1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

848 pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử

85 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Pháp Luật Về Hợp Đồng Thương Mại Điện Tử
Tác giả Nguyễn Thị Thảo
Người hướng dẫn TS. Đỗ Mạnh Phương
Trường học Học viện Ngân hàng
Chuyên ngành Luật
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 315,27 KB

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của đề tài (12)
  • 2. Tổng quan các công trình nghiên cứu đề tài (13)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài (14)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (15)
  • 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu (15)
  • 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu (16)
  • 7. Cơ cấu của khóa luận (16)
  • CHƯƠNG 1.........................................................................................................6 (17)
    • 1.3.1 Khái niệm pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử (32)
  • CHƯƠNG 2......................................................................................................26 (37)
    • 2.1. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ (37)
    • 2.2. THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM (47)
    • 2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM (54)
    • 3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (60)
    • 3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ (63)
  • KẾT LUẬN (75)

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài

Mạng Internet đã tạo ra ảnh hưởng sâu rộng đến thương mại điện tử, dẫn đến sự hình thành của hợp đồng thương mại điện tử Tuy nhiên, việc giao dịch qua hợp đồng này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, do đó, việc xây dựng một khung pháp lý phù hợp là rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

Trong hội thảo "Steve Jobs: Điều vĩ đại tiếp theo" năm 1996, Steve Jobs nhấn mạnh rằng thương mại sẽ là yếu tố cốt lõi cho sự phát triển của web và Internet trong tương lai, với sự xuất hiện của các trung tâm thương mại trực tuyến giúp nhà cung cấp tiếp cận nhanh chóng với người tiêu dùng Việc áp dụng thương mại điện tử (TMĐT) không chỉ giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí mà còn mở rộng thị trường, điều này càng trở nên quan trọng trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế và tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng như Luật Giao dịch điện tử 2005, Luật Thương mại và Luật Công nghệ thông tin, cùng với các nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Giao dịch điện tử nhằm thúc đẩy thương mại điện tử Những quy định này không chỉ tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước mở rộng cơ hội hợp tác quốc tế mà còn hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc thực hiện hợp đồng thương mại có yếu tố nước ngoài Tuy nhiên, quy định pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử vẫn còn thiếu cụ thể, quy trình ký kết còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc hoạt động này chưa phổ biến Do đó, việc chỉ ra những hạn chế của các văn bản pháp luật và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử là cần thiết.

Pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) là chủ đề quan trọng cho khóa luận, nhằm nghiên cứu và tìm hiểu sâu sắc các quy định pháp lý hiện hành Bài viết sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống pháp luật về HĐTMĐT tại Việt Nam.

Tổng quan các công trình nghiên cứu đề tài

Pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả nghiên cứu, mỗi người mang đến những góc nhìn và phân tích riêng Các nghiên cứu này thường tập trung vào những khía cạnh cụ thể của vấn đề, với nhiều công trình tiêu biểu đáng chú ý.

- Pháp luật về HĐTMĐT ở Việt Nam của Đoàn Quỳnh Thương, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2013;

- Pháp luật về HĐTMĐT ở Việt Nam của Hà Vy, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2015;

- Pháp luật về giao kết và thực hiện hợp đồng trên website TMĐT ở Việt Nam, Trịnh Thị Thu Thảo, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Luật Hà Nội, 2015;

Hợp đồng thương mại điện tử (TMĐT) theo pháp luật Việt Nam được tác giả Nguyễn Nhất Tư nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ của mình, trình bày tại Viện Hàn lâm Khoa học và Xã hội Việt Nam vào năm 2017 Tác phẩm này phân tích các quy định pháp lý liên quan đến hợp đồng TMĐT, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý cho lĩnh vực này tại Việt Nam.

- Pháp luật về HĐTMĐT ở Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế, tác giả Phan Thị Cúc, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Luật Hà Nội, 2020;

- Pháp luật về HĐTMĐT ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, Lê Viết Công, Luận văn Thạc sĩ, trường Đại học Luật Hà Nội, 2021.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về pháp luật HĐTMĐT thông qua các ấn phẩm tạp chí, cụ thể:

- HĐTMĐT và các biện pháp hạn chế rủi ro, Lê Thị Kim Hoa, tạp chí luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 11/2008;

- Chữ kí điện tử trong giao kết HĐĐT, Trần Văn Biên, luật học, số 6/2012, trang 3-8;

- HĐĐT theo PLVN của Trần Văn Biên, tạp chí Nhà nước và pháp luật, tr.30-

Trong hơn 15 năm qua, đã có khoảng 20 công trình nghiên cứu về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT), tuy nhiên, do sự phát triển nhanh chóng của lĩnh vực này, nhiều công trình đã trở nên lỗi thời Các nghiên cứu hiện tại chủ yếu tập trung vào tình hình thực thi pháp luật tại thời điểm nghiên cứu, mà chưa có những bước đột phá trong việc định hướng cho hệ thống pháp luật tương lai Việc cập nhật quy định mới và cải thiện pháp luật sẽ được bổ sung qua từng công trình nghiên cứu Các tác giả đã đưa ra những phân tích chặt chẽ, tập trung vào quy định về HĐTMĐT để đánh giá và đề xuất quan điểm riêng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Các công trình nghiên cứu trước đã đóng góp quan trọng vào việc cập nhật và khắc phục những hạn chế của pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) Khóa luận của tôi sẽ kế thừa và phát huy những thành tựu này, tiếp tục nghiên cứu và đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện quy định về HĐTMĐT, phù hợp với xu thế phát triển hiện đại.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thiện bài viết, tác giả đã áp dụng phương pháp của Chủ nghĩa Mác Lênin, cụ thể là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Bên cạnh đó, tác giả cũng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối chỉ đạo của Đảng nhằm đưa ra định hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử.

Phương pháp nghiên cứu của tác giả thể hiện sự linh hoạt và toàn diện, bắt đầu từ các vấn đề cơ bản đến phức tạp Tác giả áp dụng phương pháp phân tích để làm rõ nội dung, sau đó sử dụng phương pháp diễn giải để giải thích và nêu bật các vấn đề Ngoài ra, phương pháp thống kê và so sánh cũng được áp dụng để cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về nghiên cứu.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

Bài viết này nghiên cứu các quy định pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) nhằm phân tích quy trình giao kết và thực hiện HĐTMĐT, đồng thời chỉ ra những vướng mắc và giải pháp để hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan Tác giả làm rõ các khía cạnh pháp lý của HĐTMĐT tại Việt Nam, hệ thống hóa và phân tích thực trạng pháp luật hiện hành, từ đó nêu bật ưu điểm và hạn chế cũng như các vấn đề bất cập trong thực tiễn giao kết và thực hiện HĐTMĐT Cuối cùng, tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị nhằm cải thiện pháp luật về HĐTMĐT ở Việt Nam.

