Có thể nói, ý tưởng ứng dụng hệ thống CNTT và các giải pháp số hóa vào bệnh viện đã đƣợc các thế hệ lãnh đạo Ngành y tế tỉnh Lào Cai đề cập từ lâu. Tuy nhiên, do những khó khăn khách quan và chủ quan, phải đến đầu năm 2010, Bệnh viện Đa khoa số 1 tỉnh Lào Cai mới có thể bắt tay vào việc triển khai xây dựng Dự án “ứng dụng hệ thống thông tin máy tính phục vụ công tác quản lý, điều hành hoạt động khám bệnh, điều trị, nghiên cứu và đào tạo”. Công việc đƣợc triển khai một cách tích cực, thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực y học và CNTT. Và đến tháng 3 năm 2013, theo phê duyệt của UBND tỉnh Lào Cai về việc sát nhập hai Bệnh viện đa khoa số 1 và số 2 thành Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lào Cai, Bệnh viện được xây dựng mới với quy mô 500 giường bệnh chính thức đi vào hoạt động thì việc triển khai Dự án mới đƣợc thực hiện một cách hiệu quả.
Mục tiêu ban đầu mà dự án đặt ra là từng bước ứng dụng CNTT vào phục vụ công tác điều hành của Ban Giám đốc Bệnh viện. Hỗ trợ việc thu thập, xử lý, lưu trữ, khai thác và trao đổi thông tin khoa học giữa các khoa trong Bệnh viện. Tiến tới kết nối các trang thiết bị ứng dụng CNTT giữa Bệnh viện Đa khoa Lào Cai với các bệnh viện khác ở trong và ngoài tỉnh.
Để đạt đƣợc mục tiêu trên, Bệnh viện tập trung đầu tƣ xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng thông tin. Ngay khi thành lập bệnh viện, với tổng mức đầu tƣ hang chục tỷ đồng, Bệnh viện đã cơ bản lắp đặt xong hệ thống máy chủ; hệ thống lưu trữ dữ liệu tập trung; lắp đặt hệ thống PACS cho phép lưu trữ và truyền tải hình ảnh y tế tới phòng mổ, khoa hồi sức tích cực và các khoa khác; hoàn thành lắp đặt mạng LAN trong bệnh viện, bảo đảm yêu cầu kỹ thuật và chỉ tiêu chất lƣợng theo thiết kế đƣợc phê duyệt. Đồng thời xây dựng đƣợc ba phần mềm hệ thống gồm: Hệ điều hành mạng Windows Server 2005; Hệ quản trị cơ sở dữ liệu (CSDL) Microsoft Server 2000; Microsoft Exchange Server 2005, cùng 16 hệ CSDL và phần mềm gồm: Hệ
- 85 –
chương trình quản lý khám bệnh; Hệ chương trình và CSDL quản lý hồ sơ bệnh án;
Hệ chương trình quản lý bệnh nhân nội trú; Hệ chương trình CSDL quản lý cận lâm sàng; Hệ chương trình và CSDL tính viện phí; Hệ chương trình và CSDL quản lý ngân hàng máu; Hệ chương trình và CSDL quản lý trang thiết bị y tế; Hệ chương trình và CSDL quản lý thư viện, đề tài và thông tin khoa học ngành y; Hệ chương trình CSDL quản lý cán bộ, nhân viên; Hệ chương trình và CSDL quản lý công văn và văn bản pháp quy; Hệ chương trình quản lý công tác Đảng, công tác chính trị;
Hệ chương trình quản lý công tác huấn luyện, đào tạo.
Mỗi hệ chương trình đều có nhiều tiện ích cho phép quản lý công việc, quản lý bệnh nhân một cách hiệu quả. Ví dụ: Chương trình Quản lý công tác khám bệnh có tính năng tạo lập bệnh án điện tử cho bệnh nhân, sau đó tự động phân loại đối tƣợng, tự động lên danh sách, sắp xếp thứ tự bệnh nhân để chuyển tới các phòng khám cho phép các bác sỹ truy cập vào bệnh án tìm hiểu thêm về tiền sử bệnh từ những lần khám trước đó. Các bác sỹ tại phòng khám có thể chỉ định xét nghiệm, yêu cầu xét nghiệm, yêu cầu khám chuyên khoa và nhận kết quả ngay tại phòng khám của mình, thông qua máy tính. Việc kê đơn cũng đƣợc tiến hành trên máy vi tính và thông tin đơn thuốc tự động chuyển tới nơi cấp phát thuốc tương ứng. Mọi chi phí khám chữa bệnh (tiền dịch vụ khám chữa bệnh, xét nghiệm và tiền thuốc của bệnh nhân) đƣợc máy tính tự động tổng hợp chuyển tới bộ phận tài chính thanh toán cho bệnh nhân.
