THƯƠNG TÍCH VAI (SHOULDER INJURIES)

Một phần của tài liệu Đào tạo thể hình với giải phẩu học_Phần 1 (Trang 33 - 36)

PHẦN HÔNG (HIP)

PHẦN VAI

So với phần

coxofemoral tương đối ổn định, khớp vai là ít bọc và nhiều thực hiện chuyển động, điều này làm cho nó dễ bị tổn thương.

Chấn thương vai xảy ra thường xuyên trong cử tạ và đặc biệt là ở thể hình nơi phát triển toàn bộ nhóm cơ delta đòi hỏi các vận động viên phải thực hiện một số lƣợng lớn các lần lặp lại và các biến thể trong các bài tập , làm tăng gấp bội nguy cơ chấn thương.

So với sự ổn định của khớp hông , nơi người đứng đầu xương đùi nằm sâu trong khoang ổ chảo (glenoid cavity) của xương chậu , khớp vai , rất năng động và cho phép cánh tay để di chuyển qua một loạt các chuyển động , trong thực tế cũng ít nhiều liên kết và bảo vệ.

Vai là định nghĩa là một quả cầu có chân cắm (ball- and-socket) vì đầu của xương cánh tay là chủ yếu được tổ chức trong khoang ổ chảo (glenoid cavity) của xương bả vai bởi một nhóm musculotendinous phức tạp.

Hầu hết các chấn thương xảy ra khi cử tạ đào tạo cơ deltoids , và họ hiếm khi dẫn đến giãn cơ hay rách cơ.

Họ thường bị chấn thương đa số do tập sai kỹ thuật hoặc sử dụng quá mức các dây chằng tác động mạnh đến các bao vỏ khớp.

Ngƣợc lại với thể thao giống nhƣ bóng đá, nơi động tác cánh tay đột ngột có thể tạo ra chấn thương nghiêm trọng liên quan đến trật khớp hoặc dây chằng thậm chí bị rách , chấn thương nghiêm trọng nhất trong cử tạ liên quan đến entrapment.

Khi một số người thực hiện các bài tập trong đó họ nâng cao tay , chẳng hạn nhƣ duỗi cơ từ cổ hoặc sang hai bên, gân supraspinatus đƣợc cọ xát và nén giữa đầu của xương cánh tay và osteoligamentous ceiling được tạo ra bởi bề mặt dưới của mỏm cùng vai và dây chằng coracoacromial.

Viêm gân phía sau. Điều này thường bắt đầu với serous bursa ( bọc chất nhờn giống huyết thanh) bị viêm , nó thường bảo vệ gân supraspinatus tránh khỏi những ma sát quá nhiều, và giúp gân supraspinatus co duỗi, trong đó, do không điều trị, sẽ ảnh hưởng đến gân infraspinatus liền kề phía sau và phần long head (cơ đầu dài) của cơ brachii bắp tay ở đằng trước.

Nâng cao cánh tay trở nên vô cùng đau đớn và cuối cùng có thể gây ra sự suy giảm không thể đảo ngƣợc của gân supraspinatus gây vôi hóa và thậm chí rách , tuy nhiên , điều này thường xảy ra với những người 40 tuổi trở lên.

Không gian giữa các xương cánh tay và ceiling acromiocoracoid osteoligamentous thay đổi từ người này sang người khác. Một số vận động viên không thể nâng cánh tay của họ theo chiều ngang mà không ma sát quá mức. Những người này nên tránh tất cả các phần kéo dãn từ cổ, kéo ngang hai bên quá cao và bóp lƣng.

Tất cả các thanh đòn tạ áp dụng cho vai phải đƣợc thực hiện phía trước với khuỷu tay nhẹ về phía trước . Khi thực hiện động tác lateral dumbbell raises, bạn sẽ cần phải xác định chiều cao thích hợp để nâng. Động tác chính xác là một trong những cách mà bạn có thể thực hiện mà không gây đau đớn.

Không phải ai cũng có cùng một cách để cùng chấn thương vai giống nhau. Một số người có thể thực hiện tất cả các động tác kiểu nâng cánh tay làm gân bị chèn ép, đôi khi thậm chí gây thoái hóa gân , mà không khởi đầu một quá trình viêm gân (Some people may perform all sorts of arm raises that compress the tendon, sometimes even causing tendon degeneration, without Initiating a painful inflammatory process). Đây là cách một gân supraspinatus bị rách có thể đƣợc phát hiện trong quá trình đánh giá mà không cần người đó phải kêu đau.

