CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH HẢI HÀ – KOTOBUKI
2.1. Giới thiệu chung về công ty TNHH Hải Hà – Kotobuki
2.2.2. Tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động thực hiện công việc
Công ty thường tuyển dụng lao động dựa trên kế hoạch lao động cụ thể của từng năm để có thể biết số lượng lao động cần tuyển và dựa vào bảng mô tả và yêu cầu công việc để ra quyết định tuyển mộ tuyển chọn cho phù hợp với nhu cầu còn thiếu và để tránh
Đối tượng tuyển của Công ty là tất cả mọi đối tượng lao động có quốc tịch Việt Nam, đủ 18 tuổi trở lên và có nhu cầu vào làm việc tại Công ty.
Công ty thường tuyển trực tiếp lao động, Chánh văn phòng có trách nhiệm duy trì mối quan hệ tốt với các tổ chức, cơ quan, công ty môi giới, giới thiệu việc làm, “săn đầu người” để tối đa hoá khả năng hợp tác tuyển dụng. Và chỉ tuyển khi có nhu cầu. Bên cạnh đó Công ty cũng có chính sách ưu tiên tuyển dụng con em cán bộ công nhân viên trong Công ty, Tổng công ty, trong Ngành và con em các gia đình Thương binh, Liệt sĩ.
Trình tự các bước tuyển chọn, tuyển dụng lao động : - Bước1: Xây dựng kế hoạch tuyển dụng lao động.
Kế hoạch tuyển dụng lao động được xây dựng mỗi năm 2 lần, trước ngày 3-1 và 3- 7 hàng năm. Căn cứ vào chức năng nhiệm vụ và yêu cầu công việc của từng phòng/ban.
Văn phòng công ty phối hợp với các phòng xây dựng kế hoạch tuyển lao động cho 6 tháng đầu năm và 6 tháng cuối năm để trình lãnh đạo.
Trưởng các bộ phận hợp tác với Chánh Văn phòng lập kế hoạch tuyển dụng cho bộ phận mình khi có nhu cầu tuyển mới hoặc tuyển thay thế. Mẫu đề nghị phải được Giám đốc ký duyệt. Chánh Văn phòng và bộ phận cần tuyển xem xét lại bản mô tả công việc và bản yêu cầu công việc cho phù hợp với yêu cầu tuyển dụng.
- Bước 2: Thông báo nhu cầu tuyển dụng lao động.
Văn phòng công ty lập công văn tuyển dụng nhân viên mới để thông báo gửi đến Cơ quan quản lý lao động theo yêu cầu, Công ty được tuyển trực tiếp sau khi nhận được văn bản trả lời chính thức của Sở Lao động Thương binh và Xã hội.
Văn phòng công ty lựa chọn cách thức đăng thông tin tuyển dụng: quản cáo trên báo, Trang web về tuyển dụng, qua dịch vụ việc làm, môi giới việc làm, dán thông báo trước cổng Công ty, tuyên truyền cho cán bộ công nhân viên trong Công ty biết để có thể thu hút các ứng viên.
Thông báo ghi rõ thời gian thuyển dụng, nội dung của chương trình tuyển dụng (như: số lượng cần tuyển ở từng vị trí, trình độ chuyên môn, ngành nghề đào tạo, thời hạn hợp đồng, mức lương và các khoản thu nhập, điều kiện làm việc …)
- Bước 3: Nhận hồ sơ đăng ký dự tuyển: sau khi đã có thông báo, các ứng viên sẽ đến nộp hồ sơ dự tuyển tại Văn phòng công ty. bộ phận nhân sự sẽ sàng lọc hồ sơ cho phù hợp với các yêu cầu của vị trí cần tuyển, và thông báo kết quả cho các ứng viên trong thời gian đã hẹn.
- Bước 4: Sau khi Văn phòng công ty đã sàng lọc được bớt các ứng viên, những ứng viên đáp ứng được thì sẽ được phỏng vấn, và cách phỏng vấn ở đây là: Chánh văn phòng sẽ phỏng vấn ứng viên trước, sau đó trưởng phòng trực tiếp cần tuyển lao động tiếp tục phỏng vấn sâu hơn.
Ứng viên thành công sẽ được Văn phòng công ty báo trong vòng 3 ngày khi có kết quả cuối cùng.