Hệ chương trình và CSDL quản lý dược, ngoài việc cho phép Bệnh viện quản lý chặt chẽ, đầy đủ hàng ngàn danh mục thuốc, trang bị, với đầy đủ thông tin về nhà sản xuất, ngày nhập xuất… còn có tác dụng hỗ trợ tích cực các bác sỹ khi kê đơn:
giúp các bác sỹ nắm đƣợc thông tin về thuốc (hoạt chất, đơn giá, số lƣợng thuốc hiện còn, thuốc thay thế các hoạt chất cùng nhóm…); đồng thời cho phép bác sỹ tham khảo đơn thuốc mẫu, sao lại đơn thuốc đã kê, giúp việc kê đơn cho bệnh nhân nhanh chóng chính xác…
- 86 –
Cùng với quá trình đầu tƣ cơ sở hạ tầng CNTT, xây dựng các phần mềm quản lý, Bệnh viện đã phối hợp với các nhà cung cấp tổ chức huấn luyện, đào tạo cho hàng trăm lƣợt cán bộ nhân viên về khai thác sử dụng mạng CNTT giúp cho việc ứng dụng hệ thống CNTT và các giải pháp số hóa trong Bệnh viện đƣợc thuận lợi, thông suốt, góp phần thiết thực nâng cao chất lƣợng khám chữa bệnh, giảm phiền hà cho người bệnh.
Hiệu quả đầu tƣ
Sau khi đƣa vào khai thác, hệ thống CNTT và các giải pháp số hóa đã thực sự phát huy hiệu quả trong công tác quản lý khám bệnh và điều trị bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Lào Cai: Thông qua mạng máy tính, Giám đốc Bệnh viện đã quản lý đƣợc tổng thể các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ bệnh viện: từ hoạt động khám bệnh, quá trình điều trị đến các khâu quản lý nghiệp vụ dƣợc, trang thiết bị vật tƣ y tế, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh, nội soi thăm dò chức năng, thủ thuật, phẫu thuật và các dịch vụ khác. Hệ thống phần mềm đã tự động tổng hợp các số liệu về lƣợng bệnh nhân ra vào viện, số lƣợng thuốc, vật tƣ tiêu hao và chi phí cho mỗi bệnh nhân, giúp cho công tác quản lý đƣợc chặt chẽ, chính xác, hạn chế đƣợc tiêu cực, thất thoát kinh phí, thuốc men.
Khi vào viện khám bệnh và điều trị, mỗi người bệnh có một mã bệnh nhân duy nhất, nhờ đó thầy thuốc có thể theo dõi đƣợc kết quả tất cả các đợt khám bệnh trước đó, giúp việc điều trị và chăm sóc sức khoẻ người bệnh được toàn diện và hiệu quả. Hơn nữa, thông qua hệ thống PACS lưu trữ truyền tải hình ảnh các bác sỹ có thể xem kết quả chiếu chụp ngay trên máy tính của mình mà không cần in phim, đồng thời so sánh kết quả với những lần chụp chiếu trước đây của bệnh nhân. Qua đó hỗ trợ tốt hơn trong chẩn đoán điều trị và tiết kiệm đáng kể chi phí tiền phim so với cách làm cũ. Hệ thống kết nối máy xét nghiệm còn giúp việc thực hiện một số lƣợng lớn xét nghiệm nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm đƣợc sức lực của cán bộ, nhân viên.
- 87 –
Đối với người bệnh, hiệu quả đem lại rõ nhất là mọi thủ tục khi ra vào viện được thực hiện nhanh chóng, chính xác. Bệnh nhân đỡ phải di chuyển và chờ đợi; giảm bớt những phiền hà tiêu cực trong các khâu khám chữa bệnh.
