L ợi ích kinh tế

Một phần của tài liệu PHÁT TRIỂN DU LỊCH bền VỮNG TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN TRẠNG và ĐỊNH HƯỚNG (Trang 81 - 91)

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN

2.3. Th ực trạng phát triển du lịch bền vững tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2001 –

2.3.1. L ợi ích kinh tế

2.3.1.1. Số lượng du khách quốc tế và nội địa giai đoạn 2001 – 2010

Khách du lịch đến Đồng Tháp chủ yếu là khách hành hương lễ hội và tham quan chiếm 77,6% (năm 2010) và số khách du lịch với mục đích này đề tăng dần qua các năm duy chỉ có năm 2007 lại giảm so với các năm khác (giảm 10.35% so với năm trước); còn khách du lịch chiếm tỉ lệ nhỏ khoảng 1/3 lượng khách, tuy nhiên lượng khách này lại tăng khá ổn dịnh qua các năm từ 2000 - 2010. Khách lưu trú qua đêm thì ngày càng tăng chiếm khoảng 44,6% (năm 2010), điều này là do hệ thống các dịch vụ phục vụ du lịch của tỉnh đã ngày càng được nâng cấp nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách và đây cũng là một lợi thế hiện nay của tỉnh trong việc thu hút khách du lịch trở lại tỉnh Đồng Tháp; trong đó chủ yếu là khách nội địa còn người nước ngoài lưu lại qua đêm chiếm khoảng 0,6% mà thôi. Khách du lịch đến Đồng Tháp trong giai đoạn 2000 - 2010 nhìn chung đều tăng qua các năm, tuy nhiên lượng khách tăng không đều có năm tăng mạnh như năm 2008 tăng so với năm

trước 37,05% nhưng có năm lại giảm như năm 2007 (-2,63 so với năm trước) và năm 2010 (tăng 4,82% so với năm trước).

Bảng 2.4. Khách du lịch đến Đồng Tháp giai đoạn 2000 – 2010

Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng lượt khách Lượt 68.597 66.073 73.372 94.731 519.476 580.241 720.542 701.527 961.437 1.130.000 1.184.500 Tăng trưởng so với năm

trước % 11,7 29,35 -2,63 37,05 17,53 4,82

1. Khách du lịch Lượt 68.597 66.073 73.372 94.731 113.476 131.090 153.006 192,767 221.437 239.000 265.500

Tăng trưởng so với năm

trước % -3,68 11,05 29,11 19,78 15,52 16,72 25,99 14,87 7,93 11,09

Trong đó, khách quốc tế Lượt 21.730 23.637 22.065 15.095 6.520 10.356 6.678 12.968 19.516 14.800 20.000

Tăng trưởng so với năm

trước % 8,78 -6,65 -31,59 -56,8 58,83 -35,51 94,19 50,49 -24,16 35,14

2. Khách tham quan hành

hương Lượt 406.000 449.151 567.536 508.760 740.000 891.000 919.000

Tăng trưởng so với năm

trước % 10,63 26,35 -10,35 45,45 20,4 3,14

3. Số khách lưu trú Người 47.910 412.268 505.401 513.660 528.270

Trong đó, khách quốc tế Người 225 1.758 2.151 2.210 3.040

4. Số ngày lưu trú Ngày 65.890 598.720 770.685 689.558 662.104

Nguồn khách du lịch của tỉnh chủ yếu đến từ trung tâm du lịch thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phụ cận trong vùng đồng bằng sông Cửu long cùng với khách nội tỉnh.Trong số khách du lịch đến Đồng Tháp thì chủ yếu là khách nội địa chiếm 92,5%, còn khách quốc tế thì chiếm tỉ lệ rất nhỏ 7,5% (năm 2010) với số lượng tăng giảm thất thường; đặc biệt các năm 2002, 2003, 2004, 2006, 2009 thì số khách quốc tế giảm nhanh, các năm còn lại đều tăng khá ổn định. Từ đó cũng làm cho tốc độ tăng trưởng cũng thay đổi nhanh chóng qua các năm. Việc mở rộng thị trường ra nước ngoài còn rất hạn chế, chủ yếu do các Công ty lữ hành ở thành phố Hồ Chí Minh đưa khách đến do mối quan hệ được xác lập trước đây. Công ty Cổ phần Du lịch thì chưa đủ sức vươn ra lập Văn phòng đại diện hoặc các chi nhánh để trực tiếp giao dịch, quảng bá sản phẩm của mình.

