hệ cung, để xác định MC, như trong nghiên cứu của Deodhar & Pandey (2008) và Perloff.
Theo Shen (2012), hai phương pháp truyền thống gặp phải hạn chế lớn là cần có dữ liệu về chi phí như giá đầu vào, sản lượng đầu ra và điều kiện hiệu suất không đổi theo quy mô Để khắc phục vấn đề này, Kumbhakar và cộng sự (2012) đã đề xuất một phương pháp tiếp cận mới cho phép ước tính sức mạnh thị trường ngay cả khi không có dữ liệu giá đầu vào và khi hiệu suất thay đổi theo quy mô.
Chính vì những ưu điểm nổi trội từ phương pháp tiếp cận của Kumbhakar vàctv.
Nhiều nghiên cứu gần đây đã áp dụng phương pháp tính sức mạnh thị trường trong các chuỗi ngành hàng nông sản và thực phẩm, bao gồm các công trình của Cechura và cộng sự (2015) cùng với Koppenberg (2012).
Hirsch (2019) đã nghiên cứu sức mạnh thị trường của ngành hàng sữa tại Châu Âu, trong khi Lopez và cộng sự (2015, 2017) tập trung vào phân tích sức mạnh thị trường trong các ngành hàng thực phẩm Gần đây, Rahman và cộng sự (2021) đã thực hiện nghiên cứu về sức mạnh thị trường trong chuỗi giá trị lúa gạo tại Bangladesh.
Phân tích sức mạnh thị trường càphê
Phân tích sức mạnh thị trường trong ngành cà phê có thể được thực hiện thông qua nhiều chỉ số khác nhau như mức độ tập trung thị trường (CR), chỉ số Lerner và chỉ số năng lực cạnh tranh (RCA) Trong đó, chỉ số CR5 được sử dụng để đo lường mức độ tập trung thị trường của năm nhà rang xay cà phê lớn nhất tại Châu Âu Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ số này phản ánh rõ nét sức mạnh và vị thế cạnh tranh của ngành cà phê trên thị trường.
CR5 trong năm 1995 là 21,5% và đã tăng lên rất nhanh tới 58,4% vào năm năm 1998 (Kaplinsky, 2004).
Chỉ số Lerner được sử dụng để phân tích sức mạnh thị trường trong ngành cà phê, cho thấy sự biến động lớn giữa các quốc gia và thời điểm khác nhau Kết quả phân tích của Gilbert (2007) chỉ ra rằng chỉ số này ở Pháp, Đức và Hà Lan lần lượt là 0,000, chứng tỏ thị trường bán lẻ cà phê tại các nước này là thị trường cạnh tranh hoàn hảo Ngược lại, tại Nhật Bản và Vương quốc Anh, chỉ số Lerner đạt 0,590 và 0,669, cho thấy thị trường gần với độc quyền hơn Tương tự, các nước sản xuất cà phê như Brazil, Tanzania và Uganda có chỉ số Lerner gần bằng 0, trong khi Côte d'Ivoire, Colombia, Việt Nam và Indonesia lại cao hơn nhiều Tại thị trường Thủy Điển từ 1985-2002, chỉ số Lerner cũng chỉ khoảng 0,01, cho thấy đây là thị trường cạnh tranh hoàn hảo, mặc dù các nhà rang xay vẫn có một chút sức mạnh thị trường thông qua xây dựng và quảng bá thương hiệu (Durevall, 2007).
Nghiên cứu của Deodhar & Pandey (2008) về chính sách cạnh tranh mới cho thấy rằng sức mạnh thị trường cà phê hòa tan ở Ấn Độ rất thấp, với chỉ số sức mạnh thị trường chỉ đạt 0,123, gần bằng 0 Kết quả này cho thấy thị trường không có hành vi thông đồng và gần giống với cấu trúc của thị trường cạnh tranh hoàn hảo, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy cạnh tranh để nâng cao hiệu quả thị trường.