Cơ cấu của khóa luận

Khóa luận về đề tài “Pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử” được tổ chức thành 03 chương lớn, bao gồm phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.

Chương 1 : Những vấn đề lý luận về hợp đồng thương mại điện tử và pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử

Chương 2 Thực trạng pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử và thực tiễn thi hành pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử ở Việt Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử ở

Khái niệm pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử

Hợp đồng thương mại điện tử (TMĐT) là một khái niệm mới tại Việt Nam, dẫn đến việc còn thiếu các văn bản pháp lý quy định rõ ràng Sự phát triển nhanh chóng của xã hội đặt ra thách thức cho việc xây dựng một hệ thống pháp luật phù hợp nhằm quản lý hiệu quả các giao dịch TMĐT.

Pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) bao gồm các quy định do nhà nước ban hành hoặc công nhận, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình ký kết và thực hiện HĐTMĐT.

1.3.2 Các nội dung của pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử

Thứ nhất, chủ thể hợp đồng thương mại điện tử

Chủ thể của hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) cần có ít nhất một bên là thương nhân Thương nhân có thể ký kết hợp đồng trực tiếp với khách hàng qua website thương mại điện tử của mình hoặc thông qua các sàn giao dịch, website thương mại điện tử, hoặc website đấu giá do các thương nhân, tổ chức, cá nhân khác thiết lập Khách hàng có thể là thương nhân hoặc các tổ chức, cá nhân chấp nhận ký kết hợp đồng dựa trên thông tin công khai trên các trang thông tin điện tử.

Việc xác định các bên chủ thể trong hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) gặp nhiều khó khăn do thường xuyên có sự nhầm lẫn với các chủ thể khác tham gia vào hoạt động này.

Thương mại điện tử (TMĐT) đóng vai trò quan trọng khi các thương nhân và tổ chức tạo lập website để cung cấp môi trường điện tử Mục đích của các website này là hỗ trợ thương nhân, tổ chức và cá nhân khác thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng và cung ứng dịch vụ hiệu quả.

Thứ hai, giao kết hợp đồng thương mại điện tử

Quy định pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) yêu cầu một bên đưa ra đề nghị và bên kia chấp nhận, với quy trình thực hiện hoàn toàn hoặc một phần qua phương tiện điện tử và thông điệp dữ liệu Pháp luật công nhận giá trị pháp lý của các chứng từ điện tử, như hợp đồng đề nghị, thông báo, xác nhận, hoặc tài liệu liên quan, với điều kiện chúng đáp ứng hai tiêu chí nhất định.

Đầu tiên, cần đảm bảo tính toàn vẹn và độ tin cậy của thông tin trong chứng từ điện tử ngay từ thời điểm thông tin được khởi tạo lần đầu.

Tiêu chí đánh giá tính toàn vẹn thông tin trong chứng từ điện tử bao gồm việc đảm bảo thông tin đầy đủ và không bị thay đổi Độ tin cậy của chứng từ này được xác định dựa trên thỏa thuận giữa các bên liên quan Để đảm bảo tính hợp pháp, các bên cần thực hiện các bước sau: (1) Ký chứng từ điện tử bằng chữ ký số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số hợp pháp cấp; (2) Lưu trữ chứng từ điện tử tại hệ thống của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực hợp đồng điện tử đã được cấp phép mà các bên thỏa thuận lựa chọn.

Thương nhân và tổ chức cung cấp hạ tầng cam kết đảm bảo tính toàn vẹn của thông tin trong chứng từ điện tử trong suốt quá trình gửi và lưu trữ trên hệ thống Ngoài ra, các bên có thể thống nhất lựa chọn thêm các biện pháp khác để bảo vệ thông tin.

Để đảm bảo tính khả dụng và truy cập đầy đủ của thông điệp dữ liệu, cần thiết phải đáp ứng yêu cầu công nhận giá trị tương đương với bản gốc.

Thứ ba, thanh toán trong hợp đồng thương mại điện tử

Thanh toán trong hợp đồng thương mại điện tử là nghĩa vụ của bên mua đối với bên bán sau khi hợp đồng được ký kết Quy trình thanh toán có thể diễn ra ngay khi hợp đồng được xác lập hoặc khi bên nhận nhận được sản phẩm, dịch vụ từ bên bán.

Trong hợp đồng thương mại điện tử, thanh toán được thực hiện qua nhiều phương thức khác nhau, bao gồm cả tiền mặt và thanh toán điện tử Tại Việt Nam, các hình thức thanh toán điện tử phổ biến bao gồm: thanh toán bằng thẻ, thanh toán qua cổng thanh toán, thanh toán bằng ví điện tử và thanh toán qua thiết bị điện thoại thông minh.

Thanh toán điện tử bằng thẻ hiện đang là phương thức phổ biến nhất, chiếm khoảng 90% tổng số giao dịch thương mại.

Hình thức thanh toán trực tuyến qua thẻ bao gồm hai loại chính: thẻ tín dụng hoặc ghi nợ quốc tế, và thẻ ghi nợ nội địa Mặc dù thẻ ghi nợ nội địa ít phổ biến ở Việt Nam, nhưng chúng lại rất được ưa chuộng trên toàn cầu.

Thanh toán qua ví điện tử là phương thức chuyển nhận tiền và thanh toán giao dịch trực tuyến, bao gồm việc mua thẻ điện thoại và vé xem phim Để sử dụng ví điện tử, người dùng cần có điện thoại thông minh tích hợp ví điện tử và liên kết với ngân hàng, từ đó thực hiện các giao dịch thanh toán một cách thuận tiện.

- Thanh toán bằng điện thoại thông minh là việc người dùng có thể lựa chọn thanh toán qua mobile banking (xây dựng trên mô hình liên kết giữa ngân

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

2.1.1 Chủ thể của hợp đồng thương mại điện tử

Chủ thể trong hợp đồng thương mại điện tử bao gồm thương nhân, cá nhân và tổ chức thực hiện các hoạt động thương mại, tiến hành giao kết hợp đồng qua các phương tiện điện tử kết nối Internet và mạng viễn thông.

