Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Tính cấp thiết về mặt lý luận Gắn liền với sự ra đời, phát triển của một tổ chức hoạt động quản lý nói chung cũng như quản lý tài chính nói riêng có chức năng kiểm tra, kiểm soát luôn giữ vai trò quan trọng thực hiện chủ yếu trong kiểm soát nội bộ của tổ chức. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế ngân hàng thương mại (NHTM) có vai trò rất quan trong cung cấp vốn cho các dự án cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh Nghiệp (DN), cá nhân. Bên cạnh đó cũng có nhiều thách thức để mở ra cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản lý, giao lưu, hợp tác cũng như các công nghệ khoa học từ các NHTM của các quốc gia phát triển. Từ đó NHTM trong nước sẽ tự nâng cao tính cạnh tranh, hoạt động an toàn hiệu quả, tồn tại bền vững trong môi trường mới. Nếu NHTM Việt Nam không kịp thời đổi mới sẽ không cạnh tranh và bắt kịp với các NHTM nước ngoài có nhiều thế mạnh như nghiệp vụ, chuyên môn và khả năng chăm sóc khách hàng trình thì nguy cơ rủi ro, tổn thất sẽ cao hơn. Để tránh được các rủi ro các NHTM phải đặt kiểm soát nội (KSNB) là một trong những hoạt động chính, thường xuyên trong điều hành tổ chức. Việc KSNB hữu hiệu sẽ đảm bảo cho ngân hàng tuân thủ đúng quy định, luật pháp, kế hoạch, thủ tục, chế độ của ngành đồng thời phát hiện kịp thời ngăn chặn, sửa chữa các sai xót cũng như vi phạm trong ngành ngân hàng. Chính bởi những KSNB chặt chẽ sẽ giúp ngân hàng ngày càng phát triển và đạt được những kỳ vọng, mục tiêu của ngành ngân hàng. Tính cấp thiết về mặt thực tiễn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) là NHTM hàng đầu hiện nay, cung cấp đa dạng sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế. Đây cũng là ngân hàng thương mại Việt Nam đầu tiên mở chi nhánh hoạt động tại Châu Âu với hệ thống không ngừng phát triển về dịch vụ, sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú và hiện đại. Ngân hàng luôn tạo điều kiện cho khách hàng thực hiện giao dịch thuận tiện mọi lúc, mọi nơi. Với sự phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, ngành nghề và các sản phẩm dịch vụ đòi hỏi việc KSNB được như vậy VietinBank mới có thể phát triển bền vững và luôn giữ được hình ảnh của mình. Đối với VietinBank, vấn đề an toàn trong hoạt động tín dụng luôn được đặt lên hàng đầu. Song trên thực tế, mặc dù hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại VietinBank luôn được tăng cường nhưng việc phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn các loại rủi ro chưa đạt hiệu quả cao. Việc hoàn thiện hệ thống KSNB là một trong những vấn đề cấp thiết đối với hệ thống VietinBank hiện nay. Vì thế, tôi chọn đề tài “Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ. 1.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu Các kết quả nghiên cứu ở nước ta đã cung cấp một hệ thống lý thuyết, lý luận chung về kiểm soát nội bộ phục vụ rất nhiều kiến thức cho công tác giảng dạy tại các trường đại học chuyên ngành kinh tế, kế toán – kiểm toán chứ chưa vận dụng cụ thể tại từng loại hình đơn vị nào. Trên cơ sở nhận thức được vai trò quan trọng của kiểm soát nội bộ đối với các hoạt động của ngân hàng thương mại, đến nay đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thương mại ở các góc độ và mục đích khác nhau. Các đề tài đã đóng góp được nhiều giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của kiểm soát nội bộ trong các NHTM. Một số đề tài tiêu biểu kể đến như là: Đỗ Thị Bích Phượng (2014) với công trình “Hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam”. Tác giả Phượng cũng hệ thống những nội dung cơ bản của KSNB và đã nêu ra được giải pháp vào việc hoàn thiện KSNB cho trụ sở chính của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Tuy nhiên, tác giả Phượng nghiên cứu với phạm vi là toàn bộ ngân hàng VietinBank mà chưa đi sâu vào từng thành phần của KSNB gắn với từng chi nhánh cụ thể. Luận văn thạc sỹ kinh tế của tác giả Nguyễn Tất Lê Ngân (2016): “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam - Chi nhánh Thừa Thiên Huế”, bảo vệ tại trường Học viện Hành chính Quốc gia. Đề tài hệ thống hóa một cách ngắn ngọn nhưng khá đầy đủ những vấn đề lý luận căn bản về hoạt động KSNB tín dụng của các NHTM dựa trên nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Vì vậy, kết quả của đề tài này có thể được sử dụng như là tài liệu tham khảo về lĩnh vực KSNB tín dụng của các NHTM. Kết quả của đề tài nghiên cứu này là một nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý của VietinBank Nam Thừa Thiên Huế để đưa ra các quyết định, chính sách phù hợp nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng trong tương lai, góp phần đảm bảo tính an toàn và nâng cao hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Trần Thị Huyền Trang (2017) với đề tài” Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam- Chi nhánh Hoàng Mai”. Ở đây đề tài này, tác giả đã hệ thống đầy đủ các nội dung: lý luận chung về hệ thống KSNB tại ngân hàng thương mại, thực trạng KSNB tại đơn vị tác giả công tác, đánh giá thực trạng và có giải pháp hoàn thiện, qua đó tác giả đã thể hiện 5 yếu tố: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro; các hoạt động kiểm soát; hệ thống thông tin; truyền thông và giám sát. Tuy nhiên ở phần đánh giá thực trạng hệ thống KSNB , tác giả chỉ dừng lại ở việc mô tả các nội dung công việc được triển khai tại đơn vị chứ chưa đi sâu phân tích những bất cập phát sinh trong quá trinh thực hiện. Bùi Mai Phương (2019) với công trình “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bãi Cháy”. Trong nghiên cứu của mình tác giả đã đề câp đến những rủi ro, mục tiêu phát hiện và giảm thiểu rủ ro trong hoạt động tín dụng nhằm giúp Viettinbank chi nhánh Bãi Cháy cần xây dựng các bộ phận nghiên cứu, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc KSNB nhằm nhận diện rủi ro và tham mưu cho ban điều hành. Tô Thị Thủy (2020) với đề tài “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt nam – chi nhánh Hà Nội”. Tác giả đã nghiên cứu các nhân tố cấu thành KSNB hoạt động tín dụng và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến hiệu quả hoạt động tín dụng, từ đó gợi ý chính sách hoàn thiện việc thiết lập KSNB hoạt động tín dụng nhằm cung cấp đảm bảo hợp lý mục tiêu hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao nhất tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội. Các công trình nghiên cứu trên cũng hệ thống hóa những nội dung cơ bản của KSNB gắn với 5 thành phần hơn là gắn với 4 thành phần như trước đây, cũng minh họa gắn với các trường hợp nghiên cứu điển hình khác nhau và phần nào đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục và hoàn thiện những hạn chế của KSNB trong những đơn vị nghiên cứu đó. Kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả sẽ nghiên cứu KSNB tại VietinBank gắn với việc cạnh tranh rất gay gắt từ phía các ngân hàng cũng như sự hội nhập rất sâu rộng kinh tế quốc tế. 1.3. Mục tiêu nghiên cứu 1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Nghiên cứu thực trạng KSNB đơn vị là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 1.3.2. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể Thứ nhất, xác định những nội dung cơ bản về KSNB trong ngân hàng thương mại. Thứ hai, tìm hiểu và đánh giá thực trạng về KSNB tại VietinBank, qua đó chỉ ra những hạn chế trong KSNB tại chính đơn vị nghiên cứu. Thứ ba, đưa ra những giải pháp để hoàn thiện KSNB tại VietinBank. 1.4. Câu hỏi nghiên cứu Để thỏa mãn các mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: Thứ nhất, có những nội dung cơ bản nào liên quan đến KSNB trong ngân hàng thương mại? Thứ hai, thực tế KSNB tại VietinBank được thực hiện nay như thế nào? Thứ ba, để hoàn thiện KSNB tại VietinBank cần thực hiện những giải pháp nào? 1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.5.1. Đối tượng nghiên cứu Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam. 1.5.2. Phạm vi nghiên cứu + Không gian: VietinBank + Thời gian: dữ liệu thu thập năm 2018 đến năm 2020 + Nội dung: KSNB được nghiên cứu qua 5 thành phần nội dung gồm: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hệ thống thông tin và truyền thông; Hoạt động kiểm soát; Hoạt động giám sát. 1.6. Phương pháp nghiên cứu 1.6.1. Phương pháp thu thập dữ liệu Dữ liệu được sử dụng trong luận văn bao gồm cả dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp: + Dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu này được thu thập từ các công trình nghiên cứu, đề tài, bài báo, hội thảo, tài liệu giáo trình có liên quan đến KSNB, các thành phần cụ thể, các văn bản pháp quy, quy định của Nhà nước, của 7 VietinBank liên quan đến KSNB như các chính sách, quy định, nội quy, thủ tục kiểm soát … + Dữ liệu sơ cấp: Dữ liệu được thu thập trong quá trình trao đổi với Ban lãnh đạo, phòng kiểm soát, phòng kế toán … tại VietinBank. Các dữ liệu này, ngoài những thông tin chung về VietinBank, thì tác giả tập trung sâu vào các vấn đề, nội dung trực tiếp liên quan đến 5 thành phần của KSNB theo quan điểm mới gồm: Môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; thông tin & truyền thông; hoạt động kiểm soát; và các hoạt động giám sát. Ngoài ra, tác giả cũng tiến hành quan sát các hoạt động của VietinBank để có cái nhìn sát thực về các nội dung (thành phần) KSNB tại VietinBank. 1.6.2. Phương pháp xử lý dữ liệu Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để giải quyết nội dung của đề tài, cụ thể là: - Chương 2: Được thực hiện bằng phương pháp tổng hợp lý thuyết, hệ thống các lý luận từ các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về kiểm soát nội bộ. Phân tích các yếu tố cấu thành kiểm soát nội bộ, thực trạng về kiểm soát nôi bộ một số đơn vị trong lĩnh vực ngân hàng. - Chương 3: Thực hiện phương pháp tổng hợp số liệu, phân tích đánh giá thực trạng tổ chức kiểm soát nội bộ tại bệnh viện. Tác giả dùng phương pháp điều tra, khảo sát, phương pháp chọn mẫu, phương pháp thống kê mô tả và kỹ thuật phân tích để tổng hợp và phân tích các kết quả khảo sát. - Chương 4: Chủ yếu sử dụng phương pháp suy diễn và quy nạp dựa trên cơ sở lý luận ở chương 2, phân tích thực trạng ở chương 3, để đề ra các nhận xét giải pháp nâng cao hiệu quả của kiểm soát nội bộ tại đơn vị nghiên cứu. 1.7. Đóng góp của đề tài - Về lý luận: Đề tài đã tìm hiểu cơ sở lý luận về KSNB tại NHTM. - Về thực tiễn: Đề tài đã phân tích thực trạng KSNB tại VietinBank; đánh giá được ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong hoạt động KSNB tại VietinBank, từ đó đưa ra giải pháp để hoàn thiện KSNB tại Ngân hàng. 1.8. Kết cấu của đề tài Đề tài được kết cấu gồm 4 chương: Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Lý luận chung về KSNB trong các doanh nghiệp. Chương 3: Thực trạng kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các kiến nghị đề xuất và kết luận.
GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tính cấp thiết về mặt lý luận
Sự ra đời và phát triển của một tổ chức quản lý, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý tài chính, luôn gắn liền với chức năng kiểm tra và kiểm soát, đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện kiểm soát nội bộ của tổ chức.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp vốn cho các dự án và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cá nhân Tuy nhiên, NHTM cũng phải đối mặt với nhiều thách thức, từ đó tạo cơ hội học hỏi kinh nghiệm quản lý và hợp tác với các ngân hàng phát triển Để nâng cao tính cạnh tranh và hoạt động an toàn, NHTM Việt Nam cần kịp thời đổi mới, nếu không sẽ gặp khó khăn trong việc cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài có ưu thế hơn Để giảm thiểu rủi ro, kiểm soát nội bộ (KSNB) cần được xem là hoạt động chính trong quản lý tổ chức, giúp ngân hàng tuân thủ quy định và phát hiện kịp thời các sai sót KSNB chặt chẽ sẽ là yếu tố then chốt giúp ngân hàng phát triển và đạt được các mục tiêu đề ra.