Biểu đồ 2.3. Hiện trạng khách du lịch tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2000 - 2010

Nguyên nhân chủ yếu của sự sụt giảm khách quốc tế là:

- Các đơn vị liên kết hoạt động kinh doanh lữ hành hầu như đã “bỏ tour” đưa khách đến tham quan ở một số khu du lịch, như khu du lịch Xẻo Quýt, vì trong gần 1 năm các dịch vụ hỗ trợ tại khu du lịch Xẻo Quýt không được bổ sung và đổi mới, chỉ đơn thuần là tham quan khu di tích bằng đường bộ hoặc đường thủy bơi xuồng trong khu rừng tràm, chất lượng du lịch chưa cao (dịch vụ ăn uống), chưa có sự đồng nhất giữa Ban quản lý khu Di tích lịch sử Cách mạng và đơn vị khai thác dịch

- Đối với khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, dịch vụ cũng còn đơn điệu không khác gì khu du lịch Xẻo Quýt, cũng chỉ ăn uống, bơi xuồng … điểm khác nhau duy nhất là ở Xẻo Quýt được ngắm rừng tràm nguyên sinh và khu căn cứ cách mạng còn ở Gáo Giồng được ngắm rừng tràm mới tái tạo được sân chim. Ngay cả Vườn quốc gia Tràm Chim thì hoạt động khai thác du lịch cũng rất hạn chế và đơn điệu, phục vụ chủ yếu cho hoạt động nghiên cứu về đa dạng sinh học.

- Cơ sở hạ tầng tại các khu, điểm du lịch còn hạn chế, gây khó khăn trong việc hình thành tour khép kín; nguồn kinh phí đầu tư cho phát triển du lịch trong những năm vừa qua còn thiếu tập trung, các khu di tích, các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian, các làng nghề thủ công truyền thống cũng chưa được đầu tư khôi phục. Mặt khác, cơ chế quản lý khai thác tại các khu di tích, văn hóa, lịch sử gắn liền với khai thác dịch vụ du lịch chưa thống nhất, chất lượng dịch vụ chưa được quan tâm đúng mức nên chưa mang lại hiệu quả thiết thực, gây ảnh hưởng không ít đến việc thu hút khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế.

Du khách đến Đồng Tháp chủ yếu nhằm mục đích du lịch sinh thái, tham quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng, … Điểm đến của họ, đặc biệt là du khách quốc tế là Vườn quốc gia Tràm Chim, Khu di tích Gò Tháp, Khu du lịch Xẻo Quýt, khu du lịch sinh thái Gáo Giồng, Lăng mộ cụ Nguyễn Sinh Sắc,…

Hiện nay, với những điều kiện về cơ sở vật chất kĩ thuật, đi lại, thông tin liên lạc, … phục vụ du lịch đã được cải thiện rất nhiều cũng đã tạo nên động lực nhằm thu hút khách du lịch đến với Đồng Tháp, phát triển du lịch tỉnh nhà.

Theo báo cáo của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đồng Tháp, mức chi tiêu trung bình của khách đến Đồng Tháp là 30 USD đối với khách quốc tế lưu trú qua đêm và 5 USD cho khách quốc tế đi trong ngày; 15 USD/người/ngày cho khách nội địa lưu trú qua đêm và 3 USD cho khách nội địa tham quan trong ngày. Tuy nhiên các số liệu thống kê trên cũng chưa đầy đủ vì chi tiêu mua sắm, ăn uống, … của khách mới chỉ thống kê trong phạm vi của khu du lịch và trong các nhà hàng khách sạn do ngành du lịch quản lí. Do vậy con số đó còn thấp hơn so với thực tế chi tiêu

của khách tại Đồng Tháp và thấp hơn nhiều so với mức chi tiêu trung bình chung của khách du lịch ở Việt Nam hiện nay từ 70 USD – 100 USD/1 ngày cho khách quốc tế và 25 USD – 30 USD/1 ngày cho khách nội địa (theo điều tra năm 2000 – 2001 của Viện NCPT phát triển).