Thương nhân trong hoạt động thương mại điện tử bao gồm các tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định pháp luật, cá nhân kinh doanh độc lập và đã đăng ký kinh doanh Họ có thể là thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam.

Các tổ chức Việt Nam và nước ngoài có văn phòng đại diện hoặc chi nhánh tại Việt Nam đang tích cực thiết lập website và tham gia vào hoạt động đầu tư Những tổ chức này có thể có tư cách pháp nhân hoặc không Hiện nay, nhiều doanh nghiệp bán lẻ uy tín trong nước như Saigon Coop đã tạo ra trang thương mại điện tử phục vụ nhu cầu nội trợ, Viettel cũng phát triển trang TMĐT chuyên bán đặc sản, và Thế Giới Di Động đã ra mắt trang Vuivui.com theo mô hình đại siêu thị online, hiện chỉ phục vụ giao hàng tại TP Hồ Chí Minh.

Cá nhân Việt Nam hoặc cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam khi tham gia hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) cần có năng lực chủ thể và năng lực hành vi dân sự.

Hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) là chứng từ điện tử dưới dạng thông điệp dữ liệu, được các bên ký kết để thực hiện giao dịch Đặc điểm nổi bật của HĐTMĐT là việc giao kết hợp đồng qua phương thức điện tử, do đó, các chủ thể liên quan bao gồm cả người trung gian, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực hợp đồng.

Như vậy ta có thể thấy chủ thể trong HĐTMĐT gồm ba chủ thể chính:

Khách hàng trong thương mại điện tử bao gồm các thương nhân, tổ chức và cá nhân, những người mua hàng hóa hoặc dịch vụ thông qua các website bán hàng và cung cấp dịch vụ thương mại điện tử.

Người bán, bao gồm các thương nhân, tổ chức và cá nhân, sử dụng website thương mại điện tử để thúc đẩy hoạt động kinh doanh, bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ của mình.

Ba là, người trung gian, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan chứng thực hợp đồng điện tử, cụ thể:

Người sở hữu website thương mại điện tử bao gồm các thương nhân, tổ chức và cá nhân có khả năng tự thiết lập website để phục vụ cho hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của họ.

Các thương nhân và tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử thiết lập website nhằm tạo ra môi trường cho các thương nhân, tổ chức và cá nhân khác thực hiện hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ.

Các thương nhân và tổ chức cung cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người sở hữu website thương mại điện tử và các dịch vụ thương mại điện tử Họ cung cấp hạ tầng cần thiết cho việc bán hàng trực tuyến Đồng thời, tổ chức cung cấp dịch vụ mạng cũng đảm nhận việc cung cấp hạ tầng đường truyền và các dịch vụ liên quan, giúp thực hiện các giao dịch điện tử một cách hiệu quả.

7 Xem tại khoản 4 Điều 24 Nghịđịnh số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử

8 Xem tại khoản 3 Điều 24 Nghịđịnh số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử

9 Xem tại khoản 3 Điều 24 Nghịđịnh số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử

10 Xem tại khoản 4 Điều 24 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử

11 Xem tại khoản 5 Điều 24 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử

Quá trình giao kết hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) diễn ra thông qua việc đàm phán và ký kết hợp đồng bằng cách trao đổi dữ liệu Giao kết hợp đồng thương mại điện tử được định nghĩa là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để thực hiện một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình ký kết hợp đồng.

Theo quy định của GDĐT năm 2005, việc giao kết hợp đồng điện tử có thể được thực hiện qua thông điệp dữ liệu, trừ khi các bên có thỏa thuận khác Điều này cho thấy sự linh hoạt trong việc xác lập hợp đồng, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia giao dịch.

Quá trình giao kết HĐTMĐT được thực hiện thông qua hình thức đề nghị giao kết và chấp nhận giao kết HĐTMĐT.

Đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử là bước quan trọng trong quá trình ký kết hợp đồng Qua đề nghị này, các bên thể hiện rõ ý chí và mong muốn giao kết, kèm theo những nội dung cụ thể nhằm tiến tới việc ký kết hợp đồng.

Đề nghị giao kết hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) chưa được quy định cụ thể trong pháp luật Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, "đề nghị giao kết hợp đồng" được định nghĩa là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và bên đề nghị sẽ chịu sự ràng buộc đối với bên đã được xác định hoặc công chúng.

Trong quá trình đề nghị giao kết HĐTMĐT ta cần chú ý một số vấn đề:

Ý chí chủ thể trong đề nghị giao kết là yếu tố quan trọng nhất, cần được thể hiện rõ ràng để tránh nhầm lẫn Bên đề nghị cần cung cấp đầy đủ các nội dung theo hợp đồng, bao gồm đối tượng giao kết, giá cả, số lượng và hình thức thanh toán một cách cụ thể và rõ ràng.

THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

Trong môi trường thương mại điện tử (TMĐT), ngày càng nhiều chủ thể tiến hành giao kết hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) thông qua các hình thức như: hợp đồng thương mại truyền thống được đăng tải trên website, hợp đồng hình thành qua giao dịch tự động, hợp đồng qua thư điện tử (email), và hợp đồng có sử dụng chữ ký số.

Nguyễn Duy Thanh nhấn mạnh rằng để đánh giá tình hình sử dụng hợp đồng thương mại điện tử trong kinh doanh tại Việt Nam, cần xem xét các yếu tố như việc sử dụng email trong giao dịch, xây dựng website thương mại điện tử với chức năng đặt hàng trực tuyến, mức độ tham gia vào các sàn giao dịch thương mại điện tử và việc áp dụng các công cụ thanh toán điện tử trong thực hiện hợp đồng.

Vào năm 2018, Bộ Công Thương đã tiến hành khảo sát trong 4 tháng cuối năm tại hơn 3.500 doanh nghiệp trên toàn quốc để đánh giá hiệu quả hoạt động của thương mại điện tử (TMĐT) và mức độ sử dụng TMĐT trong nước Dựa trên số liệu từ Báo cáo chỉ số thương mại điện tử Việt Nam năm 2018 và 2019, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật đã khái quát tình hình sử dụng hợp đồng TMĐT trong các doanh nghiệp.

34 Điều 52 Luật Giao dịch điện tử 2005

Thứ nhất, đội ngũ nguồn nhân lực ngày càng được nâng cao, cơ sở hạ tầng kĩ thuật được chú trọng.