Tính cấp thiết về mặt thực tiễn
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) là ngân hàng hàng đầu tại Việt Nam, cung cấp đa dạng sản phẩm dịch vụ tài chính hiện đại đạt tiêu chuẩn quốc tế Là ngân hàng thương mại đầu tiên mở chi nhánh tại Châu Âu, VietinBank liên tục phát triển hệ thống dịch vụ, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng giao dịch mọi lúc, mọi nơi Để phát triển bền vững và giữ vững hình ảnh, VietinBank đặc biệt chú trọng đến an toàn trong hoạt động tín dụng Mặc dù hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) được tăng cường, việc phòng ngừa và phát hiện rủi ro vẫn chưa đạt hiệu quả cao, do đó, hoàn thiện hệ thống KSNB là vấn đề cấp thiết hiện nay.
Vì thế, tôi chọn đề tài “ Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam ” để làm luận văn thạc sĩ.
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu ở Việt Nam đã xây dựng một hệ thống lý thuyết về kiểm soát nội bộ, cung cấp kiến thức quý giá cho giảng dạy tại các trường đại học chuyên ngành kinh tế và kế toán – kiểm toán, nhưng chưa được áp dụng cụ thể cho từng loại hình đơn vị.
Kiểm soát nội bộ đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng thương mại, dẫn đến nhiều nghiên cứu về hệ thống này từ các góc độ khác nhau Những nghiên cứu đã đề xuất nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Một trong những nghiên cứu tiêu biểu là của Đỗ Thị Bích Phượng (2014) với công trình “Hoàn thiện hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam”, trong đó tác giả đã hệ thống hóa các nội dung cơ bản của kiểm soát nội bộ và đưa ra giải pháp hoàn thiện cho trụ sở chính của VietinBank Tuy nhiên, nghiên cứu này vẫn chưa đi sâu vào từng thành phần của kiểm soát nội bộ liên quan đến các chi nhánh cụ thể.
Luận văn thạc sỹ kinh tế của Nguyễn Tất Lê Ngân (2016) nghiên cứu về việc kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tín dụng Bài viết cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình kiểm soát nội bộ, góp phần vào việc tăng cường an toàn và hiệu quả trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Việt Nam - Chi nhánh Thừa Thiên Huế”, bảo vệ tại trường Học viện Hành chính
Đề tài này hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) tín dụng của các ngân hàng thương mại (NHTM), cung cấp tài liệu tham khảo hữu ích cho lĩnh vực này Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ các nhà quản lý của VietinBank Nam Thừa Thiên Huế trong việc đưa ra quyết định và chính sách phù hợp, nhằm hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng trong tương lai, đảm bảo an toàn và nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Trần Thị Huyền Trang (2017) đã nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Mai", trong đó tác giả hệ thống hóa lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng KSNB tại đơn vị, và đưa ra các giải pháp hoàn thiện Nghiên cứu đã chỉ ra 5 yếu tố quan trọng của KSNB: môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, hệ thống thông tin, truyền thông và giám sát Tuy nhiên, trong phần đánh giá thực trạng, tác giả chủ yếu mô tả các công việc đã triển khai mà chưa đi sâu vào phân tích các bất cập phát sinh trong quá trình thực hiện.
Bùi Mai Phương (2019) trong nghiên cứu “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Bãi Cháy” đã chỉ ra những rủi ro trong hoạt động tín dụng và mục tiêu phát hiện, giảm thiểu những rủi ro này Nghiên cứu nhấn mạnh rằng Viettinbank chi nhánh Bãi Cháy cần xây dựng các bộ phận nghiên cứu để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kiểm soát nội bộ, từ đó nhận diện rủi ro và cung cấp tư vấn cho ban điều hành.
Tô Thị Thủy (2020) đã nghiên cứu đề tài "Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội", tập trung vào các nhân tố cấu thành kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng Tác giả đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này đến hiệu quả hoạt động tín dụng và đề xuất các chính sách nhằm hoàn thiện việc thiết lập kiểm soát nội bộ, từ đó đảm bảo mục tiêu hoạt động tín dụng đạt hiệu quả cao nhất tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam.
Các nghiên cứu đã hệ thống hóa các nội dung cơ bản của Kiểm soát nội bộ (KSNB) với 5 thành phần, thay vì 4 như trước đây, đồng thời minh họa qua các trường hợp nghiên cứu điển hình và đề xuất giải pháp khắc phục những hạn chế của KSNB Dựa trên kết quả của các nghiên cứu trước, tác giả sẽ tập trung vào KSNB tại VietinBank trong bối cảnh cạnh tranh ngân hàng ngày càng gay gắt và sự hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.
Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Nghiên cứu thực trạng KSNB đơn vị là Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
1.3.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Thứ nhất, xác định những nội dung cơ bản về KSNB trong ngân hàng thương mại
Thứ hai, tìm hiểu và đánh giá thực trạng về KSNB tại VietinBank, qua đó chỉ ra những hạn chế trong KSNB tại chính đơn vị nghiên cứu.
Thứ ba, đưa ra những giải pháp để hoàn thiện KSNB tại VietinBank.
Câu hỏi nghiên cứu
Để thỏa mãn các mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
Thứ nhất, có những nội dung cơ bản nào liên quan đến KSNB trong ngân hàng thương mại?
Thứ hai, thực tế KSNB tại VietinBank được thực hiện nay như thế nào? Thứ ba, để hoàn thiện KSNB tại VietinBank cần thực hiện những giải pháp nào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
+ Thời gian: dữ liệu thu thập năm 2018 đến năm 2020
Kiểm soát nội bộ (KSNB) được cấu thành từ năm thành phần chính: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hệ thống thông tin và truyền thông, hoạt động kiểm soát, và hoạt động giám sát Mỗi thành phần này đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo hiệu quả và tính minh bạch của quy trình kiểm soát nội bộ.