Có thể nói, sau hơn một năm đi vào hoạt động, mạng CNTT ở Bệnh viện Đa khoa Lào Cai đã đƣợc triển khai một cách sâu rộng, ngày càng đi vào nền nếp và đã trở thành công cụ không thể thiếu trong công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụ bệnh viện. Trong toàn Bệnh viện đang dần hình thành nền nếp làm việc hiện đại, khoa học, vừa xây dựng đƣợc khối làm việc độc lập, vừa tạo đƣợc sự chia sẻ dữ liệu giữa các khoa, qua đó, nâng cao hiệu quả trong khám bệnh và điều trị.
Tiếp tục xây dựng hoàn thiện hệ thống CNTT hiện đại
Theo các đồng chí trong Ban Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Lào Cai: hệ thống CNTT và các giải pháp số hóa cho bệnh viện đã cho thấy hiệu quả to lớn trong hoạt động quản lý điều hành bệnh viện. Vì vậy, trong thời gian tới, Bệnh viện sẽ tiếp tục đầu tư hoàn thiện và thường xuyên duy trì hoạt động của hệ thống CNTT hiện có.
Sẵn sàng kết nối dữ liệu và kết nối hình ảnh với các bệnh viện tuyến Trung ƣơng, các bệnh viện trong và ngoài tỉnh, phục vụ hội chẩn và điều trị từ xa. Mở rộng khai thác các tính năng, CSDL để đạt hiệu quả cao hơn trong quản lý điều hành bệnh viện. Triển khai thêm phần mềm phục vụ chuyên môn tại các khoa chẩn đoán hình ảnh (máy siêu âm, nội soi, kính hiển vi điện tử…). Duy trì hoạt động thường xuyên hệ PACS, xây dựng phòng chẩn đoán hình ảnh tập trung hiện đại. Từng bước xây dựng và hoàn thiện website của Bệnh viện, giúp người bệnh có thể đăng ký và theo dõi hoạt động khám bệnh từ xa, góp phần tiết kiệm thời gian, giảm phiền hà cho người bệnh. Bên cạnh đó, Bệnh viện sẽ tăng cường khâu đảm bảo an toàn và an ninh mạng, phòng chống vi-rút máy tính. Sao lưu dự phòng dữ liệu. Có biện pháp dự phòng khi gặp sự cố mạng, không để xảy ra tình trạng ùn tắc bệnh nhân. Xây dựng và tổ chức đội ngũ cán bộ nhân viên CNTT đủ số lƣợng và chất lƣợng để có thể quản trị và duy trì hoạt động của hệ thống mạng. Đồng thời mở rộng đối tƣợng
- 88 –
huấn luyện, phấn đấu ngày càng có nhiều người sử dụng thành thạo các ứng dụng của mạng CNTT, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ, giảm phiền hà cho người bệnh và từng bước đưa các hoạt động bệnh viện ngày càng đi vào nền nếp, chính quy.
Ngoài ra, có thể liệt kê một vài dự án trọng điểm ứng dụng mạng CNTT và các giải pháp số hóa rất hiệu quả đã đƣợc Bộ y tế triển khai nhƣ:
(1) Đề tài "Nghiên cứu triển khai thử nghiệm Mạng y tế từ xa" với việc truyền hình ảnh, các dữ liệu y tế giữa các bệnh viện để tƣ vấn và chẩn đoán bệnh, bước đầu là tư vấn hội chẩn siêu âm tim mạch từ xa được thực hiện bởi Viện Khoa học kỹ thuật bưu điện (Học viện Công nghệ bưu chính viễn thông) kết hợp với các Viện, gồm: Viện Tim mạch Bạch Mai, Viện Nhi, Bệnh viện Bưu điện, Bệnh viện Đa khoa Bắc Giang và Bệnh viện Đa khoa Lạng Sơn.
Siêu âm tim mạch đƣợc chọn để triển khai thử, do tính đồng bộ và khả năng kết nối về thiết bị và do bệnh lý về tim mạch trong thực tế cũng chiếm tỷ lệ cao, hơn nữa, ảnh siêu âm tim mạch đòi hỏi chất lƣợng cao nên nếu truyền ảnh đạt yêu cầu thì hoàn toàn có thể triển khai cho nội soi và chụp cắt lớp.