Mức độ truyền giá giữa nông hộ và người tiêu dùng cuối cùng phụ thuộc vào mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực chế biến Do đó, việc hiểu rõ mức độ cạnh tranh trong các ngành khác nhau là rất cần thiết Nghiên cứu của Li & Saghaian (2014) về sức mạnh thị trường và sự điều chỉnh giá đối với chuỗi cung ứng cà phê và giá thế giới của loại cà phê "Colombian Milds" chất lượng cao cho thấy giá sản xuất và giá cà phê thế giới được điều chỉnh không cân xứng.
Nghiên cứu về sức mạnh thị trường thông qua chỉ số lợi thế so sánh hữu hiệu (RCA) cho thấy Việt Nam có lợi thế xuất khẩu cà phê lớn hơn Indonesia, với chỉ số RCA lần lượt là 53,44 và 10,16 Theo báo cáo của Bộ Công Thương (2020b), Việt Nam cũng có lợi thế tương đối đối với mặt hàng cà phê trong khối EU và CPTPP (RCA > 1) Tuy nhiên, khi so sánh với các quốc gia sản xuất cà phê Arabica hàng đầu như Brazil, Colombia và Ethiopia, năng lực cạnh tranh của Việt Nam chỉ đạt mức trung bình.
Phân tích ma trận SWOT và giải pháp nângcấpchuỗi
Phân tích matrậnSWOT
Phân tích ma trận SWOT là một công cụ quan trọng giúp đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của chuỗi giá trị (CGT), từ đó đề xuất các giải pháp tối ưu Nhiều nhà nghiên cứu đã áp dụng phương pháp này để khai thác điểm mạnh của chuỗi và các tác nhân nhằm tận dụng cơ hội bên ngoài, tạo ra các giải pháp mang tính công kích Đồng thời, việc sử dụng SWOT cũng giúp khắc phục điểm yếu thông qua các giải pháp điều chỉnh và thích ứng, tận dụng các điểm mạnh sẵn có để đối phó với thách thức từ bên ngoài Ngoài ra, phân tích SWOT còn hỗ trợ xây dựng các giải pháp phòng thủ nhằm hạn chế tác động tiêu cực từ các thách thức Trong những năm gần đây, công cụ này đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng rộng rãi trong phân tích CGT.
Để hỗ trợ phân tích ma trận SWOT, các nghiên cứu có thể khai thác thông tin từ việc phân tích thực trạng của chuỗi và ngành hàng, cũng như từ mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter (1985) và mô hình PEST Mô hình 5 áp lực cạnh tranh là công cụ hiệu quả trong việc xây dựng chiến lược cạnh tranh cho ngành hoặc doanh nghiệp, bao gồm năm nội dung chính: 1) Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành, 2) Đe dọa từ các đối thủ mới, 3) Quyền lực thị trường của nhà cung ứng đầu vào, 4) Quyền lực thị trường của người mua, và 5) Đe dọa từ sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế Phân tích này giúp nhận diện lợi thế và bất lợi trong sản xuất và kinh doanh, từ đó làm cơ sở cho việc phân tích điểm mạnh và điểm yếu trong ma trận SWOT Nhiều nghiên cứu hiện nay đã áp dụng mô hình này để đề xuất giải pháp nâng cấp chuỗi (Son & An, 2014; Trang & Tú, 2019; Hiếu, 2020; Son và cộng sự, 2020).
Trong phân tích mô hình 5 áp lực cạnh tranh, việc xác định điểm mạnh và điểm yếu của chuỗi là rất quan trọng Đồng thời, mô hình PEST giúp nhận diện cơ hội và thách thức mà các tác nhân trong chuỗi giá trị (CGT) phải đối mặt Những cơ hội và thách thức này sẽ được sử dụng làm yếu tố đầu vào cho phân tích ma trận SWOT, từ đó tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các tác nhân trong CGT.
Gần đây, Son và ctvt (2020) đã áp dụng mô hình PEST kết hợp với phân tích 5 áp lực cạnh tranh của Porter và SWOT để phát triển giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị tôm tại Đồng bằng sông Cửu Long Tương tự, Hiếu (2020) cũng đã sử dụng cả ba mô hình này để đề xuất giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị cá tra và chiến lược marketing cho công ty của Wu (2020) trong cùng khu vực.