- Bước 5: Những ứng viên qua được vòng phỏng vấn sẽ được kiểm tra sức khoẻ, nếu đủ tiêu chuẩn về sức khoẻ sẽ được nhận và ký hợp đồng lao động, còn nếu có vấn đề về sức khoẻ ảnh hưởng đến công việc thì Công ty có quyền từ chối.
Bảng kết quả tuyển dụng nhân sự theo nguồn của công ty trong những năm gần đây:
Bảng 2.3: Bảng kết quả tuyển dụng của Công ty từ năm 2013 đến 2015
(Đơn vị: người)
Nguồn tuyển Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015
Bên trong 14 27 23
Bên ngoài 8 9 21
Tổng 22 36 44
Có thể thấy rằng, công ty đang tuyển người lao động bên ngoài nhiều hơn, điều này tạo sự cạnh tranh công bằng và tạo ra sự mới mẻ trong tổ chức.
Ta có thể thấy quá trình tuyển mộ tuyển chọn của Công ty như vậy là phù hợp, Công ty tuyển dụng dựa trên kế hoạch sản xuất như vậy là hợp lý với yêu cầu. Quá trình tuyển dụng chặt chẽ tuy nhiên còn hơi cứng nhắc và nguyên tắc, cần phải có sự thân thiện cởi mở hơn nhằm đem lại tâm lý thoải mái khi thi tuyển.
Bố trí lao động:
- Đối với lao động mới: Sau khi qua quá trình tuyển chọn, khi được nhận vào công ty lao động mới sẽ phải trải qua quá trình thử việc, thời gian thử việc là 2 tháng đối với người có bằng đại học, và quá trình thử việc sẽ được một người có kinh nghiệm kèm cặp và chỉ bảo. Sau khi hết thời gian thử việc người lao động phải làm bản báo cáo thử việc để trình Trưởng bộ phận, phòng ban quản lý trực tiếp nhận xét rồi trình lên Tổng Giám đốc để có thể quyết định chính thức. Những người có quyết định chính thức sẽ bắt đầu làm việc từ khi hợp đồng lao động có hiệu lực. Văn phòng công ty có nhiệm vụ giới thiệu nhân viên mới với các trưởng bộ phận để họ tiếp nhận và làm quen với các nhân viên khác trong Công ty.
- Đối với lao động cũ:
+ Quá trình thuyên chuyển lao động chỉ chủ yếu xảy ra ở phòng kinh doanh, do đặc điểm phòng kinh doanh thường xuyên phải đi công tác xa vì vậy cần luân phiên lao động để đảm bảo giữ sức khoẻ và công bằng.
+ Đề bạt: theo tiêu chuẩn của Công ty, Công ty ưu tiên đối với những người có đóng góp và có thành tích xây dựng phát triển Công ty và có đủ tiêu chuẩn, Công ty coi đó là sự trả ơn xứng đáng cho người lao động có thành tích.
+ Xuống chức: áp dụng đối với những người không đủ năng lực và có vi phạm kỷ luật.
+ Sa thải: là biện pháp cuối cùng áp dụng cho những người không thể có khả năng làm việc, và những người vi phạm kỷ luật nặng.
Việc phân công và bố trí lao động là khá phù hợp, bởi vì khi tiến hành tuyển dụng Công ty dựa vào bản mô tả công việc vì vậy sẽ tìm được người phù hợp với công việc và có trình độ chuyên môn trong công việc.
Điều này cũng thể hiện trong kết quả khảo sát (phụ lục 2), theo đó có 133/160 (83,1%) người lao động được hỏi cho rằng công việc của họ được phân công rõ ràng, 131/160(81,9%) người lao động cho rằng công việc phù hợp với ngành nghề được đào tạo, 108/160(67,5%) thấy công việc hiện tại phát huy được khả năng của mình
2.2.2.2. Điều kiện và trang thiết bị làm việc
Để thực hiện công việc tốt, trôi chảy thì công cụ để thực hiện công việc cũng góp phần không nhỏ. Nhìn chung, công ty cung cấp khá đầy đủ trang thiết bị, máy móc cần thiết phục vụ cho cán bộ, nhân viên. Các thiết bị văn phòng phẩm được cung cấp đầy đủ theo kế hoạch sử dụng văn phòng phẩm của từng phòng ban. Các đồ dùng văn phòng phẩm được cung cấp mỗi tháng một lần như: giấy A4, giấy màu, bút bi, bút chì, dập kim, file tài liệu, kẹp giấy,…
Các phòng ban được trang bị máy tính, điện thoại bàn, máy in, điều hòa, tủ đựng tài liệu chung của phòng ban, tủ đựng tài liệu riêng của từng cá nhân, bàn làm việc, điện thoại bàn, máy fax,… Các trang thiết bị này rất cần thiết cho công việc của cán bộ, nhân viên trong công ty. Công ty có 1 máy photocopy để phô tô tài liệu, phục vụ cho công việc giấy tờ trong công ty.