Kết quả thử nghiệm: Mạng đã kết nối thành công, toàn bộ các hình ảnh (gồm:
hình ảnh bệnh nhân, thao tác của bác sĩ siêu âm) và dữ liệu siêu âm tim mạch cần thiết giữa các điểm mạng đƣợc truyền trực tiếp về Viện Tim mạch; đồng thời thực hiện nối đối thoại hình và ảnh giữa Trung tâm và hai bệnh viện tuyến tỉnh để phục vụ việc phân tích và hội chẩn.
- 89 –
Hình 4. 1 Mô hình mạng y tế từ xa
Hệ thống bắt ảnh và ghép nối từ siêu âm ra máy tính đƣợc triển khai tại mỗi điểm mạng, đảm bảo đƣợc yêu cầu chất lƣợng ảnh cho tƣ vấn và chẩn đoán, với thời gian truyền từ 1-3 phút tùy theo tuyến nội hạt hay liên tỉnh. Kết quả đƣợc các chuyên gia y tế chấp nhận. Theo các chuyên gia viễn thông, giải pháp mạng kết nối, bắt và nén ảnh bảo đảm chất lƣợng y tế với thời gian truyền ảnh 1 phút là khả thi về mặt kỹ thuật.
(2) Dự án Bệnh viện vệ tinh: đƣợc phối hợp tổ chức bởi Bộ Y tế và Bộ Thông tin và truyền thông (đơn vị trực tiếp thực hiện là Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam - VNPT). Bước đầu, dự án đang được triển khai thử nghiệm tại Bệnh vện Việt Đức và sáu bệnh viện tỉnh phía Bắc gồm: Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Ninh, Bệnh viện đa khoa Việt Tiệp-Hải Phòng, bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, bệnh viện đa khoa khu vực Sơn Tây, bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, và bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định.
- 90 –
Ca tƣ vấn phẫu thuật trực tuyến qua cầu truyền hình đầu tiên đƣợc thực hiện giữa Bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng đã thành công sau hơn 30 phút. Một bệnh nhân 57 tuổi ở Hải Phòng bị viêm túi mật do sỏi đã đƣợc 2 bệnh viện hội chẩn và tiến hành mổ cắt bỏ túi mật đã bị viêm bằng phương pháp nội soi. Trong suốt quá trình này, kíp mổ của Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng đã đƣợc các giáo sƣ, bác sỹ ở Bệnh viện Việt Đức theo dõi và chỉ đạo sát sao đến từng thao tác bóc, tách, cắt, đốt và gắp bỏ bệnh phẩm ra ngoài ổ bụng bệnh nhân.
Hình 4. 2 Phẫu thuật qua truyền hình
Theo nghiên cứu, nhờ có hệ thống tƣ vấn từ xa trong dự án Bệnh viện vệ tinh này sẽ góp phần giảm tới 50% những trường hợp bệnh nhân không cần thiết phải chuyển lên tuyến trên và không được chữa trị kịp thời; giảm từ 70-80% những trường hợp bệnh nhân điều trị sai bệnh ở các bệnh viện tuyến dưới.
Kết quả sau khi dự án triển khai giai đoạn I, tại BV đa khoa Thanh Hóa số lƣợng ca phẫu thuật đã tăng từ 2838 ca (2003) lên 7432 ca (9 tháng đầu năm 2006); Năm 2004, có hơn 2.800 bệnh nhân từ Phú Thọ chuyển lên Hà Nội thì đến năm 2006 chỉ còn 2.100 ca phải lên tuyến trung ƣơng, số bệnh nhân phẫu thuật năm 2004 là 3.224 bệnh nhân, 9 tháng năm 2006 đã tăng lên 5.432 bệnh nhân, số ca tử vong ở BV Phú Thọ cũng giảm từ 105 trường hợp (năm 2003) xuống 70 trường hợp (năm 2006). Tại
- 91 –
bệnh viện đa khoa khu vực Sơn Tây: số bệnh nhân phẫu thuật 9 tháng năm 2006 tăng gần gấp đôi so với năm 2004, với 1.642 bệnh nhân. Dự kiến BV vệ tinh sẽ đƣợc mở rộng triển khai tiếp tại sáu BV đa khoa các tỉnh Thái Bình, Hoà Bình, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Ninh Bình và BV Đa khoa trung ƣơng Thái Nguyên.
(3) Dự án "Y học từ xa" của Bộ Quốc phòng giai đoạn mở đầu thực hiện vào nǎm 2000 cũng là một nỗ lực đáp ứng nhu cầu y tế từ xa của nước ta.