Phương pháp nghiên cứu
1.6.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu được sử dụng trong luận văn bao gồm cả dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp:
Dữ liệu thứ cấp là thông tin được thu thập từ các nghiên cứu, bài báo, hội thảo và tài liệu giáo trình liên quan đến kiểm soát nội bộ (KSNB) Các nguồn dữ liệu này bao gồm các văn bản pháp quy, quy định của Nhà nước và các chính sách, nội quy, thủ tục kiểm soát của VietinBank, nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu và phát triển KSNB một cách hiệu quả.
Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ các cuộc trao đổi với Ban lãnh đạo, phòng kiểm soát và phòng kế toán tại VietinBank, tập trung vào năm thành phần của KSNB theo quan điểm mới: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, thông tin & truyền thông, hoạt động kiểm soát và các hoạt động giám sát Tác giả cũng thực hiện quan sát các hoạt động của VietinBank để có cái nhìn thực tế về các thành phần KSNB tại ngân hàng này.
1.6.2 Phương pháp xử lý dữ liệu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để giải quyết nội dung của đề tài, cụ thể là:
Chương 2 của bài viết được thực hiện thông qua phương pháp tổng hợp lý thuyết, hệ thống hóa các lý luận từ tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến kiểm soát nội bộ Nội dung chương này phân tích các yếu tố cấu thành của kiểm soát nội bộ và đánh giá thực trạng kiểm soát nội bộ tại một số đơn vị trong lĩnh vực ngân hàng.
Trong chương 3, tác giả thực hiện phương pháp tổng hợp số liệu và phân tích để đánh giá thực trạng tổ chức kiểm soát nội bộ tại bệnh viện Để đạt được mục tiêu này, tác giả đã áp dụng các phương pháp điều tra, khảo sát, chọn mẫu, thống kê mô tả và kỹ thuật phân tích nhằm tổng hợp và phân tích các kết quả khảo sát một cách hiệu quả.
Chương 4 tập trung vào việc áp dụng các phương pháp suy diễn và quy nạp, dựa trên lý luận từ chương 2 và thực trạng phân tích ở chương 3, nhằm đưa ra các nhận xét và giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu quả kiểm soát nội bộ tại đơn vị nghiên cứu.
Đóng góp của đề tài
- Về lý luận: Đề tài đã tìm hiểu cơ sở lý luận về KSNB tại NHTM
Bài viết đã phân tích thực trạng kiểm soát nội bộ (KSNB) tại VietinBank, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động KSNB, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế này Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện KSNB tại ngân hàng.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG CÁC NGÂN HÀNG
Khái quát chung về KSNB
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của KSNB
Khái niệm về Kiểm soát Nội bộ (KSNB) đã được áp dụng từ đầu thế kỷ 20 trong lĩnh vực kiểm toán Từ thập niên 1940, các tổ chức kế toán và kiểm toán nội bộ tại Hoa Kỳ đã cho ra đời nhiều báo cáo và tiêu chuẩn liên quan đến KSNB Đến thập niên 1970, KSNB trở thành mối quan tâm đặc biệt trong thiết kế hệ thống và kiểm toán, tập trung vào việc cải tiến và ứng dụng KSNB trong các cuộc kiểm toán Các đạo luật như Đạo luật chống hành vi hối lộ ở nước ngoài năm 1977 cùng các báo cáo của Cohen Commission và FEI đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện hệ thống kế toán và KSNB Uỷ ban Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC) cũng yêu cầu các nhà quản trị báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ Năm 1979, Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ (AICPA) thành lập Uỷ ban tư vấn đặc biệt về kiểm toán nội bộ nhằm cung cấp hướng dẫn cho việc thiết lập và đánh giá hệ thống KSNB.
Giai đoạn 1980-1985, Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Hoa Kỳ đã tiến hành sàng lọc và sửa đổi các chuẩn mực liên quan đến đánh giá của kiểm toán độc lập về Kiểm soát Nội bộ (KSNB) và báo cáo KSNB Đồng thời, Hiệp hội Kế toán Nội bộ (IIA) cũng ban hành chuẩn mực và hướng dẫn cho kiểm toán viên nội bộ, nhấn mạnh bản chất của kiểm toán và vai trò của các bên liên quan trong việc thiết lập, duy trì và đánh giá KSNB.
Từ năm 1985, sự chú ý đối với Kiểm soát nội bộ (KSNB) đã gia tăng đáng kể Hội đồng quốc gia chống gian lận báo cáo tài chính Hoa Kỳ đã được thành lập nhằm nâng cao tính minh bạch và ngăn chặn gian lận trong lĩnh vực tài chính.
Uỷ ban Treaway được thành lập vào năm 1985, cùng với sự ra đời của Uỷ ban các tổ chức đồng bảo trợ (COSO) thuộc Hội đồng quốc gia chống gian lận báo cáo tài chính Hoa Kỳ, nhằm nghiên cứu và công bố báo cáo COSO 1992 Báo cáo này đã thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ (KSNB) để phục vụ nhu cầu của nhiều đối tượng khác nhau, đồng thời cung cấp hệ thống tiêu chuẩn giúp các đơn vị đánh giá và hoàn thiện hệ thống KSNB COSO 1992 đã tạo nền tảng lý luận cho nhiều nghiên cứu về KSNB trong các lĩnh vực khác nhau, như nghiên cứu hệ thống đánh giá rủi ro doanh nghiệp vào năm 2013 và báo cáo Basel 1998 về khuôn khổ KSNB trong ngân hàng Nhiều quốc gia cũng đã xây dựng khuôn khổ lý thuyết riêng về KSNB, điển hình là báo cáo COSO 1995 của Canada và báo cáo Turnbull 1999 của Anh.
2.1.2 Các quan điểm về KSNB
Theo kinh tế học hiện đại, quản lý kinh tế bao gồm bốn hoạt động chính: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra kiểm soát Trong đó, kiểm tra kiểm soát là hoạt động diễn ra liên tục trong mọi giai đoạn của quá trình quản lý, giúp các nhà quản lý đánh giá hiệu quả của các chức năng khác trong toàn bộ hoạt động.