Thông qua báo cáo chỉ số TMĐT năm 2018 Bộ công thương đã thống kê được

Theo khảo sát, 99% doanh nghiệp cho biết đã trang bị máy tính PC và laptop, trong khi 61% sở hữu thiết bị di động như điện thoại thông minh và máy tính bảng Ngoài ra, các doanh nghiệp còn chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng nhằm nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ và cải thiện vai trò quản lý.

Thứ hai, thông qua các phương tiện điện tử HĐTMĐT được kí kết ngày càng nhiều và phổ biến hơn.

Phương thức điện tử chủ yếu được sử dụng để giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại điện tử hiện nay là qua email, đặc biệt phổ biến trong các doanh nghiệp.

Theo thống kê, 45% doanh nghiệp cho biết hơn 50% lao động thường xuyên sử dụng email trong công việc, tăng từ 39% vào năm 2015 Ngoài ra, 18% doanh nghiệp cho biết có tới 10% lao động sử dụng email thường xuyên Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) có tỷ lệ ứng dụng email cao hơn so với doanh nghiệp lớn Mục đích chính của việc sử dụng email trong doanh nghiệp là để giao dịch với khách hàng và nhà cung cấp, chiếm 84%.

Email đã trở thành một công cụ quen thuộc trong hoạt động của doanh nghiệp, nhưng các công ty cũng đang chú trọng đến việc đa dạng hóa các hình thức giao tiếp khác.

Theo báo cáo chỉ số TMĐT năm 2018, chỉ có 26% doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử, giảm nhẹ so với 28% năm 2017 Email vẫn là phương thức chính để nhận đơn đặt hàng trực tuyến, chiếm 84%, trong khi các kênh khác như mạng xã hội (45%), website (44%) và sàn TMĐT (19%) có tỷ lệ thấp hơn 50% Mặc dù tỷ lệ đặt hàng qua công cụ trực tuyến đang tăng lên theo năm, email vẫn giữ vai trò quan trọng trong giao tiếp giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp.

Tỉ lệ doanh nghiệp đặt hàng qua các công cụ trực tuyến

Mạng xã hội Email BWebsite B Sàn TMĐT B Mạng xã hội

Hình 2.1 Tỉ lệ doanh nghiệp đặt hàng qua các công cụ trực tuyến (%)

Thứ ba, các HĐTMĐT chủ yếu được thực hiện qua hình thức giao kết là email.

Theo báo cáo, năm 2018 chỉ có 31% doanh nghiệp sử dụng hợp đồng điện tử, trong khi 85% doanh nghiệp vẫn nhận đơn đặt hàng chủ yếu qua email, tăng 7% so với năm 2016 Các hình thức nhận đơn đặt hàng qua website và sàn thương mại điện tử/mạng xã hội đều có tỷ lệ thấp, dưới 50% Từ đó, có thể thấy tỷ lệ nhận đơn đặt hàng qua các công cụ trực tuyến của doanh nghiệp đang có xu hướng tăng dần qua các năm.

Hoạt động đặt hàng trực tuyến của doanh nghiệp tại Việt Nam chủ yếu diễn ra qua email (84%), tiếp theo là website (46%) và các sàn, mạng xã hội (32%) Tỷ lệ đặt hàng này đang có xu hướng tăng so với hai năm trước Trong bối cảnh dịch bệnh căng thẳng hiện nay, hình thức đặt hàng trực tuyến ngày càng được ưa chuộng vì không yêu cầu quá nhiều kỹ thuật từ người dùng.

Thứ tư, với những ưu điểm vượt trội, HĐTMĐT được các doanh nghiệp để

Theo nghiên cứu, năm 2018 có 45% doanh nghiệp tham gia khảo sát đã xây dựng website, tỷ lệ này không thay đổi nhiều so với các năm trước Đặc biệt, 54% doanh nghiệp hiện nay cập nhật thông tin lên website hàng ngày, tăng so với 50% vào năm 2015.

Thứ năm, cùng với hình thức giao kết qua email, một số phương thức giao kết HĐTMĐT khác cũng đang không ngừng phát triển.

Ngoài việc sử dụng email, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như các hộ kinh doanh cá thể, có thể tận dụng mạng xã hội để thực hiện hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) một cách thuận tiện và dễ dàng cho người tiêu dùng và khách hàng.

Kinh doanh trên mạng xã hội đang trở thành xu hướng hấp dẫn cho doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như các hộ kinh doanh cá thể Lợi thế của hình thức này nằm ở hiệu quả, chi phí thấp và khả năng tương tác cao với khách hàng Theo khảo sát, năm 2018 có 36% doanh nghiệp tham gia kinh doanh trên mạng xã hội, tăng 8% so với năm 2015.

Sàn thương mại điện tử (TMĐT) là công cụ hữu ích cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng trong những năm gần đây, xu hướng này đang có dấu hiệu chững lại Cụ thể, năm 2016, chỉ có 15% doanh nghiệp tham gia khảo sát cho biết đã triển khai kinh doanh trên các sàn TMĐT, tỷ lệ này gần như không thay đổi so với năm 2015, theo báo cáo nghiên cứu.

Theo Báo cáo Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam 2019 của Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam (VECOM), thị trường thương mại điện tử Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, từ 4 tỷ USD vào năm 2015 lên khoảng 7,8 tỷ USD vào năm 2018 Dự báo nếu tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức 30% trong năm 2019 và 2020, quy mô thị trường sẽ đạt 13 tỷ USD, vượt xa mục tiêu 10 tỷ USD cho thương mại điện tử bán lẻ (B2C) vào năm 2020 trong kế hoạch phát triển giai đoạn 2016-2020.

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở

Qua quá tình phân tích và nghiên cứu quá trình thực hiện HĐTMĐT trong những năm vừa qua, chúng ta có thể đánh giá rằng:

Trải qua quá trình xây dựng hệ thống pháp lý về HĐTMĐT ở nước ta đã đạt được những thành tựu nhất định.

Doanh nghiệp hiện nay có cơ hội tiếp cận nhiều loại hình giao kết mới nhờ vào việc mở rộng quá trình giao kết Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp trong việc thực hiện hợp đồng Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả thi hành và áp dụng pháp luật mà còn thúc đẩy hợp tác kinh doanh với các doanh nghiệp toàn cầu.

