3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
1.5. Các nghiên cứu về nhân giống hoa Đồng Tiền
1.5.1. Tình hình nghiên cứu giống hoa đồng tiền trên thế giới
1.5.1.1. Nghiên cứu chọn tạo và nhân giống.
Việc chọn tạo giống hoa đồng tiền ở Châu Mỹ chỉ bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ trước tại trường Đại học Califorlia với những chương trình tạo ra rất nhiều giống hoa để trồng trong nhà kính. Còn ở Châu Âu, Châu Á và Nhật Bản lại tạo giống có xu hướng cho trồng hoa cắt.
Từ năm 1975, Florist De Kwakel B.V đã tiến hành chọn lọc, tạo giống và nhân giống hoa đồng tiền cho sản xuất hoa cắt tại Hà Lan. Tiếp theo của giai đoạn này, bà đã chọn lọc và tạo giống hoa đồng tiền trồng chậu. Qua nhiều
năm chọn tạo giống cho trồng chậu đã tạo ra rất nhiều giống hoa trồng chậu ưu thế lai F1 đáp ứng nhu cầu thị hiếu của thị trường. Những đặc điểm của các giống hoa đồng tiền ưu thế lại tập trung vào 5 nhóm chủ yếu:
+ Đồng nhất về màu hoa + Tập tính nở hoa
+ Số hoa trên cây + Chất lượng hoa
+ Thời gian sinh trưởng ngắn
Kết quả các giống hoa được trồng thử nghiệm và cho những kết quả rất hứa hẹn và bà đã có những chia sẻ đóng góp cho cho những người trồng hoa trên thế giới.
Đồng tiền rất khó kết hạt, hạt lại rất nhỏ sức sống kém nên trước đây đồng tiền chủ yếu được nhân giống bằng phương pháp tách chồi. Hiện nay công nghệ nuôi cấy mô tế bào được áp dụng rộng rãi trong việc nhân giống hoa đồng tiền giúp cải thiện đáng kể trong vấn đề cây giống.
Giống đồng tiền cứng, hoa ngắn 6 inch trồng trong chậu được giới thiệu ở nhật Bản vào năm 1980, sau đó người ta đã sử dụng công nghệ nuôi cấy mô để nhân giống. Hiện nay chúng được trồng ở nhiều nước trên thế giới.
Năm 2000, Viện nghiên cứu rau quả quốc tế đã lai tạo thành công một giống đồng tiền mới có tên Raon, đây là kết quả của việc lai giữa giống Kippros có màu vàng, hoa bán kép với giống Rora có màu vàng hoa đơn. Raon là giống sản xuất hoa cắt có đường kính hoa cắt lớn, màu cam sẫm, dạng hoa kép, độ bền hoa cắm khoảng 11 ngày, chúng đang được trồng phổ biến ở Hàn Quốc.
Phương pháp nuôi cấy mô tế bào là phương pháp chủ yếu trong nhân giống hoa đồng tiền. Chính vì thế, từ lâu trên thế giới đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này.
Năm 1974, Murashige và cộng sự đã nghiên cứu và nuôi cấy thành công hoa đồng tiền trên môi trường MS + 0,5mg/l IAA và 10mg/l kinetin. Mẫu cấy được giữ trong phòng nuôi ở nhiệt độ 270C, thời gian chiếu sáng 12 -16
giờ/ngày, cường độ chiếu sáng là 1000 lux. Những chồi tách sẽ ra rễ sau khi được nuôi cấy trên môi trường MS có bổ sung 10mg/l IAA. [Edwin F.
George and P.D. Sherrington, 1984. Plant propagation by tisue culture.pp395]
Wozniak và cộng sự cho rằng bổ sung kinetin vào môi trường nuôi cấy sẽ làm tăng cả số lượng và chất lượng chồi. Số lượng và chất lượng rễ cũng như sức đề kháng của cây tăng lên khi cho thêm 2,6 mg/l ABA vào môi trường ra rễ.
[Edwin F. George and P.D. Sherrington,1984. Plant propagation by tisue culture.pp395]
Năm 1982, khi nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng tới sự hình thành chồi và rễ của đồng tiền trong phòng nuôi cấy, Pierik và cộng sự đã nhận thấy: Môi trường có nồng độ cytokinin cao và auxin thấp thì sẽ hình thành chồi, còn môi trường có IAA, IBA thuận lợi cho sự hình thành rễ.
[Pierk RLM, Steegmans HHM, Maasdam A and Wouters AN, 1982. Effect of citokinin and cultivar on shoot formation of Gerbera jamesonni in invitro.Neth.J. Agr.Sci: 341 – 346]
Năm 1985, Hempel và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng của Kinetin, BAP v à 2iP đến quá trình nhân giống invitro đối với giống Marleeen và cho thấy:
23,23àM Kinetin thớch hợp cho nhõn chồi và 5,5àM BAP cho số rễ tối đa. Khi bổ sung 9,84àM IBAvào mụi trường sẽ làm tăng số lượng rễ và tăng sức đề kháng của cây. [Hempel M, et al, 1985. The influence of citokinins on multiplication and subsequent rooting of gerbera in vitro. Acta Hort: 301 -305]
- Pinto JEBP lại cho rằng môi trường tốt nhất cho tái sinh cây là MS có bổ sung 3 - 9 mg/lBA. Môi trường nhân nhanh chồi là 1/2MS + 2,27mg/lBA, còn môi trường tạo rế tốt nhất là không có BA. [Barbosa MHP, Pinto JEBP, Pinto CABP, Innecco R. Revista-Ceres, 1994. In vitro propagation of Gerbera jamesonii Bolus ex Hook cv. Appelbloesem using young capitulums.
41: 236, 386-395; 10 ref].
1.5.1.2. Các nghiên cứu khác
- Khi nghiên cứu ảnh hưởng của lai gần đến năng suất hoa cắt của đồng tiền, Huang H cho rằng lai gần làm tăng năng suất hoa từ 10,3 lên 28,3 bông/cây.
- Điều kiện môi trường sống ảnh hưởng đến sinh trưởng và chất lượng hoa đồng tiền. Điều này được thể hiện trong nghiên cứu của Hahn Eun Joo .Ông đã tiến hành nghiên cứu 6 giống đồng tiền (Ensophy, Estel, Suset, Rita, Tamara, và Beauty) với 2 phương pháp trồng: trồng trên giá thể và trồng trực tiếp trên đất. Trên giá thể, cây được trồng trên 4 loại giá thể khác nhau. Tất cả các cây thí nghiệm được trồng trong nhà lưới với điều kiện nhiệt độ là 28oC vào ban ngày và 23oC vào ban đêm. Kết quả là, 2 giống Ensophy và Estel sau trồng 50 ngày trên các loại giá thể đã cho hoa đầu tiên, còn trồng trực tiếp trên đất thì sau khoảng 63 ngày mới bắt đầu cho hoa. Số hoa trên cây, chiều cao hoa, đường kính hoa của 2 giống này trồng trên giá thể tốt hơn trồng trực tiếp trên đất. Trong đó, giống Ensophy trồng trên giá thể là bọt đá có số hoa trên cây, chiều cao cây, trọng lượng cây và đường kính hoa lớn nhất. Còn giống Estel thì không có sự sai khác về các chỉ tiêu đó ở cả 2 phương thức trồng.
Ensophy và Estel trồng trên sơ dừa cho số hoa trên cây ít hơn. Ensophy có vết đen trên cánh hoa dưới điều kiện nhiệt độ mùa hè cao, trong khi các giống khác không có biểu hiện đó