Dưới góc độ quản lý, quá trình nhận thức và nghiên cứu kiểm soát nội bộ đã dẫn đến sự hình thành nhiều định nghĩa khác nhau.
Theo chuẩn mực Kiểm toán về Đánh giá rủi ro và Kiểm soát nội bộ (ISA 400 trước đây) của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IAFC), Kiểm soát nội bộ (KSNB) được định nghĩa là một quá trình do các nhà quản lý và nhân viên trong tổ chức thiết kế và thực hiện, nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu liên quan đến độ tin cậy của Báo cáo tài chính (BCTC), hiệu quả hoạt động, hiệu năng quản lý và tuân thủ các quy định, luật lệ.
Năm 1949, Viện Kiểm toán Độc lập Hoa Kỳ (AICPA) đã định nghĩa Kiểm soát Nội bộ (KSNB) là các biện pháp và phương pháp được chấp nhận và thực hiện trong một tổ chức nhằm bảo vệ tiền và tài sản khác, cũng như đảm bảo tính chính xác trong việc ghi chép sổ sách.
Theo Thông tư số 44/2011/TT-NHNN, KSNB được định nghĩa là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình và quy định nội bộ cùng với cơ cấu tổ chức của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài Những yếu tố này được xây dựng theo quy định của Thông tư nhằm đảm bảo việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời các rủi ro, đồng thời đạt được các yêu cầu đã đề ra.
Theo báo cáo COSO 1992 và 2013, kiểm soát nội bộ (KSNB) là một quá trình được thiết lập bởi Ban giám đốc, nhà quản lý và nhân viên trong tổ chức nhằm đảm bảo thực hiện ba mục tiêu chính: cung cấp báo cáo tài chính đáng tin cậy, tuân thủ các quy định và luật lệ, cũng như đảm bảo hoạt động hiệu quả và hiệu suất cao.
KSNB không chỉ là một sự kiện hay tình huống đơn lẻ, mà là chuỗi hoạt động kiểm soát liên tục, hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị Các hoạt động này phối hợp nhịp nhàng để tạo thành một thể thống nhất, giúp đơn vị đạt được các mục tiêu đã đề ra.
KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người, bao gồm Ban giám đốc, nhà quản lý và toàn bộ nhân viên Nhà quản lý đặt ra mục tiêu và thiết lập cơ chế kiểm soát để giám sát các hoạt động hướng tới mục tiêu đó Đồng thời, KSNB cũng ảnh hưởng đến hành vi của nhà quản lý, tạo ra ý thức kiểm soát cá nhân và định hướng các hoạt động đến mục tiêu chung của đơn vị Văn hóa lãnh đạo của từng nhà quản lý sẽ ảnh hưởng đến KSNB tại mỗi đơn vị khác nhau.
KSNB chỉ có thể đảm bảo một mức độ hợp lý cho nhà quản lý trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị, do tồn tại những hạn chế tiềm tàng như sai sót và gian lận của con người, sự lạm quyền của nhà quản lý, cũng như mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí khi thiết lập KSNB.
Mục tiêu kiểm soát nội bộ (KSNB) là yếu tố quan trọng mà mỗi đơn vị cần xác định để phát triển các chiến lược phù hợp Các mục tiêu này có thể là mục tiêu chung cho toàn bộ đơn vị hoặc mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động và bộ phận Để dễ quản lý, các mục tiêu kiểm soát có thể được phân chia thành ba nhóm chính.
Mục tiêu hoạt động của Ngân hàng là đảm bảo các chính sách được thực hiện một cách hiệu quả và an toàn, nhằm bảo vệ và quản lý tài sản cũng như nguồn lực một cách kinh tế Ngân hàng cần phải kiểm soát và phòng ngừa rủi ro trong toàn bộ hoạt động quản lý, điều hành và tác nghiệp để đạt được sự an toàn và hiệu quả tối ưu.
Mục tiêu của hệ thống thông tin tài chính và quản lý là đảm bảo tính trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời Ngân hàng cần xây dựng hệ thống sổ sách, hồ sơ và báo cáo tài chính chính xác để phục vụ cho các cấp điều hành, cơ quan giám sát và đối tác bên ngoài khi cần Thông tin gửi đến Hội đồng quản trị, Ban điều hành và các bên liên quan phải đáng tin cậy và đầy đủ, giúp họ đưa ra quyết định quản lý và điều hành chính xác.
Các yếu tố cấu thành KSNB
Hiện nay, các ngân hàng ở những quốc gia có thị trường tài chính phát triển đều áp dụng khung KSNB thống nhất theo Ủy ban Tổ chức Tài trợ (COSO) để đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ Việc đánh giá này tập trung vào 5 thành phần chính của hệ thống KSNB.
- Các hoạt động kiểm soát.
- Thông tin và truyền thông.
Dựa trên khung kiểm soát nội bộ (KSNB) của COSO, Ủy ban Basel đã phát triển khung KSNB dành riêng cho các ngân hàng, cung cấp hướng dẫn cho việc thiết lập và đánh giá hệ thống KSNB, đặc biệt là cho các ngân hàng tuân thủ Basel Ủy ban Basel đã công bố 13 nguyên tắc, chia thành 5 nhóm yếu tố KSNB có mối quan hệ chặt chẽ, nhằm giúp các tổ chức tín dụng xây dựng và đánh giá hệ thống KSNB Các nguyên tắc này về cơ bản tương đồng với các thành phần KSNB trong báo cáo COSO.
Môi trường kiểm soát của đơn vị bao gồm các yếu tố môi trường chung ảnh hưởng đến thiết kế, xây dựng và thực hiện các biện pháp kiểm soát nhằm đảm bảo tuân thủ quy định, chế độ và chính sách Nó phản ánh thái độ, năng lực, nhận thức và các hoạt động của nhà quản lý trong việc duy trì hiệu quả quản lý.
Các nguyên tắc về môi trường kiểm soát:
Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và kiểm tra định kỳ chiến lược kinh doanh cùng các chính sách chủ đạo của ngân hàng, đồng thời hiểu rõ các rủi ro chính và thiết lập mức độ chấp nhận rủi ro HĐQT cũng phải đảm bảo ban giám đốc thực hiện các biện pháp cần thiết để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro, cũng như phê duyệt cơ cấu tổ chức và theo dõi hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ Cuối cùng, HĐQT chịu trách nhiệm đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập và duy trì một cách đầy đủ và hiệu quả.