Một nguyên nhân khác của đau vai có thể là do sự mất cân bằng trong cơ bắp bị căng xung quanh nang khớp. Hãy nhớ rằng đầu của xương cánh tay (head of the humerus) là phần kiên cố giúp vững vàng cố định ghép vào hố ổ chảo của xương bả vai bởi một nhóm các gân cơ bắp bám vào và giao nhau qua các bao khớp: Ở phía trước, đó là subscapularis ; trước nhiều hơn một chút là cơ đầu dài cánh tay (long head of the biceps) ; ở vị trí trên là supraspinatus , và cuối cùng phía sau , các infraspinatus và teres minor. Ưu trương (hypertonicity) hoặc nhược trương (hypotonicity) trong một hoặc nhiều các cơ bắp có thể kéo khớp vai vào một vị trí không chính xác. Vị trí này có thể gây ra ma sát trong quá trình chuyển động cánh tay , kết quả là bị viêm.

34

CƠ CHÓP XOAY (ROTATOR CUFF), NHÌN TỪ PHÍA SAU

Ví dụ: Rút ngắn hoặc co thắt của cơ teres minor và cơ infraspinatus sẽ kéo đầu của xương cánh tay (head of the humerus) trong vòng quay bên ngoài sẽ gây ra cọ xát ở khớp vai trước khi cử động cánh tay. Theo thời gian, điều này sẽ làm tổn thương cơ đầu dài (long head) của cơ nhị đầu cánh tay (biceps brachii).

Cân bằng đào tạo của các cơ vai và tránh các bài tập cảm thấy khó thực hiện hoặc gây đau.

THIẾT ĐỒ ĐỨNG NGANG QUA KHỚP CỦA VAI THỂ HIỆN TệI HOẠT DỊCH DƯỚI CƠ DELTOID (SUBACROMIAL SEROUS BURSA)

NHÌN NGHIÊNG CỦA XƯƠNG BẢ VAI ĐỂ NỔI BẬT DÂY CHẰNG CORACOACROMIAL LIGAMENTOUS

(DÂY CHẰNG QUẠ MÕM CÙNG VAI)

Bình luận:

Mát xa bằng tay hoặc thậm chí tốt hơn với một cách mát xa bằng điện và kích thích điện sẽ có hiệu quả cho việc giảm hoặc loại bỏ co thắt và sự rút ngắn của cơ teres minor và infraspinatus.

35 Đây là một trong các bài tập hiếm hoi mà có thể

được thực hiện bởi những người bị hội chứng entrapment phổ biến.

Thực hiện mở rộng cánh tay với tạ tay trong khi nằm trên một chiếc ghế dài và giữ cho khuỷu tay bên cạnh cơ thể để hoạt động các cơ delta trước, và ở một mức độ thấp hơn, các cơ delta giữa trong khi ngăn chặn được sự cọ sát quá mức ở vai trước.

Khi thực hiện thường xuyên, điều này duy trì kích thước và cường độ của cơ deltoids bất chấp sự tồn tại của chấn thương . Bạn cũng có thể sử dụng bài tập này để các tâ ̣p đi tập lại khi cơ pectoralls major bị rách sau. Mở rộng trong khi vẫn giữ khuỷu tay chống lại cơ thể làm giảm độ căng của nó, do đó làm giảm nguy cơ rách vùng sẹo.

Thực hiện các bài tập:

Nằm trên một băng ghế với ngực mở rộng, lƣng hơi cong, bàn chân phẳng trên mặt đất, và khuỷu tay bẻ cong bên cạnh cơ thể, cầm một thanh tạ tay trong mỗi tay.

• Hít vào và mở rộng cánh tay theo chiều dọc.

• Thở ra vào cuối động tác.

• Quay trở lại vị trí ban đầu với một sự di chuyển có kiểm soát.

36 Ngồi trên ghế, giữ lƣng thẳng, và giữ tạ

ở mức vai với hay tay úp sấp (ngón tay trỏ vào bên trong):

+ Hít vào và mở rộng cánh tay theo chiều dọc.

+ Thở ra vào cuối động tác.

Bài tập này giúp liên kết các cơ delta, chủ yếu là các cơ delta giữa, cũng nhƣ cơ trapezius, serratus anterior, và cơ triceps brachii.

Sự di chuyển này cũng có thể đƣợc thực hiện đứng xen kẽ tay hoặc tựa lƣng vào ghế để giúp ngăn ngừa vòm thắt lƣng quá nhiều ở phía sau.

Một phần của tài liệu Đào tạo thể hình với giải phẩu học_Phần 1 (Trang 33 - 36)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(72 trang)