2.3.1.2. Doanh thu du lịch giai đoạn 2001 – 2010

Ở Việt Nam hiện nay tồn tại hai khái niệm về doanh thu: doanh thu ngành du lịch hiện được thống kê từ doanh thu của các doanh nghiệp thuộc ngành du lịch quản lí và doanh thu xã hội từ doanh thu được hiểu là các khoản thu nhập do khách du lịch mang lại cho xã hội thuộc tất cả các ngành của nền kinh tế.

Doanh thu ngành du lịch

Theo khái niệm doanh thu của các doanh nghiệp do ngành du lịch quản lí được phản ánh ở bảng sau:

Bảng 2.5. Doanh thu du lịch tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2000 – 2010 Đơn vị: triệu đồng

Năm 2000 2005 2008 2009 2010

Tổng doanh thu 12.960 40.648 59.681 34.620 36.701 1. Phân theo khu vực kinh tế

Nhà nước 8.563 14.788 29.286 7.610 8.691

Tư nhân 3.575 830 1.505 1.120 1.360

Cá thể 822 25.030 28.890 25.890 26.650

2. Phân theo loại doanh thu

Doanh thu dịch vụ (*) 6.114 27.272 39.647 23.000 24.380 Doanh thu bán hàng hóa 954 2.792 3.898 2.261 2.390 Doanh thu hàng ăn uống 5.649 10.162 15.554 9.023 9.560

Doanh thu khác 243 422 582 336 371

(*): bao gồm thuê phòng, lữ hành, vận chuyển khách, nguồn thu khác Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp

Nhìn vào bảng trên ta thấy tổng doanh thu ngành du lịch của Đồng Tháp chỉ

lớn như Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh, là rất thấp cho một ngành kinh tế được coi là có vai trò quan trọng trong định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

Nhìn chung, doanh thu du lịch của tỉnh từ 2000 – 2010 tăng (năm 2010 so với năm 2000 tăng khoảng 183,2%), đây là một thành tựu đáng ghi nhận của ngành du lịch tỉnh nhà. Tuy nhiên, nếu so sánh các năm với nhau thì lại có sự sụt giảm khá mạnh vào năm 2008 thì doanh thu đạt 59.681 triệu đồng nhưng đến năm 2009 lại giảm đi rất nhanh còn 34.620 triệu đồng (giảm khoảng 41%). Đến năm 2010 thì doanh thu lại tăng lên 36.701 triệu đồng.

Biểu đồ 2.4. Cơ cấu doanh thu du lịch tỉnh Đồng Tháp năm 2000 và 2010

Cơ cấu doanh thu theo khu vực kinh tế thì Nhà nước chiếm khoảng 24%; còn lại là thành phần tư nhân và cá thể, trong đó cá thể chiếm ưu thế khoảng 73% doanh thu chủ yếu là kinh doanh các hoạt động dịch vụ phục vụ du lịch, như nhà hàng, khách sạn, phòng trọ, massage, karaoke, …

Cơ cấu doanh thu của ngành du lịch Đồng Tháp chủ yếu là doanh thu từ dịch vụ lưu trú (thuê phòng) và ăn uống chiếm trên 80% đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động kinh doanh du lịch, dịch vụ khác chưa được chú trọng (doanh thu từ lưu trú chiếm khoảng gần 50%, doanh thu ăn uống chiếm khoảng 28% - 35%), doanh thu từ bán hàng và các dịch vụ khác không đáng kể (doanh thu bán hàng chiếm khoảng 4,6% - 6,5% và doanh thu khác chiếm khoảng gần 6%). Doanh thu về du lịch của

Đồng Tháp nhìn chung thấp chưa tương xứng với lượng khách du lịch đến Đồng Tháp và tăng không đáng kể trong thời gian qua.

Doanh thu xã hội du lịch của Đồng Tháp:

Đó là các khoản thu từ khách du lịch mang lại trên địa bàn tình Đồng Tháp bao gồm tất cả các khoản thu do khách du lịch chi trả, đó là doanh thu từ lưu trú, ăn uống, từ vận chuyển, mua sắm, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác.