Các thành viên tham gia dự án: bệnh viện Trung ƣơng quân đội 108 (Hà Nội) và Quân y viện 175 (Tp. Hồ chí Minh). Tại mỗi bệnh viện đều thiết lập một mạng LAN kết nối 2 máy chẩn đoán hình ảnh chủ yếu là CT và Siêu âm. Dùng 3 máy tính bình thường làm 3 trạm làm việc: 1 ở máy CT, 1 ở máy Siêu âm và 1 ở phòng giao ban. Nhờ một card mạng và phần mềm tương ứng, hình ảnh số hoá được lấy ra từ thiết bị sinh hình và chuyển sang mạng. Các trạm làm việc vừa đảm bảo xem hình, vừa thực hiện chức nǎng hậu xử lý (postprocessing): thay đổi độ rộng cửa sổ, mức cửa sổ; đảo hình, xoay hình; khuếch đại soi kính (Magnifying Glass); phóng đại hình theo các hệ số hay vùng yêu cầu; đo khoảng cách và đo góc; đo tỷ trọng cho từng điểm; chú thích trên hình và có thể thao tác xem từng hình hay nhiều hình đồng thời.
Hình ảnh lưu chuyển trên mạng theo chuẩn DICOM, giao thức TCP/IP. Khi cần thiết, có thể ghép TCP/IP vào mạng máy Laser Camera theo chuẩn DICOM và từ đó có thể in phim trên mạng, tiết kiệm được máy in ở các thiết bị sinh hình (trước đây mỗi thiết bị sinh hình đều có một máy in, sau khi có mạng chỉ cần sử dụng một máy in phim dùng chung cho tất cả các thiết bị sinh hình). Thông qua một máy chủ truyền thông, toàn bộ hình ảnh cần thiết cho chẩn đoán có thể truyền từ Bệnh viện Trung ƣơng quân đội 108 vào QY viện 175 và ngƣợc lại, đồng thời hình ảnh cũng có thể được tổ chức lại, được lưu trữ và khi cần có thể tìm lại và cho tái hiện nhanh chóng, góp phần nâng cao chất lƣợng chẩn đoán. Cũng từ đó sẽ hình thành một ngân hàng dữ liệu về hình ảnh và tạo tiền đề cho công tác nghiên cứu, đào tạo nhằm nâng cao chuyên môn.
- 92 – C. KẾT LUẬN
Ngày nay, khi mạng máy tính phát triển, ứng dụng của nó trong y tế cũng ngày càng đƣợc mở rộng. Với sự ra đời của các mạng y tế nhƣ HIS, RIS, PACS, điều đó là cần thiết cho nhu cầu phát triển hạ tầng y tế trong việc chăm sóc sức khỏe cho mọi người.
Các hệ thống thông tin y tế nhu HIS (Hospital Information System) từ nay đã thay thế cho công tác quản lý bệnh viện bằng các tủ hồ sơ cồng kềnh, cần nhiều người cũng như không gian lưu trữ, bảo quản phức tạp như trước kia. Thêm vào đó hệ thống thông tin chẩn đoán hình ảnh RIS (Radiology Information System) và hệ thống lưu trữ và truyền ảnh PACS (Picture Archiving and Communication System) cũng ra đời đã giúp cho việc quản lý thông tin hình ảnh (những thông tin này chiếm một phần rất lớn trong thông tin bệnh viện – lên đến hơn 90%) một cách dễ dàng hơn. Thông tin hình ảnh không chỉ được in ra các film mà còn được lưu trữ trong hệ thống các đĩa nhớ và các CD giúp tiết kiệm chi phí rất lớn cho các bệnh viện. Và đặc biệt giúp ích rất nhiều cho công tác truy xuất dữ liệu, đánh giá và thống kê số liệu…
Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin, ứng dụng các giải pháp số hóa cho bệnh viện là một điều rất quan trọng, do đó phải xây dựng trên cơ sở yêu cầu thực tế và nhu cầu ứng dụng của bệnh viện trong tương lai để đưa ra những giải pháp hợp lý nhất, đảm bảo sự tối ƣu hóa của hệ thống cũng nhƣ xây dựng một mạng tích hợp đa dịch vụ chất lƣợng trên nền tảng công nghệ đƣợc đề xuất có tính toán đến hiệu quả nhất về chi phí đầu vào và những ứng dụng trong tương lai gần.