Mục tiêu của Nghị định 52/2013/NĐ-CP là xây dựng hành lang pháp lý công bằng cho giao dịch thương mại điện tử, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Luật Đầu tư 2014 và Luật Doanh nghiệp 2014, 2020, cùng với Thông tư 47/2014/TT-BCT, đã cải thiện các quy định, khắc phục tình trạng thiếu văn bản pháp quy và sự không rõ ràng trong quy định trước đây Bên cạnh đó, Nghị định 185/2013/NĐ-CP đã quy định rõ ràng về xử phạt các hành vi vi phạm trong kinh doanh thương mại, với chế tài cụ thể hơn.

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nhưng vẫn tồn tại những khó khăn và vướng mắc nhất định, đặc biệt là trong việc kết nối các văn bản pháp luật trong hệ thống pháp luật với nhau trong quá trình thực hiện.

Nghị định 52/2013/NĐ-CP vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bao gồm hệ thống chế tài chưa đầy đủ và khó áp dụng, đặc biệt trên nền tảng di động Quy trình giao kết hợp đồng trực tuyến cũng gặp khó khăn do thiếu hướng dẫn cụ thể Hơn nữa, nhiều website kinh doanh thương mại điện tử có hành vi lừa đảo và không đảm bảo an toàn, trong khi chưa có danh sách cảnh báo cho người tiêu dùng.

Nhiều người dân vẫn chưa nắm rõ về công nghệ thông tin (CNTT), dẫn đến khó khăn khi tham gia hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) Việc thiếu hiểu biết về nội dung và nguyên tắc giao kết khiến quyền lợi của họ không được đảm bảo Trong quá trình thực hiện giao dịch thương mại điện tử, các bên mua bán phải đối mặt với nhiều rủi ro nếu không có sự hiểu biết lẫn nhau.

TMĐT là phương thức giao dịch từ xa qua phương tiện truyền thông, trong đó người mua và người bán không gặp mặt Điều này khiến người tiêu dùng lo lắng về việc bị lợi dụng bởi các hành vi thương mại không công bằng, thanh toán không an toàn, cũng như nguy cơ mất hoặc lộ thông tin cá nhân, xâm phạm đời sống riêng tư của họ.

Ba là, giao dịch TMĐT thông qua hợp đồng TMĐT mẫu chưa có sự thống nhất với nhau.

Pháp luật hiện hành chưa quy định rõ về nội dung hợp đồng mẫu trong giao kết hợp đồng trên website thương mại điện tử có chức năng đặt hàng trực tuyến, điều này dẫn đến nhiều bất lợi cho người tiêu dùng trong bối cảnh giao dịch phát triển nhanh chóng Trong môi trường thương mại điện tử, các hợp đồng mẫu chủ yếu liên quan đến dịch vụ ngân hàng, đặt phòng khách sạn và mua bán hàng hóa.

Hợp đồng mẫu là loại hợp đồng có các điều khoản chuẩn được soạn thảo sẵn bởi tổ chức hoặc cá nhân cung cấp hàng hóa, dịch vụ Người tiêu dùng chỉ cần xem xét và chấp nhận hoặc từ chối các điều khoản đã được chuẩn bị trước đó.

Nhà nước chưa có quy định về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) theo mẫu, dẫn đến việc bên bán tự soạn thảo hợp đồng theo cách có lợi cho họ, gây bất lợi cho người tiêu dùng Hợp đồng TMĐT phát triển nhanh chóng trong khi quy định pháp lý chưa được thiết lập, khiến người tiêu dùng không có quyền tham gia đàm phán mà chỉ có thể chấp nhận hoặc từ chối nội dung đã được bên bán chuẩn bị sẵn Bên bán thường lợi dụng sự thiếu thông tin của người tiêu dùng để bỏ qua những điều khoản có lợi cho họ, và người tiêu dùng thường chỉ chú trọng đến giá cả và khuyến mãi mà không xem xét kỹ các điều khoản khác Điều này dẫn đến việc người mua dễ dàng nhấp vào “nút đồng ý” mà không hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của mình trong hợp đồng.

Do những bất cập trong hợp đồng mẫu, cần thiết phải có quy chế pháp lý điều chỉnh để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và cân bằng quyền lợi các bên, đồng thời không ảnh hưởng đến quá trình thỏa thuận trong giao kết hợp đồng thương mại điện tử.

35 Xem tại điều 405 Bộ luật dân sự năm 2015

Luật Giao dịch điện tử năm 2005 chưa đề cập đến các vấn đề thủ tục pháp lý trong giai đoạn đề nghị và chấp nhận giao kết, chỉ tập trung vào các yếu tố kỹ thuật Điều này làm cho quá trình xử lý tranh chấp trở nên khó khăn Các quy định tại Điều 17 đến 19 chỉ nêu rõ thời điểm, địa chỉ gửi và nhận thông điệp dữ liệu để được coi là chấp nhận chào hàng, từ đó hình thành hợp đồng thương mại điện tử.

Năm là, chưa có các quy định về giao kết HĐTMĐT có yếu tố nước ngoài.

Luật giao dịch điện tử năm 2005 cùng các văn bản hướng dẫn chưa đưa ra quy định cụ thể về việc hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) được ký kết với doanh nghiệp nước ngoài Hiện tại, chỉ có quy định về việc thừa nhận chữ ký điện tử và chứng thư điện tử từ nước ngoài.

Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và các văn bản dưới luật chưa đề cập đến việc giao kết hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) với doanh nghiệp, cá nhân nước ngoài Điều 27 của Luật chỉ quy định về việc thừa nhận chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài, nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể Sau hơn 10 năm, vẫn chưa có văn bản nào của Chính phủ quy định chi tiết về vấn đề này Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc giao kết HĐTMĐT với người nước ngoài trở nên quan trọng Chính phủ cần thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký và chứng thư điện tử nước ngoài, đồng thời quy định rõ ràng về lời đề nghị và chấp nhận giao kết Nhà nước cần có quy định chi tiết về HĐTMĐT có yếu tố nước ngoài, tạo nền tảng cho Việt Nam hội nhập với thế giới.

Sáu là, chưa có các quy định điều chỉnh vấn đề “tài sản ảo”.

Hiện nay, giao dịch ảo trên các thị trường như forex và Binance ngày càng trở nên phổ biến Bộ luật Dân sự năm 2015 định nghĩa tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản Tài sản ảo được hiểu là một khái niệm rộng, bao gồm tên miền Internet, địa chỉ email và các tài khoản game online Theo quy định của BLDS 2015, quyền tài sản là quyền có giá trị bằng tiền, bao gồm quyền đối với sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.

