Chương 2: Thực trạng động cơ học tập của học sinh lớp 4
2.2. Những biểu hiện về động cơ học tập của học sinh
2.2.2. Những biểu hiện về hành động
Cấu trúc hoạt động học tập của học sinh tiểu học bao gồm: động cơ học tập, nhiệm vụ học tập và hành động học tập. Động cơ học tập được thể hiện rõ nét nhất trong từng hành động cụ thể của từng học sinh. Để thấy được những biểu hiện về hành động của khách thể nghiên cứu, chúng tôi đã tiến hành kết hợp giữa phiếu điều tra, phiếu hỏi phụ huynh học sinh với việc quan sát các hành động của các em học sinh trong quá trình các em học tập ở trên lớp.
Phiếu điều tra (phụ lục 2, phiếu số 3) được phát tới 72 học sinh gồm:
26 học sinh có động cơ nhận thức, 18 học sinh có động cơ xã hội tích cực và 28 học sinh có động cơ “âm tính”. Thu phiếu điều tra, thống kê số liệu, tính ra tỉ lệ phần trăm, ta được bảng sau:
36
Bảng 5: Biểu hiện về hành động học tập ở trên lớp
Stt Hành động
Động cơ nhận thức (26 hs)
Động cơ xã hội Động cơ xã
hội tích cực (18 hs)
Động cơ
“âm tính”
( 28hs) Số
hs
% Số
hs
% Số
hs
%
1 Đi học đúng giờ 25 96,15% 17 94,44% 26 92,86%
2 Chú ý nghe giảng, suy nghĩ để trả lời các câu hỏi và đặt câu hỏi với giáo viên, bạn bè
24 92,3% 15 83,33% 18 64,29%
3 Tích cực, chủ động phát
biểu xây dựng bài 23 88,46% 14 77,78% 5 53.57%
4 Ghi chép bài đầy đủ 25 96,15% 17 94,44% 25 89,29%
5 Hỏi bạn, hỏi giáo viên khi
gặp bài tậpkhó 19 73,08% 13 72,22% 16 57,14%
6 Chữa các bài kiểm tra, bài tập chưa đạt yêu cầu để rút kinh nghiệm
21 80,77% 14 77,78% 9 32,14%
Từ số liệu ở bảng 5, ta nhận thấy: đa số các em học sinh đều chú ý, tích cực trong quá trình học tập. Cụ thể là:có 24/26 em có động cơ nhận thức (chiếm 92,3%), 15/18 em có động cơ xã hội tích cực (chiếm 83,33%) và 18/28 em có động cơ “âm tính” (chiếm 46,43%) chú ý nghe giảng, suy nghĩ để trả lời các câu hỏi và đặt câu hỏi với giáo viên, bạn bè. Tích cực phát biểu xây dựng bài chiếm 88,46% ở nhóm học sinh học tập vì động cơ nhận thức, 77,78 % ở nhóm học sinh học tập có động cơ xã hội tích cực và 64,29% ở
37
nhóm học sinh có động cơ “âm tính”. Chữa các bài kiểm tra, bài tập chưa đạt yêu cầu để rút kinh nghiệm chiếm 80,77% ở nhóm học sinh có động cơ nhận thức, 77,78%ở nhóm học sinh có động cơ xã hội tích cực và 32,14% ở nhóm học sinh có động cơ “âm tính”, ... Và kết quả điều tra này cũng rất đúng với thực tế khi tôi tiến hành quan sát trong các tiết được dự giờ cũng như trong 15 phút truy bài đầu giờ mỗi buổi sáng, chiều (phụ lục 4, phụ lục 5). Trong quá trình quan sát, hầu hết học sinh đều rất chú ý vào bài học, có rất nhiều em hăng hái tham gia phát biểu, xây dựng bài, nhận xét, bổ sung và làm hoàn thiện các câu trả lời của bạn. Số lượng học sinh giơ tay phát biểu trong các tiết học là tương đối cao như ở lớp 4A thường là trên 24 học sinh và ở lớp 4B thường là trên 20 em học sinh (phụ lục 4). Hầu hết các em giơ tay phát biểu có câu trả lời đúng hoặc chưa đủ ý thì được học sinh khác trong lớp bổ sung.