Theo bảng số liệu báo cáo thống kê từ Sở Văn hóa, Thể thao, Du lịch và trên cơ sở ước tính dựa vào đặc điểm và hiện trạng phát triển du lịch của Đồng Tháp, trên cơ sở mức chi tiêu trung bình của khách du lịch hiện nay ở Việt Nam và vùng đồng bằng sông Cửu Long thì mức chi tiêu trung bình/1 ngày của khách du lịch quốc tế có lưu trú qua đêm tại Đồng Tháp là 30 USD /1 ngày; khách nội địa có lưu trú là 15 USD /1 ngày; khách quốc tế tham quan trong ngày là 5 USD /1 ngày và khách nội địa tham quan trong một ngày là 3 USD trên một ngày. Như vậy doanh thu xã hội từ du lịch năm 2010 ước đạt 15 triệu USD, con số này là quá khiêm tốn trong đóng góp vào GDP của tỉnh.

Doanh thu xã hội từ du lịch của Đồng Tháp nhìn chung là thấp do mức chi tiêu trung bình/1 ngày của khách tại Đồng Tháp. Mặc dù Đồng Tháp có khả năng thu hút một lượng khách tham quan lớn, tuy nhiên thực tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng mà nguyên nhân chủ yếu là do các tiện nghi phục vụ du lịch và chất lượng của các tiện nghi chưa cao, chưa phong phú, tại một số điểm tham quan với lượng khách rất đông nhưng hệ thống nhà hàng, các tiện nghi ăn uống, bán hàng và dịch vụ cho khách du lịch chưa phát triển nên chưa khuyến khích được chi tiêu của du khách. Vì vậy, việc phát triển các tiện nghi ăn uống, bán hàng, các hoạt động tiêu khiển vui chơi giải trí ở các điểm tham quan và việc đầu tư mở ra các khu công viên, các điểm tham quan, du lịch mới sẽ khuyến khích sự chi tiêu và kéo dài thời gian lưu trú của khách, tạo nguồn doanh thu không nhỏ cho du lịch của Đồng Tháp và sẽ đóng góp một phần đáng kể cho GDP của tỉnh.

2.3.1.3. Đóng góp của du lịch trong GDP của tỉnh Đồng Tháp

Tăng trưởng kinh tế tỉnh Đồng Tháp trong thời gian gần đây có những bước tiến nhảy vọt, năm sau luôn cao hơn năm trước, giá trị GDP năm 2010 đạt 28.062 tỉ đồng (giá thực tế) tăng 181,4% so với năm 2005 và 417,7% so với năm. Tuy nhiên, trong đó thì giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm ưu thế. Ngành du lịch của tỉnh, tuy thời gian qua đã có những bước tiến rõ rệt, đạt được nhiều thành tựu (giá trị sản xuất có tăng quan các năm nhưng khá ổn định, đạt 36 tỉ đồng năm 2010) nhưng giá trị sản xuất so với các ngành khác thì chiếm tỉ lệ không lớn (năm 2010 chiếm 0,47%

so với các ngành dịch vụ - thương mại). Mặc dù kinh tế đạt mức tăng trưởng cao và phát triển ổn định trong các năm qua nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố kém bền vững. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh nhưng ngành nông – thủy sản vẫn chiếm tỉ trọng cao (trên 49% GDP năm 2010), những đóng góp của du lịch là chưa đáng kể.

Bảng 2.6. Tổng sản phẩm tỉnh Đồng Tháp theo giá thực tế phân theo khu vực kinh tế giai đoạn 2000 – 2010

Năm Tổng giá trị GDP

Nông nghiệp

Công

nghiệp Dịch vụ

Mức tăng trưởng

GDP

GDP du lịch

Mức tăng trưởng

Triệu đồng Triệu đồng Triệu đồng

Triệu

đồng % Triệu

đồng % 2000 5.420.866 3.373.216 647.039 1.400.611 12.960

2005 9.973.586 5.796.433 1.517.168 2.659.985 84 40.648 213,6 2008 20.624.705 11.462.136 3.949.777 5.212.162 106,8 59.681 46,8 2009 23.774.865 12.306.085 5.086.054 6.382.726 15,3 34.620 - 42 2010 28.062.262 13.761.627 6.410.829 6.410.829 18,03 36.701 6,01 Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch

2.3.1.4. Thu nhập bình quân đầu người của lao động trong ngành du lịch Thu nhập bình quân đầu người của Đồng Tháp tăng khá nhanh. Tuy nhiên vẫn chỉ bằng khoảng 75,5% của vùng đồng bằng sông Cửu Long (540 USD). Đời sống cư dân nông thôn tuy được cải thiện nhưng còn ở mức thấp, chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng ngày càng cao (năm 2008, thu nhập bình quân đạt 16 triệu đồng/hộ; nhưng chênh lệch thu nhập giữa 10% nhóm người giàu và 10% nhóm người nghèo nhất là 13,5 lần). Tỉ lệ hộ nghèo của tỉnh giảm từ 13,59% năm 2005 xuống còn 7% năm 2008 và 5,69% năm 2009. Năm 2005 có 73,6% dân số nông nghiệp nhưng chỉ tạo ra 58,1% GDP, cho thấy nhu cầu phát triển nhanh hơn khu vực 1 cũng như chuyển dịch dân số và lao động nông nghiệp sang khu vực công nghiệp – xây dựng và thương mại – dịch vụ.

Trong đó thì lao động phục vụ cho ngành du lịch hiện nay có thu nhận bình quân đầu người chưa cao chỉ khoảng 150 USD, đó là chưa tính đến một lực lượng không nhỏ số lao động gián tiếp, lao động mùa vụ thì thu nhập càng thấp hơn.

Với thu nhập như vậy thì hoạt động của ngành du lịch hiện nay vẫn chưa tạo nên được động lực nhằm thu hút lao động du lịch mà đặc biệt là lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ du lịch. Từ đó, lại càng làm cho quá trình khai thác và phát triển du lịch gặp rất nhiều khó khăn, khai thác nhưng chưa đảm bảo sự duy trì, bảo tồn và phát huy nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững về du lịch của tỉnh.

2.3.1.5. Góp phần tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Bảng 2.7. Cơ cấu kinh tế tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2000 – 2010

Đơn vị: %

Năm 2000 2005 2008 2009 2010

Nông nghiệp 62,23 58,12 55,58 51,76 49,04

Công nghiệp 11,94 15,21 19,15 21,39 22,85

Dịch vụ 25,83 26,67 25,27 26,85 28,12

Tỉ lệ GDP du lịch so với dịch vụ 0,92 1,53 1,15 0,54 0,47 Nguồn: Cục Thống kê tỉnh Đồng Tháp

Đồng Tháp vốn là một tỉnh nông nghiệp lâu đời với sản lượng hàng năm thuộc vào loại các tỉnh đứng đầu cả nước, là một trong những tỉnh trọng điểm về lương thực của đồng bằng sông Cửu Long và của cả nước. Hòa cùng xu thế phát triển chung thì sự chuyển dịnh về cơ cấu kinh của tỉnh là một tất yếu; chuyển dịch theo hướng tăng tỉ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm tỉ ngành nông nghiệp.

Qua bảng số liệu ở trên cũng đã chứng, minh rõ cho điều này, tỉ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế ngày càng giảm qua các năm từ 2000 đến 2010 (giảm từ 62,23% năm 2000 xuống còn 49,04% năm 2010) nhưng vẫn giữ vị thế cao trong cơ cấu.

Bên cạnh đó là sự thay đổi nhanh của ngành công nghiệp, tăng nhanh từ 2000 đến 2010 (từ 11,94% năm 2000 tăng lên 22,85% năm 2010). Trong khi đó thì ngành dịch vụ - thương mại thì có tăng không đáng kể. Ngành du lịch thì chiếm tỉ trọng rất nhỏ (năm 2010 chiếm 0,47% so với các ngành dịch vụ - thương mại).

Những đóng góp này chưa tạo nên nét nổi bật trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh, nhưng đây là xu thế chung và những đóng góp của ngành hiện nay cũng đang từng bước được nâng lên góp phần chuyển dịch cơ cấu thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Đồng Tháp.

Một phần của tài liệu PHÁT TRIỂN DU LỊCH bền VỮNG TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN TRẠNG và ĐỊNH HƯỚNG (Trang 81 - 91)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(147 trang)