Trong phân tích chuỗi giá trị nông sản, việc sử dụng các công cụ phân tích như mô hình PEST, phân tích SWOT và mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Porter vẫn chưa được khai thác đầy đủ Hầu hết các nghiên cứu hiện tại chỉ dừng lại ở việc áp dụng một hoặc hai công cụ, dẫn đến thiếu sót trong việc tổng thể hóa ảnh hưởng của các yếu tố vi mô và vĩ mô đến toàn chuỗi Việc lựa chọn công cụ phân tích phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu và sản phẩm cụ thể, nhưng rất ít nghiên cứu kết hợp đồng thời cả ba mô hình này, điều này có thể giúp tránh trùng lặp và cung cấp cơ sở vững chắc hơn cho việc đề xuất giải pháp nâng cấp chuỗi giá trị nông sản.
Giải pháp nâng cấp chuỗi giá trịnôngsản
Nghiên cứu về chuỗi giá trị (CGT) không chỉ dừng lại ở việc phân tích ma trận SWOT mà còn cần đề xuất các giải pháp để nâng cấp và phát triển CGT Việc nghiên cứu CGT đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững của sản phẩm, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp hiện nay Theo Kaplinsky & Morris (2001), việc phân tích CGT giúp xác định các cơ hội cải thiện và tối ưu hóa quy trình sản xuất.
CGTcóvai trò quan trọng trong việc xác định sự phân phối lợi ích của các thành viên trong chuỗi cung ứng Phân tích lợi nhuận và lợi nhuận biên trên sản phẩm giúp xác định ai được hưởng lợi từ chuỗi và những ai cần được hỗ trợ nhiều hơn Dựa trên đó, các nhà làm chính sách có thể xây dựng các giải pháp hợp lý để đảm bảo sự công bằng trong phân phối lợi ích, từ đó tạo ra giá trị gia tăng cao hơn và thúc đẩy sự phát triển của chuỗi Các nghiên cứu trong và ngoài nước đã áp dụng nhiều công cụ phân tích định tính và định lượng để tìm ra các giải pháp nâng cao lợi nhuận trong CGT.
Nhóm giải pháp đầu tiên tập trung vào việc tăng cường liên kết ngang và dọc giữa các tác nhân trong chuỗi nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện khả năng thương lượng giá cả và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm Các nghiên cứu cho thấy rằng việc củng cố liên kết này không chỉ giúp người sản xuất gia tăng hiệu suất mà còn tạo ra những cơ hội mới trong việc tiếp cận thị trường (Son & An, 2014; Nên, 2015; Nghi, 2015; Trúc & Hạnh, 2017; Vicol và ctvt., 2018; Trang & Tú, 2019; Fonseca và ctvt.).
2020) Bên cạnh đó, việc liên kết ngang giữa các nông hộ cũnggópphầncắtgiảmchiphísảnxuất(Lộc&Khôi,2011;Lộcvàctv.,2015;Hanh&
Liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi cung ứng nông nghiệp, đặc biệt là giữa các nhóm nông hộ và hợp tác xã với các công ty, giúp rút ngắn kênh phân phối và giảm chi phí trung gian, từ đó nâng cao thu nhập cho các bên tham gia Việc kết nối giữa nhà cung cấp đầu vào và nông hộ sản xuất cũng đóng góp đáng kể vào việc giảm chi phí sản xuất cho nông hộ.