Trong các giờ truy bài đầu giờ thì số em tích cực, tự giác học tập trong thời gian tự học cũng chiếm một số lượng cao. Như ở lớp 4A có 15/37 học sinh học môn Tiếng Việt, 5/37 học sinh học môn Toán, 1/37 học sinh làm bài tập về nhà, có 7/37 học sinh đọc các sách tham khảo, sách khoa học. Và ở lớp 4B, có 15/35 học sinh học môn Tiếng Việt, 5/35 học sinh học môn Toán, 2/35 học sinh học môn Mỹ thuật, có 7/35 học sinh đọc các sách tham khảo, sách khoa học. Như vậy, các em có động cơ tích cực trong quá trình học tập thì rất coi trọng việc học tập của mình ngay khi ở trên lớp.
So sánh biểu hiện về hành động học tập của học sinh ở hai nhóm học sinh, ta thấy rằng những học sinh thuộc nhóm động cơ nhận thức và nhóm động cơ xã hội tích cực có hành động học tập trên lớp tích cực hơn so với những học sinh thuộc nhóm động cơ “âm tính”. Chẳng hạn, hành động chú ý nghe giảng, suy nghĩ để trả lời câu hỏi với giáo viên và bạn bè ở nhóm động cơ nhận thức là 92,3% % và 83,33% ở nhóm động cơ xã hội tích cực, còn ở nhóm động cơ “âm tính” chỉ là 64,29%; hành động phát biểu xây dựng bài
38
chiếm 88,46% ở học sinh thuộc nhóm động cơ nhận thức và chiếm 77,78%
đối với học sinh thuộc nhóm động cơ xã hội tích cực, còn đối với nhóm động cơ “âm tính” thì tỉ lệ này là 53,57%; hành động hỏi bạn, hỏi giáo viên khi gặp bài tập khó chiếm 73,08% ở học sinh thuộc nhóm động cơ nhận thức và chiếm 72,22% đối với học sinh thuộc nhóm động cơ xã hội tích cực, còn đối với học sinh ở nhóm động cơ “âm tính” thì tỉ lệ này thấp hơn hẳn là 57,14%;
hành động chữa các bài kiểm tra, bài tập chưa đạt yêu cầu để rút kinh nghiệm chiếm 80,77% ở học sinh thuộc nhóm động cơ nhận thức và chiếm 77,78%
đối với học sinh thuộc nhóm động cơ xã hội tích cực, và 32,14% đối với nhóm động cơ “âm tính”.
Như vậy, học sinh có động cơ học tập “âm tính” thường có hành động ít tự giác, ít tích cực, ít chủ động hơn so với những học sinh có động cơ nhận thức hoặc động cơ xã hội tích cực.
