Chương 2: Thực trạng động cơ học tập của học sinh lớp 4
2.2. Những biểu hiện về động cơ học tập của học sinh
2.2.1. Những biểu hiện về nhận thức
Tìm hiểu nhận thức của học sinh trong quá trình học tập về mục tiêu học tập, chúng tôi đưa ra một mẫu phiếu điều tra (phụ lục 2, phiếu số 4) và yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi: “Em học tập các môn học như thế nào?” bằng
33
cách khoanh tròn (vào cột bên trái) một trong những đáp án phù hợp với mình. Sau đó, thu phiếu, thống kê số liệu,tính ra phần trăm, ta được bảng sau:
Bảng 4: Mục tiêu học tập của học sinh
Stt
Mục tiêu học tập
Động cơ nhận thức (26 hs)
Động cơ xã hội Động cơ xã hội tích cực (18 hs)
Động cơ “âm tính”
( 28hs)
Số hs % Sốhs % Số hs %
1 Chỉ cần đạt yêu cầu tất cả các môn
2 7,7% 2 11,11% 7 25%
2 Cố gắng học tập để học tốt tất cả các môn
20 76,92% 12 66,66% 13 46,43%
3 Học đạt yêu cầu các môn nhưng tập trung chủ yếu vào môn Toán và môn Tiếng Việt
4 15,38% 4 22,23% 9 28,57%
Từ bảng số liệu trên, chúng ta thấy rằng đa số các em đều có nhận thức đúng về mục tiêu học tập đối với các môn học - cố gắng học tập để học tốt các môn. Số học sinh có mục tiêu học tập này là: 20/26 em thuộc nhóm học sinh có động cơ nhận thức (chiếm 76,92%), 12/18 em thuộc nhóm học sinh có
34
động cơ xã hội tích cực (chiếm 66,66%), 13/28 em thuộc nhóm học sinh có động cơ “âm tính” (chiếm 46,43%). Các học sinh có động cơ nhận thức và động cơ xã hội tích cực có biểu hiện về mặt nhận thức cao hơn, tích cực hơn so với những học sinh có động cơ học tập là động cơ “âm tính”. Cụ thể là, với nhóm động cơ nhận thức tỉ lệ học sinh phấn đấu hết khả năng của mình để học tập cho tốt chiếm 76,92% còn đối với nhóm học sinh có động cơ “âm tính” thì tỉ lệ này chỉ chiếm 46,43%. Mặt khác, hiện nay chúng ta đang hướng tới công cuộc dạy học đào tạo ra những con người mới, con người toàn diện.
Đối với học sinh tiểu học khối 4, 5 hiện nay các em phải học 6 môn bắt buộc là: Toán, Tiếng Việt, Lịch sử, Địa lý, Khoa học, Kĩ thuật và một số môn học không bắt buộc (tự chọn) như: Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học ... Mà theo số liệu thống kê được thì đa số các em học sinh đều cố gắng để học tốt tất cả các môn. Như vậy có thể thấy rằng đối với các em học sinh thì mỗi môn học đếu rất quan trọng và cần thiết. Đây chính là điều kiện thuận lợi cho nền giáo dục toàn diện, hiện đại.
Bên cạnh đó, số lượng học sinh có nhận thức chưa đúng đắn về mục tiêu học tập chiểm tỉ lệ không nhỏ: học sinh có mục tiêu học tập là học tập đạt được yêu cầu các môn nhưng tập trung chủ yếu vào môn Toán và môn Tiếng Việt chiếm 22,23% ở nhóm học sinh có động cơ xã hội tích cực, 28,57 % ở nhóm học sinh học tập vì động cơ “âm tính” - chiếm tỉ lệ cao nhất trong cả ba nhóm. Điều này ảnh hưởng đến việc hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam sau này. Điều này cũng lí giải nhiều em học tập để được nhiều điểm giỏi (được 253 điểm, xếp bậc 4). Hiện nay, học sinh lớp 4 được đánh giá kết quả học tập bằng điểm ở hai môn Toán và Tiếng Việt (đối với các môn học bắt buộc), những môn còn lại được đánh giá bằng nhận xét. Do đó, nhà trường cùng gia đình cần hướng dẫn, uốn nắn các em học đều ở tất cả các môn học ngay từ cấp tiểu học.
35
Hay đối với mục tiêu thứ hai trong bảng điều tra - chỉ cần đạt yêu cầu tất cả các môn cũng chiếm tỉ lệ không nhỏ. Học sinh học tập vì động cơ “âm tính” là 25% chiếm tỉ lệ cao hơn hẳn so với học sinh học tập vì động cơ nhận thức (7,7%) và cả nhóm học sinh học tập vì động cơ xã hội tích cực(11,11%).
Điều này có thể giải thích được rằng có khá nhiều học sinh có động cơ học tập là động cơ “âm tính” như động cơ “học để học giỏi hơn bạn”, hay “học để được thưởng”, “học để bố mẹ, anh chị không sai làm việc nhà”. Những động cơ này là những động cơ mang tính chất đối phó, tính chất tình huống. Do đó, người giáo viên phải có nhiệm vụ là thường xuyên kết hợp với phụ huynh học sinh có những biện pháp điều chỉnh kịp thời để các động cơ “âm tính” này khôngchiếm ưu thế trong quá trình học tập.