Nguyên tắc 2 yêu cầu ban giám đốc chi nhánh thực hiện các chiến lược và chính sách đã được HĐQT phê duyệt, đồng thời phát triển quy trình để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro ngân hàng Cần duy trì cơ cấu tổ chức rõ ràng về trách nhiệm, thẩm quyền và mối quan hệ giữa các bộ phận, đảm bảo hiệu quả trong việc giao trách nhiệm Ngoài ra, cần thiết lập các chính sách kiểm soát nội bộ phù hợp và theo dõi mức độ đầy đủ cũng như hiệu quả của kiểm soát nội bộ.
Nguyên tắc 3 nhấn mạnh rằng HĐQT và ban giám đốc có trách nhiệm nâng cao tiêu chuẩn về tính thống nhất và đạo đức nghề nghiệp, đồng thời thiết lập nền tảng văn hóa trong ngân hàng Điều này giúp tất cả nhân viên nhận thức rõ tầm quan trọng của kiểm soát nội bộ (KSNB) và vai trò của họ trong quá trình này, khuyến khích sự tham gia đầy đủ của mọi nhân viên vào hoạt động KSNB.
Các nhân tố của môi trường kiểm soát:
Quan điểm điều hành của ban quản trị ảnh hưởng lớn đến chính sách và quy định của đơn vị, bởi họ là cơ quan cao nhất phê duyệt các quy trình Nếu người quản lý chú trọng đến kinh doanh trung thực và cạnh tranh lành mạnh, họ sẽ ưu tiên sự minh bạch trong báo cáo tài chính và áp dụng biện pháp giảm thiểu rủi ro Điều này dẫn đến việc tăng cường kiểm soát và giám sát, đồng thời khuyến khích nhân viên tuân thủ quy trình và quy định trong mọi hoạt động của đơn vị.
Cơ cấu tổ chức là tập hợp các bộ phận chuyên môn hóa với quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng, liên kết chặt chẽ để thực hiện chức năng quản lý của đơn vị Một cơ cấu tổ chức hợp lý giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát nội bộ, đảm bảo hoạt động diễn ra liên tục từ cấp trên xuống cấp dưới Điều này không chỉ hỗ trợ việc ban hành và triển khai quy định mà còn giám sát thực hiện, từ đó phát hiện và ngăn chặn các rủi ro có thể phát sinh trong các hoạt động của đơn vị.
Một cơ cấu tổ chức hợp lý cần thiết lập sự điều hành và kiểm soát toàn diện trong doanh nghiệp, đảm bảo không có sự chồng chéo hay bỏ sót nhiệm vụ Việc phân chia rõ ràng giữa các chức năng sẽ tạo ra sự độc lập giữa các bộ phận, từ đó thúc đẩy kiểm tra và giám sát lẫn nhau trong quá trình thực hiện công việc Để đạt được điều này, các nhà quản lý cần tuân thủ những nguyên tắc nhất định.
Thiết lập sự điều hành và kiểm soát trên toàn bộ đơn vị mình, không được bỏ sót lĩnh vực nào.
Thực hiện phân chia rành mạch ba chức năng: Xử lý nghiệp vụ, ghi chép sổ sách và bảo quản tài sản
Bảo đảm sự độc lập tương đối giữa các bộ phận.
Lập kế hoạch là một chức năng quan trọng của nhà quản lý, bao gồm việc xác định mục tiêu và phương thức thực hiện Kế hoạch này thiết lập các tiêu chuẩn cơ bản cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của đơn vị, bao gồm cả kiểm soát nội bộ Khi nhà quản lý thực hiện tốt công tác lập kế hoạch, nó trở thành công cụ kiểm soát hiệu quả, cho phép theo dõi tiến độ thực hiện, so sánh số liệu thực tế với mục tiêu và phát hiện các yếu tố bất thường ảnh hưởng đến việc đạt được mục tiêu, từ đó điều chỉnh kịp thời.
Chính sách nhân sự trong hoạt động kinh doanh tiền tệ đóng vai trò quan trọng, bên cạnh công nghệ, vì con người là yếu tố quyết định sự phát triển của doanh nghiệp Họ không chỉ thực hiện các thủ tục kiểm soát mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kiểm soát nội bộ (KSNB) Một đội ngũ nhân sự yếu kém về chuyên môn và phẩm chất đạo đức sẽ dẫn đến việc các thủ tục kiểm soát không đạt hiệu quả, trong khi một đội ngũ vững vàng có thể đảm bảo các mục tiêu KSNB mà không cần quá nhiều quy trình Do đó, các nhà quản lý cần xây dựng chính sách rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, khen thưởng và kỷ luật, nhằm khuyến khích nhân viên phát huy tối đa năng lực và đạt được các mục tiêu đề ra Việc này cần được thực hiện liên tục và có tính kế thừa.
Bộ phận kiểm toán nội bộ là một đơn vị độc lập trong tổ chức, có nhiệm vụ kiểm tra và đánh giá các hoạt động nhằm hỗ trợ quản trị nội bộ Theo chuẩn mực kiểm toán nội bộ do Viện kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ ban hành năm 1978, kiểm toán nội bộ được xác định là một chức năng đánh giá độc lập nhằm kiểm tra các hoạt động của tổ chức Mục tiêu chính của kiểm toán nội bộ là giúp các thành viên trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ của họ một cách hiệu quả.
Bộ phận kiểm toán nội bộ đóng vai trò quan trọng trong việc quan sát và đánh giá thường xuyên toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm hiệu quả của thiết kế và vận hành chính sách thủ tục kiểm soát nội bộ (KSNB) Một bộ phận kiểm toán nội bộ hiệu quả cung cấp thông tin chính xác, nhanh chóng và kịp thời về hoạt động doanh nghiệp và chất lượng KSNB, từ đó giúp doanh nghiệp điều chỉnh các quy định và thủ tục kiểm soát một cách hiệu quả Để phát huy tối đa hiệu quả, bộ phận này cần được tổ chức và vận hành một cách chuyên nghiệp.