Tiếp tục tìm hiểu những biểu hiện về hành động ở học sinh lớp 4 chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra (phụ lục 2, phiếu số 3) để tìm hiểu các hành động của các em về học tập khi ở nhà. Phiếu được phát tới 72 em học sinh gồm: 26 học sinh có động cơ nhận thức, 18 học sinh có động cơ xã hội tích cực và 28 học sinh có động cơ “âm tính”. Thu phiếu, thống kê số liệu, tính ra tỉ lệ phần trăm, ta có bảng sau:
39
Bảng 6: Biểu hiện về hành động học tập ở nhà
Stt Hành động
Động cơ nhận thức (26 hs)
Động cơ xã hội Động cơ xã
hội tích cực (18 hs)
Động cơ
“âm tính”
( 28hs) Số
hs
% Số
hs
% Số
hs
%
1 Hoàn thành tất cả bài tập thầy cô giáo giao về nhà
25 96,15% 17 94,44% 25 89,29%
2 Làm thêm các bài tập nâng cao
23 88,46% 15 83,33% 17 60,7%
3 Khi gặp các bài tập khó, tìm tòi cách làm cho kì được
24 92,3% 14 77,78% 14 50%
4 Học bài ngay sau khi về nhà
25 96,15% 17 94,44% 15 53,57%
5 Khi có điều gì không hiểu thì hỏi người lớn
23 88,46% 16 88,89% 20 71,43%
6 Về nhà em không học vì trên lớp đã học nhiều rồi
1 3,8% 1 5,6% 6 21,43%
Qua bảng 6, chúng ta thấy học sinh rất tích cực khi học tập ở nhà. Cụ thể là: số học sinh hoàn thành tất cả bài tập thầy cô giáo giao về nhà có 25/26 em thuộc nhóm học sinh học tập vì động cơ nhận thức (chiếm 96,15%), 17/18
40
em có động cơ xã hội tích cực (chiếm 94,44%) và 27/28 em học sinh có động cơ “âm tính” (chiếm 89,29%). Như vậy, tỉ lệ học sinh hoàn thành các bài tập ở nhà khá cao. Điều này cũng chứng minh trong quá trình tiến hành quan sát các em trong 15 phút truy bài đầu giờ, số các em chưa làm bài tập về nhà là rất ít. Chẳng hạn, ở lớp 4A là 5/37 học sinh chưa làm bài tập còn ở lớp 4B là 5/35 và số học sinh quên vở bài tập là 3/35 (phụ lục 5). Ngoài việc hoàn thành các bài tập được giáo viên giao về nhà (trong sách giáo khoa hay vở bài tập) các em còn chăm chỉ, tự giác làm thêm các bài tập nâng cao trong các sách tham khảo, sách bồi dưỡng. Cụ thể là: 88,46% đối với học sinh có động cơ học tập là động cơ nhận thức,83,33% đối với học sinh có động cơ học tập là động cơ xã hội tích cực, 60,7% đối với học sinh thuộc nhóm có động cơ học tập là động cơ “âm tính”.
So sánh, đối chiếu hành động học tập của học sinh ở hai nhóm ta thấy rằng: những học sinh có động cơ nhận thức và động cơ xã hội tích cực có hành động học tập tích cực hơn so với những học sinh thuộc nhóm động cơ
“âm tính”. Chẳng hạn, với hành động hoàn thành tất cả bài tập thầy cô giáo giao về nhà ở nhóm học sinh học tập vì động cơ nhận thức chiếm 96,15% và 94,44% ở nhóm có động cơ xã hội tích cực còn học sinh ở nhóm có động cơ
“âm tính” là 89,29%. Làm thêm bài tập ở sách nâng cao thì ở học sinh có động cơ nhận thức là 88,46%, và 83,33% ở học sinh có động cơ xã hội tích cực còn ở học sinh có động cơ “âm tính” chỉ là 60,7%; khi gặp bài khó có92,3
% học sinh có động cơ học tập là động cơ nhận thức và77,78% học sinh có động cơ xã hội tích cực tìm tòi cách làm cho kì được nhưng chỉ có 50% học sinh có động cơ học tập là động cơ “âm tính” thực hiện hành động này. Đặc biệt trong khi 21,43% học sinh có động cơ học tập là đông cơ “âm tính” thực hiện hành động về nhà em không học vì trên lớp đã học nhiều rồi thì ở nhóm
41
động cơ học tập là động cơ xã hội tích cực và động cơ nhận thức lần lượt chỉ có 5,6% và 3,8% - nhỏ hơn rất nhiều.
Tóm lại, học sinh có động cơ “âm tính” có những hành động ở lớp cũng như ở nhà ít tự giác, ít chủ động, và ít tích cực hơn so với những học sinh có động cơ nhận thức hay động cơ xã hội tích cực.