Một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm là tăng cường công tác khuyến nông, bao gồm việc tổ chức các buổi tập huấn về kỹ thuật sản xuất, chế biến và bảo quản nông sản để cải thiện năng suất và chất lượng (Hổ & Dưỡng, 2011a; Son & Nhỏ, 2013a, 2013b; Son & An, 2014; Tâm & Hải, 2014; Khoi và ct., 2015; Tardzenyuy và ct., 2020) Bên cạnh đó, việc áp dụng các tiêu chuẩn sản xuất như VietGAP, GlobalGAP, FairTrade, hữu cơ, UTZ và 4C thông qua các chương trình tập huấn sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước, cũng như vượt qua các rào cản kỹ thuật trong xuất khẩu (Wollni & Zelle, 2007; Hổ & Dưỡng, 2011b; Lộc & Khôi, 2011; Luna & Wilson, 2015; Nghi, 2015; Tráng & Bửu, 2015; Boaventura và ct., 2018; Piao và ct., 2019; Trang & Tú, 2019).
Nhóm giải pháp thứ ba là đổi mới và cải tiến sản phẩm, đồng thời đa dạng hóa sản phẩm để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn Đầu tư và nâng cấp công nghệ chế biến và bảo quản sẽ giúp giải quyết vấn đề mùa vụ, cho phép sản phẩm được bảo quản lâu hơn, đáp ứng nhu cầu thị trường và mở rộng khả năng tiếp cận đến những thị trường xa hơn.
Hệ thống kênh phân phối và cung cấp thông tin thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nông hộ cập nhật phương pháp canh tác mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và nhận thông tin giá cả mới nhất Việc tiếp cận thông tin này giúp tăng cường khả năng thương lượng của các tác nhân trong chuỗi cung ứng.
Các giải pháp nâng cấp chuỗi giá trịcàphê
Để nâng cấp chuỗi giá trị (CGT), các nghiên cứu thường tập trung vào các giải pháp nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện chất lượng sản phẩm và tăng cường liên kết giữa các tác nhân tham gia trong chuỗi giá trị Đối với CGT cà phê, một số nghiên cứu đã phân tích xu hướng cạnh tranh và đề xuất giải pháp để nâng cao kim ngạch xuất khẩu cũng như lợi thế cạnh tranh của ngành cà phê (Deodhar & Pandey, 2008; Hổ & Dưỡng, 2011a).
Nghiên cứu của Tráng & Bửu (2015) đã chỉ ra rằng có bốn nhân tố chính tác động tích cực đến kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nhân Việt Nam Những nhân tố này bao gồm: (1) Mối quan hệ kinh doanh; (2) Đặc điểm thị trường cà phê thế giới; (3) Năng lực quản lý công ty; và (4) Chiến lược Marketing xuất khẩu Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp.
(5) Thái độ và nhận thức quản lý xuất khẩu; và (6) Đặc điểm thị trường cà phê trongnước.
Chất lượng cà phê là yếu tố then chốt để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Do đó, nâng cao chất lượng sản phẩm trong chuỗi giá trị cà phê là giải pháp cần thiết để cải thiện khả năng cạnh tranh, như đã được đề xuất trong một số nghiên cứu (Trúc và ctvt., 2012; Hoang và ctvt., 2012; FAO, 2015; USAID, 2017; Piaovà ctvt., 2019).
Nghiên cứu năm 2012 chỉ ra rằng chất lượng sản phẩm cà phê nhân của Đắk Lắk còn thấp do kỹ thuật canh tác, thu hái và chế biến không đạt tiêu chuẩn Điều này dẫn đến khả năng cạnh tranh về chất lượng sản phẩm cà phê nhân của Đắk Lắk kém hơn so với các nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới Tác giả đã đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cà phê nhân, qua đó tăng cường khả năng cạnh tranh, tương tự như những giải pháp cải thiện chất lượng cà phê của các nông hộ tại khu vực Tây Nguyên (Hoang và ctv., 2012) Ngoài ra, FAO (2015) cũng đã thực hiện phân tích liên quan đến vấn đề này.
CGT cà phê Arabica tại các tỉnh miền núi phía Bắc cần nâng cao chất lượng để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng về cà phê chất lượng cao Đề xuất áp dụng tiêu chuẩn 4C, lựa chọn giống tốt và thu hoạch đúng độ chín sẽ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm Nghiên cứu của Piao và cộng sự (2019) cũng cho thấy việc áp dụng tiêu chuẩn sản xuất bền vững tự nguyện 4C là một chiến lược hiệu quả để nâng cấp quy trình sản xuất cà phê cho các nông hộ tại Brazil, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm cà phê.