36 Xem quy định tại điều Ti Luật Giao dịch điện tử năm 2005

Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản ảo được định nghĩa là những tài sản tồn tại trên hệ thống mạng, có giá trị tiền tệ và có thể chuyển giao giữa các chủ thể trong cùng hệ thống Tài sản ảo có sự tương đồng lớn với quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự, do đó việc công nhận loại tài sản này là hợp lý Tuy nhiên, hiện tại pháp luật chưa thừa nhận tài sản ảo và vẫn thiếu các quy định cụ thể về loại tài sản này, mặc dù nó được các bên tham gia đánh giá cao và ngày càng phổ biến Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật công nhận tài sản ảo trong tương lai là điều cần thiết.

ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong những năm gần đây, hợp đồng thương mại điện tử đã được nhà nước không ngừng hoàn thiện và bổ sung khung pháp lý, tuy nhiên vẫn còn nhiều khía cạnh cần cải thiện hơn nữa.

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) là cần thiết để đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam theo tinh thần của Bộ Chính trị, phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Điều này đảm bảo tính thống nhất, khả thi và minh bạch trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại điện tử (TMĐT) Hệ thống pháp luật về TMĐT cần được xây dựng và hoàn thiện nhằm tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.

Thứ hai, hệ thống pháp luật cần được đảm bảo tính thống nhất

Để đảm bảo tính thống nhất trong quy định pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT), cần tiến hành đồng bộ hóa các văn bản pháp luật (VBPL) đã ban hành với các văn bản hướng dẫn thi hành Tính thống nhất này phải được xây dựng từ các quy phạm và chế định cụ thể, rõ ràng, không chồng chéo, nhằm loại bỏ mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình áp dụng Trong hệ thống VBQPPL, HĐTMĐT được thể hiện qua nhiều dạng văn bản khác nhau, trong đó văn bản có giá trị thấp hơn phải phù hợp với văn bản có hiệu lực cao hơn Các VBQPPL do cơ quan cấp dưới ban hành phải tuân thủ quy định của Hiến pháp và các văn bản của cơ quan cấp trên, đảm bảo mọi VBQPPL đều đáp ứng các yêu cầu của Hiến pháp.

VBQPPL cần phải có nội dung phù hợp.

Hệ thống pháp luật về HĐTMĐT muốn thống nhất cần phải chú trọng vào hai giai đoạn để ra đời VBQPPL:

Giai đoạn trước khi văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) được ban hành bao gồm các bước soạn thảo, thẩm tra, lấy ý kiến và thông qua văn bản Trong giai đoạn này, các văn bản chủ yếu ở dạng dự thảo, vì vậy việc xem xét tính thống nhất giữa văn bản và hệ thống pháp luật là rất quan trọng để đảm bảo tính đồng bộ sau khi văn bản được thông qua.

Sau khi văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) được ban hành, nó trở thành một phần quan trọng trong hệ thống pháp luật Để duy trì tính nhất quán của hệ thống này, Nhà nước cần thực hiện việc kiểm tra và rà soát liên tục, nhằm phát hiện kịp thời những bất cập và điều chỉnh cần thiết trong hệ thống pháp luật.

Để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử, cần đổi mới tổ chức và xây dựng nguồn nhân lực mạnh cho các cơ quan tham gia như cơ quan soạn thảo, trình và kiểm tra Những cơ quan này đóng vai trò quan trọng trong việc thông qua văn bản pháp luật, do đó, cần có những cán bộ ưu tú để đảm bảo hoạt động hiệu quả Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhà nước chưa đầu tư đúng mức vào hoạt động xây dựng pháp luật và chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của bộ phận này Thiếu chính sách khuyến khích đã khiến nhiều chuyên gia giỏi không mặn mà với công việc, vì vậy cần thiết phải có cơ chế và chính sách bồi dưỡng, cùng với các lớp đào tạo nghiệp vụ để thu hút và nâng cao chất lượng nhân lực trong các cơ quan này.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật về HĐTMĐTphải phù hợp với hạ tầng ứng dụng CNTT của Việt Nam

Việc cải thiện và đồng bộ hóa hệ thống CNTT không chỉ nâng cao tính bảo mật mà còn bảo vệ thông tin khách hàng khỏi nguy cơ bị đánh cắp Điều này giúp giữ bí mật cho dữ liệu cá nhân và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tham gia vào các giao dịch thương mại điện tử.

Pháp luật được hình thành để điều chỉnh các quan hệ xã hội, với chức năng khác nhau tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể Đối với xã hội có nền tảng hạ tầng và công nghệ thông tin phát triển, việc hệ thống hóa pháp luật và hướng tới công nghệ hóa hệ thống pháp luật quốc gia là cần thiết Để xây dựng hệ thống pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT), cần chú trọng đến nguồn nhân lực và tài chính Sau khi ban hành các quy định pháp luật liên quan đến HĐTMĐT, cần đảm bảo tính ổn định, hệ thống thông tin được bảo vệ, chi phí hợp lý và khả năng tiếp cận cao cho doanh nghiệp.

Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về HĐTMĐT phải bảo đảm tính “tương thích ” với các chuẩn mực pháp lý quốc tế

Quá trình hội nhập quốc tế mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam, đặc biệt là việc tham gia vào các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực Tuy nhiên, việc tuân thủ các thỏa thuận quốc tế, hay còn gọi là điều ước quốc tế, đòi hỏi Việt Nam phải điều chỉnh hệ thống pháp luật của mình Sự khác biệt trong luật pháp giữa các quốc gia có thể dẫn đến mâu thuẫn với các quy định quốc tế, do đó, Nhà nước cần xây dựng và sửa đổi các quy định pháp luật để phù hợp với cam kết quốc tế, từ đó nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Hội nhập quốc tế đã nâng cao vị thế của Việt Nam, nhưng cũng đồng thời mang lại những thách thức từ toàn cầu hóa Để không bị tụt lại phía sau, Việt Nam cần tiếp thu những tinh hoa từ hệ thống pháp luật toàn cầu và tiến hành hài hòa hóa pháp luật trong tất cả các lĩnh vực của đời sống.