Bộ phận kiểm toán nội bộ cần phải thuộc cấp cao để đảm bảo không bị giới hạn trong phạm vi hoạt động Họ nên được trao quyền hạn rộng rãi và hoạt động độc lập với phòng kế toán cũng như các đơn vị thực hiện kiểm tra.
Nhân sự của bộ phận kiểm toán nội bộ cần có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng và phẩm chất đạo đức phù hợp với tiêu chuẩn hiện hành Ủy ban kiểm soát bao gồm các thành viên trong hội đồng quản trị, những người am hiểu về lĩnh vực kiểm soát nhưng không đảm nhiệm chức vụ quản lý Nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban kiểm soát là rất quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động kiểm soát nội bộ.
Giám sát sự chấp hành quy định phát luật của đơn vị.
Kiểm tra giám sát các hoạt động của kiểm toán viên nội bộ
Giám sát về tiến trình lập báo cáo tài chính…
Lợi ích của KSNB
Kiểm soát nội bộ là hệ thống chính sách và phương pháp nhằm ngăn chặn gian lận, giảm thiểu sai sót, khuyến khích hiệu quả hoạt động và đảm bảo tuân thủ quy trình Một hệ thống kiểm soát nội bộ mạnh mẽ sẽ mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, bao gồm việc đảm bảo tính chính xác của số liệu kế toán và báo cáo tài chính, cũng như giảm thiểu rủi ro gian lận hoặc trộm cắp từ bên thứ ba hoặc nhân viên.
Giảm bớt rủi ro sai sót không cố ý của nhân viên mà có thể gây tổn hại cho công ty;
Giảm thiểu rủi ro không tuân thủ chính sách và quy trình kinh doanh của công ty là điều cần thiết, đồng thời cần ngăn chặn những rủi ro không cần thiết phát sinh từ việc quản lý rủi ro chưa đầy đủ.
Khi công ty phát triển, lợi ích của kiểm soát nội bộ càng trở nên quan trọng, đặc biệt khi người chủ khó khăn trong việc giám sát rủi ro chỉ bằng kinh nghiệm cá nhân Đối với những công ty có sự tách biệt lớn giữa quản lý và cổ đông, một hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh sẽ tăng cường niềm tin của cổ đông Điều này cho thấy kiểm soát nội bộ là yếu tố then chốt trong hệ thống quản trị doanh nghiệp, đặc biệt quan trọng đối với công ty có nhà đầu tư bên ngoài, khi các nhà đầu tư thường sẵn sàng trả giá cao hơn cho những công ty có rủi ro thấp.
Hạn chế của KSNB
Kiểm soát nội bộ (KSNB) có vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu các sai phạm, tuy nhiên không thể đảm bảo hoàn toàn rằng gian lận và sai sót sẽ không xảy ra Những hạn chế tự nhiên của KSNB bao gồm khả năng phát hiện và ngăn chặn không đầy đủ, cũng như sự phụ thuộc vào con người trong quá trình thực hiện.
KSNB gặp khó khăn trong việc ngăn chặn gian lận và sai sót từ phía người quản lý cấp cao, vì các thủ tục kiểm soát do chính họ thiết lập Những quy trình này chỉ kiểm tra hành vi gian lận và sai sót của nhân viên cấp dưới Khi các quản lý cấp cao có ý định gian lận, họ có khả năng tìm cách lách qua các thủ tục kiểm soát cần thiết.
Kiểm soát trực tiếp của KSNB luôn phụ thuộc vào yếu tố con người, vì những sai sót thường xuất phát từ những hạn chế cá nhân như sự vô ý, bất cẩn, sao lãng, hoặc đánh giá sai Những hiểu lầm trong việc tiếp nhận chỉ dẫn từ cấp trên hoặc các báo cáo từ cấp dưới cũng góp phần làm gia tăng rủi ro trong quá trình kiểm soát.
Gian lận cũng có thể xảy ra do sự thông đồng giữa các nhân viên trong tổ chức với nhau hoặc với bên ngoài.
Nhà quản lý lạm quyền có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng khi bỏ qua các quy định kiểm soát trong quá trình thực hiện nghiệp vụ Hành động này không chỉ làm tăng nguy cơ rủi ro mà còn làm suy yếu môi trường kiểm soát, dẫn đến những hệ lụy khó lường cho tổ chức.
Hoạt động kiểm soát chủ yếu tập trung vào các sai phạm dự kiến, vì vậy khi xuất hiện những sai phạm bất thường, quy trình kiểm soát sẽ giảm hiệu quả, thậm chí có thể trở nên vô hiệu.
Chi phí thực hiện hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại ước tính do sai sót hay gian lận gây ra.
Những thay đổi trong tổ chức, quan điểm quản lý và điều kiện hoạt động có thể khiến các thủ tục kiểm soát trở nên không còn phù hợp.
Tóm lại, Kiểm soát nội bộ (KSNB) chỉ cung cấp sự đảm bảo hợp lý chứ không phải tuyệt đối về việc đạt được các mục tiêu KSNB có khả năng ngăn ngừa và phát hiện sai sót, gian lận, nhưng không thể đảm bảo rằng chúng sẽ không xảy ra Do đó, bất kỳ hệ thống KSNB nào cũng đều tồn tại những rủi ro nhất định Quan trọng là người quản lý phải nhận biết, đánh giá và giới hạn những rủi ro này trong mức độ chấp nhận được.
CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Giới thiệu chung về Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (VietinBank) là ngân hàng thương mại cổ phần được thành lập tại Việt Nam, dựa trên việc cổ phần hóa Ngân hàng Công thương Việt Nam Ngân hàng này đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ khi được thành lập theo Nghị định số 53/NĐ-HĐBT ngày 26 tháng 3 năm 1988 đến khi chính thức đổi tên thành Ngân hàng Công thương Việt Nam vào năm 1990 VietinBank đã thực hiện thành công việc chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng vào ngày 25 tháng 12 năm 2008, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển của ngân hàng.