Việc nâng cấp giá trị gia tăng (GTGT) cho sản phẩm cà phê thông qua đầu tư công nghệ chế biến sâu nhằm phát triển thị trường tiêu thụ hiện đang là vấn đề quan trọng Phân tích sự tham gia của Việt Nam vào chuỗi giá trị cà phê toàn cầu, Xuân và cộng sự (2016) cùng với Linh đã chỉ ra những tiềm năng và thách thức cần được xem xét.
Việt Nam hiện đang ở giai đoạn đầu của chuỗi giá trị cà phê, với giá trị gia tăng thấp do chủ yếu xuất khẩu cà phê dưới dạng nguyên liệu thô Để cải thiện tình hình, ngành cà phê cần chú trọng nâng cao chất lượng sản phẩm thay vì chỉ tập trung vào sản lượng, đồng thời đầu tư vào khâu chế biến để tạo ra giá trị gia tăng cao hơn Tương tự, USAID đã đề xuất các chiến lược nâng cấp chuỗi giá trị cà phê tại Philippines nhằm tăng giá trị cho cà phê Arabica Nghiên cứu của Boaventura và cộng sự cũng cho thấy rằng nhu cầu ngày càng tăng về cà phê đặc sản sẽ nâng cao giá trị gia tăng, dẫn đến giá bán cao hơn và lợi nhuận lớn hơn cho các bên tham gia trong chuỗi.
Tăng cường liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê là một giải pháp quan trọng được nhiều nghiên cứu đề xuất FAO (2015) khuyến nghị tăng cường liên kết dọc giữa nông hộ và nhà thu mua trong chuỗi giá trị cà phê Arabica ở miền núi phía Bắc Hanh & Diem (2017) đã phân tích mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị cà phê ở Tây Nguyên, từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường liên kết ngang giữa nông hộ và liên kết dọc với nhà chế biến nhằm giảm chi phí và tăng lợi thế cạnh tranh Boaventura và cộng sự (2018) nghiên cứu mô hình tạo ra giá trị dọc theo chuỗi cà phê đặc sản tại Brazil, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển quan hệ hợp tác dọc theo chuỗi để nâng cao chất lượng sản phẩm Vicol và cộng sự (2018) cũng khẳng định rằng sự nâng cấp trong chuỗi giá trị cà phê đặc sản gắn liền với sự tham gia của cộng đồng sản xuất và cam kết trách nhiệm xã hội Tuy nhiên, các mô hình cộng đồng trồng cà phê tại các đảo Sulawesi, Bali và Java ở Brazil cho thấy sự bất bình đẳng, khi lợi ích chủ yếu tập trung vào các cá nhân chủ chốt, từ đó làm giảm hiệu quả trong nỗ lực xóa đói giảm nghèo.
Nhiều giải pháp nâng cấp GTG cà phê đã được đề cập, bao gồm việc điều chỉnh chế độ thương mại cà phê quốc tế và quy định nội địa tại các nước sản xuất, nhằm ứng phó với khủng hoảng cà phê toàn cầu (Ponte, 2001) Nghiên cứu cũng nhấn mạnh các chính sách cụ thể để giải quyết sự mất cân bằng trên thị trường cà phê toàn cầu Hổ & Dưỡng (2011b) đã tập trung vào việc nâng cao thu nhập cho nông hộ trồng cà phê tại Tây Nguyên, trong khi FAO (2015) đề xuất giải pháp nâng cao năng suất cho cà phê Arabica ở các tỉnh miền núi phía Bắc Ngoài ra, việc phân tích rủi ro và tìm kiếm giải pháp khắc phục rủi ro cho nông hộ trồng cà phê cũng được đặt ra (Thinh & Huong).
2015;Thắngvàctv.,2017).Ngoàiracòncógiảiphápxâydựngthươnghiệuchongành cà phê củaViệt Nam (Xuan vàctv., 2016; Linh,2017).