Để hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) tại Việt Nam, cần xem xét các tác động và yêu cầu thực tiễn trong quá trình hội nhập Pháp luật cần phải tương thích với điều kiện trong nước và phù hợp với các thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam đã ký kết Để đạt được điều này, việc học hỏi và nghiên cứu kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống pháp luật phát triển, cùng với việc áp dụng các quy định và tập quán quốc tế phù hợp, là rất cần thiết nhằm thiết lập một hệ thống pháp luật về HĐTMĐT hoàn chỉnh nhất.

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ

Thứ nhất, cần bổ sung, hoàn thiện khung pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử

Khung pháp lý cho thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam đã được hoàn thiện từ năm 2005 với nhiều văn bản quy phạm pháp luật, mở rộng từ các vấn đề kỹ thuật sang thương mại, hải quan, tài chính và hành chính Nhà nước Đến cuối năm 2011, hệ thống văn bản pháp luật đã bao quát nhiều khía cạnh của hoạt động TMĐT, trong đó giao kết hợp đồng điện tử có những điểm tương đồng và khác biệt so với hợp đồng truyền thống Các văn bản luật chuyên ngành cũng quy định các nội dung đặc thù của giao kết HĐTMĐT, bên cạnh việc tuân thủ các quy định trong Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật thương mại năm 2005, công nhận giá trị pháp lý của giao dịch điện tử Ngoài ra, người tham gia TMĐT cần tuân thủ các quy định khác liên quan như Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật sở hữu trí tuệ và Luật quảng cáo.

Khung pháp lý về giao dịch điện tử và hợp đồng thương mại điện tử tại Việt Nam đã được hình thành từ năm 2005 với Luật giao dịch điện tử đầu tiên, tạo nền tảng cho các hoạt động liên quan Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu đã chỉ ra rằng khung pháp lý hiện tại vẫn chưa đủ hoàn thiện và cần được bổ sung, sửa đổi liên tục để đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Quá trình sửa đổi và hoàn thiện khung pháp lý về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) cần được thực hiện đồng thời với việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành, nhằm đảm bảo tính tương đồng giữa các quy định Các quy định về HĐTMĐT cần liên kết chặt chẽ với giao dịch điện tử và bảo vệ lợi ích khách hàng trong trường hợp xảy ra tranh chấp Để xây dựng pháp luật về HĐTMĐT, cần có sự hỗ trợ từ các cấp ban ngành, đặc biệt là Quốc hội và Chính phủ HĐTMĐT cũng phải chịu sự điều chỉnh như các loại hợp đồng khác Hiện nay, với sự phát triển của các hình thức kinh doanh trực tuyến như Instagram và Facebook, việc thiếu quy định cụ thể đã gây khó khăn trong việc thu thuế Do đó, Nhà nước cần xây dựng các quy định và chính sách riêng để quản lý hiệu quả hơn đối với các đối tượng kinh doanh này.

Việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật (VBPL) nhằm điều chỉnh và hướng dẫn giao kết cũng như thực hiện hợp đồng mẫu trên các website thương mại điện tử (TMĐT) là cần thiết Mặc dù sự thống nhất về mặt ý chí là nguyên tắc quan trọng trong ký kết hợp đồng, nhưng hợp đồng mẫu lại không phản ánh nguyên tắc này Các điều khoản trong hợp đồng thường do một bên soạn thảo và công bố, trong khi bên còn lại không có quyền thương thảo, dẫn đến việc thiếu tính bình đẳng và thỏa thuận giữa các bên.

Luật Sở hữu trí tuệ (SHTT) trong lĩnh vực thương mại điện tử (TMĐT) cần được cải cách để bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu và ngăn chặn việc lợi dụng từ các tổ chức, cá nhân Việc giảm thiểu sao chép trong TMĐT là cần thiết, và nhà nước nên ban hành các nghị định mới về SHTT để đảm bảo sự bảo vệ hiệu quả hơn.

Cần bổ sung quy định và chế tài xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại điện tử vào Luật XLVPHC để tăng tính minh bạch và tạo niềm tin cho khách hàng Đồng thời, cần hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thương mại điện tử, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao Các quy định về an toàn dữ liệu và bảo mật thông tin cũng cần được cập nhật, kèm theo chế tài xử lý vi phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin Hơn nữa, việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác trong quản lý thị trường thương mại điện tử là cần thiết để hạn chế tranh chấp Nghị định 52/2013/NĐ-CP cũng cần được thay thế bởi các văn bản pháp lý phù hợp hơn, đặc biệt trong việc thực hiện giao dịch trên thiết bị di động.

Năm nay, cần tiến hành rà soát và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) về hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) Việc ban hành VBQPPL không thể tránh khỏi sự trùng lặp trong hệ thống pháp luật và tồn tại những quy định không còn phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội hiện tại Do đó, nhà nước cần liên tục kiểm tra và hoàn thiện các quy định pháp luật Các cơ quan có thẩm quyền cần sửa đổi, bổ sung và thay thế những điều khoản không phù hợp nhằm hoàn thiện hệ thống VBQPPL về HĐTMĐT, đồng thời đảm bảo tính hợp hiến và hợp pháp của các quy định này.

Cần hoàn thiện và cụ thể hóa các quy định về giải quyết tranh chấp trong hợp đồng thương mại điện tử Cần sửa đổi nội dung liên quan đến thẩm quyền giải quyết và các quy định trong Luật Giao dịch điện tử Nhà nước khuyến khích các bên tự giải quyết tranh chấp qua thương lượng hoặc hòa giải Nếu không đạt được thỏa thuận, tranh chấp có thể được đưa ra Tòa án hoặc Trọng tài Thủ tục giải quyết tranh chấp sẽ tuân theo quy định hiện hành của Tòa án hoặc Trọng tài.

Bảy là, nghiên cứu và đề xuất ban hành các quy định pháp luật về “tài sản ảo”.

Trong hợp đồng thương mại điện tử, việc trao đổi tài sản ảo diễn ra thường xuyên, mang lại lợi nhuận cao nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro lớn Khi xảy ra tranh chấp, quyền lợi của các bên không được đảm bảo do thiếu quy định điều chỉnh Theo Bộ luật Dân sự 2015, tài sản ảo không được xem là giấy tờ có giá hay tài sản hữu hình, vô hình Do đó, cơ quan nhà nước cần nghiên cứu và đề xuất các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh về tài sản ảo, xác định rõ việc chấp nhận hay không chấp nhận loại tài sản này trong giao dịch trên thị trường.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về giao kết hợp đồng thương mại điện tử có yếu tố nước ngoài.

Hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện nhưng vẫn còn thiếu sót, đặc biệt là trong các quy định liên quan đến hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) có yếu tố nước ngoài Để nâng cao tính toàn diện của hệ thống pháp luật, Nhà nước cần tiếp tục sửa đổi và rà soát các quy định, đưa ra những hướng dẫn cụ thể hơn HĐTMĐT có yếu tố nước ngoài được xác định khi có ít nhất một bên tham gia là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, hoặc khi có mối quan hệ dân sự liên quan đến công dân, tổ chức Việt Nam nhưng chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước ngoài Việc hiểu rõ bản chất của HĐTMĐT có yếu tố nước ngoài thông qua các hợp đồng mua bán quốc tế là rất quan trọng.

Hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) có yếu tố nước ngoài được định nghĩa là những hợp đồng đáp ứng một số tiêu chí nhất định Để xác định một HĐTMĐT có yếu tố nước ngoài, cần làm rõ các điều kiện liên quan đến sự tham gia của các bên từ các quốc gia khác nhau trong giao dịch thương mại điện tử.

Trong các quan hệ dân sự, có ít nhất một bên tham gia là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài, bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

39 Xem quy định tại Điều 52 Luật Giao dịch điện tử năm 2005

Theo điều 663 Bộ Luật Dân sự năm 2015, các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài có thể được xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt dựa trên pháp luật nước ngoài, nếu có ít nhất một bên tham gia là công dân hoặc tổ chức Việt Nam, hoặc có sự tham gia của cá nhân, tổ chức nước ngoài Điều này bao gồm cả các quan hệ phát sinh tại nước ngoài hoặc liên quan đến tài sản ở nước ngoài Để hiểu rõ hơn về bản chất của hợp đồng mua bán quốc tế và hợp đồng thương mại điện tử, cần xem xét kỹ lưỡng các khái niệm liên quan đến yếu tố nước ngoài trong các hợp đồng này.

Việc giao kết hợp đồng thương mại điện tử (HĐTMĐT) có yếu tố nước ngoài cần được bổ sung và hướng dẫn cụ thể qua các nghị định Luật Giao dịch điện tử 2005 chưa đề cập đầy đủ về HĐTMĐT có yếu tố nước ngoài, đặc biệt là việc công nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử và chứng thư điện tử nước ngoài Theo luật, chỉ công nhận giá trị pháp lý nếu chúng có độ tin cậy tương đương với các quy định trong nước, và việc xác định độ tin cậy này phải dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế đã được thừa nhận Mặc dù Điều 27 đã đề cập đến HĐTMĐT có yếu tố nước ngoài, nhưng các quy định vẫn chưa rõ ràng, cần giải thích và hướng dẫn cụ thể để doanh nghiệp có thể thực hiện giao kết một cách linh hoạt, tránh những khó khăn không cần thiết.

Chúng ta có thể rút ra bài học từ kinh nghiệm của các quốc gia khác về việc sử dụng chữ ký điện tử UNCITRAL đã nhấn mạnh rằng việc công nhận chữ ký điện tử là rất quan trọng trong việc thúc đẩy giao dịch điện tử và tăng cường tính hợp pháp của các tài liệu số.

Ngày đăng: 07/04/2022, 13:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Quốc hội (2005), Luật thương mại năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật thương mại năm 2005
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
2. Quốc hội (2005), Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Giao dịch điện tử năm 2005
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
3. Quốc hội (2006), Luật sở hữu trí tuệ năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sở hữu trí tuệ năm 2006
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2006
4. Quốc hội (2006), Luật công nghệ thông tin năm 2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật công nghệ thông tin năm 2006
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2006
5. Quốc hội (2009), Luật viễn thông năm 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật viễn thông năm 2009
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2009
6. Quốc hội (2009), Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật sở hữu trí tuệ năm 2009,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật sở hữu trí tuệ năm
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2009
7. Quốc hội (2010), Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật bảo vệ người tiêu dùng năm 2010
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2010
8. Quốc hội (2015), Bộ luật dân sự năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật dân sự năm 2015
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
9. Quốc hội (2015), Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
10. Quốc hội (2015), Bộ luật hình sự năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự năm 2015
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2015
11. Chính Phủ (2013), Nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủ quy định về thương mại điện tử, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 của Chính phủquy định về thương mại điện tử
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2013
12. Chính Phủ (2013), Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013 củaChính phủ về quản lí, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2013của
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2013
13. Chính Phủ (2018), Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ hướng dẫn Luật giao dịch điện tử về chữ kí số và dịch vụchứng thựcchữ kí số Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 130/2018/NĐ-CP ngày 27 tháng 9 năm 2018của Chính phủ hướng dẫn Luật giao dịch điện tử về chữ kí số và dịch vụ"chứng thực
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2018
14. Chính Phủ (2020), Nghị định 98/2020/NĐ-CP, quy định xử phạt vi phạm hànhchính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 98/2020/NĐ-CP, quy định xử phạt vi phạmhành
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2020
44. Thời báo Ngân hàng, 28/6/2017, https://thoibaonganhang.vn/mua-hang-hieu-truc-tuyen-da-dang-tin-64615.html;III. Website, nguồn internet Link
[10] E-invoice chuyên gia hóa đơn điện tử, Thanh toán điện tử và các hình thứcthanh toán điện tử phổ biến nhất hiện nay, 18/02/2020, https://einvoice.vn/tin- tuc/thanh-toan-dien-tu Link
[13] Thời báo Ngân hàng, 28/6/2017, https://thoibaonganhang.vn/mua-hang-hieu-truc-tuyen-da-dang-tin-64615.html Link
[21] Bộ Công thương (2018), Báo cáo thương mại điện tử Việt Nam 2018 [22] https://dtmconsulting.vn/bao-cao-chi-so-thuong-mai-dien-tu-2019-cua-vecom/,truy cập 22/4/2021 Link
[27] Báo cáo chỉ số thương mại năm 2019, https://dtmconsulting.vn/bao- cao-chi-so-thuong-mai-dien-tu-2019-cua-vecom/ , truy cập 14/5/2021 Link
[28] Báo cáo chỉ số thương mại năm 2019, https://dtmconsulting.vn/bao- cao-chi-so- Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

l iv hình th c, câu ch ữ - 848 pháp luật về hợp đồng thương mại điện tử
l iv hình th c, câu ch ữ (Trang 84)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w