Năm 2009, VietinBank đã chính thức cổ phần hóa và được đổi tên thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam Sự kiện này được xác nhận qua Giấy phép Thành lập và Hoạt động số 142/GP-NHNN, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp ngày 3 tháng 7 năm 2009, cùng với Giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh số 0103038874 từ Sở Kế hoạch và Đầu tư cũng vào ngày 3 tháng 7 năm 2009.
Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội đã cấp Giấy chứng nhận Đăng ký doanh nghiệp số 0100111948 sửa đổi lần thứ mười một vào ngày 01 tháng 11 năm 2018 VietinBank được thành lập để thực hiện các giao dịch ngân hàng, bao gồm huy động và nhận tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ tổ chức và cá nhân; cho vay với các hình thức ngắn hạn, trung hạn và dài hạn dựa trên khả năng nguồn vốn của ngân hàng Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện các giao dịch ngoại tệ, cung cấp dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế, chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, cùng với các dịch vụ ngân hàng khác được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép.
Tên đăng ký tiếng Việt: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: Mã số doanh nghiệp:
0100111948 Do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hà Nội cấp lần đầu ngày 3/7/2009 Đăng ký thay đổi lần thứ 11 ngày 1/11/2018
Vốn chủ sở hữu: 85.411.000.000.000 đồng (tại thời điểm 31/12/2020)
Địa chỉ hội sở chính: 108 Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố
VietinBank, với số vốn chủ sở hữu khởi đầu chỉ 22 tỷ đồng, đã tăng trưởng ấn tượng lên hơn 85.000 tỷ đồng, tương đương mức tăng hơn 3.800 lần, trong đó vốn điều lệ đạt 37.234 tỷ đồng Tổng tài sản của ngân hàng cũng ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ từ 718 tỷ đồng vào năm 1988 lên gần 1.314.436 tỷ đồng vào năm 2020, tức là tăng hơn 1.800 lần Những con số này không chỉ thể hiện sự phát triển vượt bậc mà còn là niềm tự hào của VietinBank Ban đầu, ngân hàng chỉ có 11.380 cán bộ nhân viên, với mạng lưới bao gồm Hội sở chính tại Hà Nội và 32 chi nhánh cấp I cùng 42 chi nhánh cấp II.
VietinBank hiện có 23 phòng giao dịch và 502 quỹ tiết kiệm, với đội ngũ 24.480 cán bộ, nhân viên Trụ sở chính của ngân hàng tọa lạc tại số 108 Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Hà Nội, Việt Nam Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2020, Ngân hàng có một Hội sở chính, hai Văn phòng đại diện tại Đà Nẵng và Hồ Chí Minh, cùng với chín đơn vị sự nghiệp bao gồm một Trường đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực, một Trung tâm CNTT, một Trung tâm Thẻ, một Trung tâm Tài trợ thương mại và năm Trung tâm Quản lý tiền mặt Ngân hàng còn sở hữu 155 chi nhánh và bảy công ty con, cùng với mạng lưới quốc tế gồm một Văn phòng đại diện tại Myanmar, hai chi nhánh tại Đức và một ngân hàng 100% vốn tại Lào.
(Ngân hàng TNHH Công Thương Việt Nam tại Lào).
VietinBank, với mô hình tổ chức NHTM cổ phần, đã thiết lập mối quan hệ hợp tác chiến lược với The Bank of Tokyo Mitsubishi-UFJ, Ltd (BTMU) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), nhờ đó nâng cao hoạt động nghiệp vụ và uy tín quốc tế Đến nay, thương hiệu VietinBank đã được khẳng định với 9 năm liên tiếp trong Top 2000 Doanh nghiệp lớn nhất thế giới theo Forbes, giá trị thương hiệu đạt 273 triệu USD với Sức mạnh Thương hiệu A+, và 2 lần vào Top 300 Thương hiệu ngân hàng giá trị nhất thế giới 2020 VietinBank cũng nằm trong Top 10 ngân hàng thương mại uy tín tại Việt Nam và vinh dự nhận danh hiệu Anh hùng Lao động cùng Huân chương Độc lập hạng Nhất từ Đảng và Nhà nước.
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Ngân hàng được thành lập để thực hiện các giao dịch ngân hàng, bao gồm huy động và nhận tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ tổ chức và cá nhân Ngân hàng cũng cung cấp dịch vụ cho vay với các kỳ hạn tương ứng, dựa trên tính chất và khả năng nguồn vốn Ngoài ra, ngân hàng thực hiện các giao dịch ngoại tệ, cung cấp dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế, chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, cùng với các dịch vụ ngân hàng khác được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép.
Huy động vốn là quá trình liên tục thu hút và nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng trong nước và quốc tế Các hình thức huy động bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác, sử dụng cả đồng Việt Nam và ngoại tệ.
Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác là phương thức hiệu quả để huy động vốn từ các tổ chức và cá nhân trong nước cũng như quốc tế, theo quy định hiện hành.
Các tổ chức tài chính và tín dụng tại Việt Nam, cũng như các tổ chức tín dụng nước ngoài, có thể vay vốn khi được Tổng giám đốc cho phép bằng văn bản.
Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn được thực hiện bởi ngân hàng đối với các tổ chức và cá nhân, dựa trên tính chất và khả năng nguồn vốn của ngân hàng.
Thanh toán:Thực hiện thanh toán giữa tổ chức và cá nhân.
Giao dịch ngoại tệ bao gồm các dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế, chiết khấu thương phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, cùng với các dịch vụ ngân hàng khác được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho phép.
3.1.3 Hệ thống, cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
VietinBank là một tổ chức tài chính thuộc Chính phủ, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực ngân hàng Cơ cấu tổ chức của VietinBank có nhiều điểm tương đồng với các ngân hàng khác trong ngành.
Hội đồng quản trị của VietinBank là cơ quan quản lý có quyền quyết định và thực hiện các nghĩa vụ của ngân hàng, ngoại trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của đại hội cổ đông Hội đồng này bao gồm từ 5 đến 11 thành viên, với số lượng cụ thể do đại hội cổ đông quyết định Đối với các nhiệm kỳ sau, ít nhất một nửa số thành viên phải là thành viên không kiêm nhiệm và độc lập, trong đó cần có tối thiểu hai thành viên độc lập.