Công ty cũng nối mạng Internet cho các phòng, ban, cá nhân cần cho công việc của mình. Đặc biệt, trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ như hiện nay thì việc trao đổi công việc qua thư điện tử cũng rất phổ biến. Công ty đã có mail riêng trong nội bộ, để trao đổi công việc. Mạng LAN được công ty sử dụng là chủ yếu. Nhằm quản lý dữ liệu, phục vụ cho công việc. Phòng kỹ thuật (Phòng IT) chịu trách nhiệm về mặt kỹ thuật thông tin trong công ty.
Công ty có 1 phòng họp có hệ thống máy chiếu, bàn ghế hiện đại phục vụ cho các cuộc họp, phỏng vấn, thuyết trình,… Các trang thiết bị này phục vụ rất tốt cho công việc của cán bộ, nhân viên.
Ở phân xưởng sản xuất công ty cũng bố trí đầy đủ các điều kiện cần thiết phù hợp với từng dây chuyền cụ thể để người lao động thực hiện công việc như: Hệ thống quạt làm mát ở tổ Lò nướng bánh tươi, hệ thống điều hòa ở dây chuyền Isomalt, Socola, kẹo;
Bên cạnh đó, công ty cũng cung cấp đầy đủ các trang bị bảo hộ cho người lao động và bắt buộc người lao động sử dụng trang bị bảo hộ lao động như: quần áo, dép, mũ, tạp dề, gang tay,
Điều kiện và trang thiết bị làm việc của công ty đầy đủ, hiện đại. Tạo một tâm lý làm việc tốt cho cán bộ, nhân viên. Họ thấy được họ đang được làm việc trong một môi trường chuyên nghiệp, hiện đại. Từ đó tạo động lực cho họ làm việc một cách hiệu quả hơn.
2.2.2.3. Tổ chức, phục vụ nơi làm việc
Tổ chức, phục vụ nơi làm việc cũng ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả làm việc của cán bộ, nhân viên trong công ty. Hàng ngày, tại nơi làm việc các phòng ban và dây chuyền đều có người dọn vệ sinh sạch sẽ cũng như toàn công ty. Nhằm đảm bảo vấn đề an toàn vệ sinh nơi làm việc. Giúp cán bộ, nhân viên có một không gian làm việc trong lành, có ảnh hưởng nhiều đến tâm lý làm việc của họ.
Qua phân tích ở trên ta thấy hiện nay công ty đã làm khá tốt vấn đề tạo điều kiện làm việc cho người lao động. Điều này càng được khẳng định qua kết quả khảo sát tại công ty (phụ lục 2). Theo đó Đối với khối lao động gián tiếp có 87,2% số người hài lòng với điều kiện làm việc tại công ty (trong đó có 26,9% hài lòng, 60,3% là rất hài lòng với điều kiện làm việc tại công ty). Đối với khối lao động trực tiếp, tỷ lệ số người hài lòng với điều kiện làm việc tại công ty không có sự chênh lệch nhiều so với khối lao động gián tiếp, có 86,6% tỷ lệ số người hài lòng trong đó (28% hài lòng, 58,5% rất hài lòng với điều kiện làm việc tại công ty).
Qua kết quả khảo sát điều tra chúng ta thấy rằng cả khối lao động gián tiếp, bán gián tiếp, trực tiếp đều cho rằng việc trang bị đầy đủ cở sở vật chất, phương tiện hỗ trợ công việc và phương tiện an toàn vệ sinh, phòng chống rủi ro đều là những yếu tố quan trọng tới tạo động lực làm việc tại công ty. Bên cạnh đó phần lớn người lao động cho
rằng yếu tố không khí cởi mở, thân thiện, hòa đồng trong tập thể trong công ty được xây dựng khá tốt.
Qua những phân tích số liệu trên chúng ta đã thấy được yếu tố nào tác động nhiều đến tạo động lực làm việc từ đó chúng ta có thể tìm ra được biện pháp cải thiện điều kiện làm việc, giúp hiệu quả làm việc cao và tạo động lực làm việc cho người lao động.