CHƯƠNG 2 CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TÁC ĐỘNG ĐẾN
2.3. Hội nhập kinh tế quốc tế
Theo xu hướng chung hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới, Việt Nam đã đàm phán và ký kết một số hiệp định song phương và đa phương như Hiệp định thương mại Việt Nam - Trung Quốc (1991), Hiệp định khung Việt Nam - EU (1995), Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (2000), trở thành quan sát viên của GATT vào năm 1994 và bắt đầu đàm phán gia nhập WTO vào năm 1997, gia nhập ASEAN vào năm 1995 và tham gia chương trình cắt giảm thuế quan trong khuôn khổ AFTA từ năm 1996, trở thành thành viên của APEC vào năm 1998, tham gia các cơ chế hợp tác giữa ASEAN với Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc và một số nước khác. Sau 9 năm đàm phán, đến tháng 5/2006 Việt Nam và Mỹ đã chính thức kết thúc đàm phán song phương về việc Việt Nam gia nhập WTO, và đến cuối tháng 7/2006 đã diễn ra phiên đàm phán đa phương lần thứ 12 về gia nhập WTO của Việt Nam. Đây là những sự kiện quan trọng, mở đường cho Việt Nam có thể chính thức gia nhập WTO vào năm 2007
Quá trình hội nhập kinh tế, nhất là kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO và tham gia mạnh mẽ hơn các hiệp định thương mại tự do (FTA) đòi hỏi phải có một chiến lược xuất nhập khẩu hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Việt Nam cần tập trung phát triển các mặt hàng công nghệ mới có giá trị gia tăng cao, hàm lượng công nghiệp và chất xám cao trên cơ sở thu hút mạnh đầu tư trong nước và nước ngoài vào các ngạch sản xuất định hướng xuất khẩu
Để hội nhập kinh tế quốc tế,Việt Nam cần thực hiện tốt các cam kết khi gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế như WTO,FTA…cấu trúc lại các thủ tục hành chính, (các thủ tục hành chính phiền hà được xóa bỏ, thì môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp sẽ được đảm bảo). đồng bộ hơn về các chính sách và luật,đào tạo đội ngũ nhân lực chuyên môn cao và năng lực giỏi. (số lượng các bộ và cơ quan ngang bộ giảm từ 26 xuống còn 23); cải cách hành chính và cơ chế một cửa tiếp tục được thực hiện (chương trình đơn giản hóa các thủ tục hành chính một cách toàn diện giai đoạn 2007 – 2010; quyết định 93/2007/QD-TTg tháng 6-2007 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa)”. Có thể thấy, những đốm sáng trong đổi mới thể chế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO như sự ra đời Nghị định 30 của Chính phủ về vấn đề giảm bớt 30% thủ tục.
Việt Nam đã dần nhận biết rõ hơn thể chế thị trường và nền kinh tế thế giới, từ đó tìm cách ứng phó cơ động, linh hoạt hơn
Khi hội nhập kinh tế quốc tế, mối quan tâm đến lợi ích xuất khẩu chính là sự so sánh tương quan trực diện về sức cạnh tranh với các hàng hóa giữa các quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Philippin với nước ta có ý nghĩa rất lớn. Cũng như bất cứ quốc gia nào khác trong khu vực, Việt Nam tham gia FTA một phần vì không muốn mất đi ưu thế xuất khẩu tương đối, sẵn có là động lực để ta cùng thiết lập FTA với các đối tác của mình. Hiện tại, đối tác FTA của ASEAN và Việt Nam đều là các quốc gia Đông Á. Đây là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của nước ta với kim ngạch gần 35 tỷ USD, tương đương với 48% tổng kim ngạch xuất khẩu .
Hiện nay, Sự đóng góp trực tiếp của các ngành sản xuất của nước ta vào chuỗi cung ứng giá trị mang tầm khu vực còn rất hạn chế. 85% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn là các sản phẩm dầu thô, nông, lâm, thủy sản, khoáng sản và dệt may.. Cơ cấu trao đổi thương mại với các nước Đông Á hiện nay phản án sự liên kết ngành chưa cao. Gần đây, một số mặt hàng xuất khẩu có hàm lượng gia tăng cao hơn như điện, điện tử, sản phẩm nhựa, dây điện đã bắt đầu xuất hiện nhưng tỷ trọng chưa đáng kể. Tình trạng này sẽ chỉ được cải thiện cho đến khi trạng thái cân bằng mới được xác lập trong dài hạn khi nước ta tham gia sâu hơn vào liên kết ngành trong khu vực, dẫn đến sự
biến chuyển về cơ cấu chung của nền kinh tế theo hướng hội nhập. Nhờ sự gần gũi về địa lý, quan hệ kinh tế, chính trị giữa nước ta và các đối tác Đông Á là một trong những nhân tố quan trọng quyết định chất lượng phát triển của kinh tế nước ta
2.3.2.Đánh giá chính sách 2.3.2.1.Ưu điểm
Việc Việt Nam ra nhập WTO và nhiều tổ chức thương mại khác,tiến tới hội nhập kinh tế quốc tế là động lực chính để Việt Nam cải thiện môi trường đầu tư,kinh doanh, đã thu hút mạnh mẽ đầu tư nước ngoài, nhờ môi trường ổn định, minh bạch
Trong 5 năm qua, Việt Nam đã sửa và xây dựng 86 luật, tạo điều kiện để phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, phù hợp với nguyên tắc của WTO Xuất khẩu của Việt Nam tăng liên tục, sau 5 năm, kim ngạch xuất khẩu tăng 97,7%, năm 2011 đã đạt 96,3 tỷ USD. Dịch vụ phân phối, bán lẻ phát triển mạnh, sự ra đời của các siêu thị, trung tâm thương mại và hàng trăm cửa hàng tiện ích đã làm thay đổi diện mạo của thương mại bán lẻ, thay đổi thói quen mua sắm của người tiêu dùng theo hướng văn minh, hiện đại và đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế-xã hội.
Hội nhập kinh tế quốc tế còn mang lại cho nhiều cơ hội lớn cho các doanh nhiệp xuất khẩu của Việt Nam về thị trường,chính sách thuế…
Cho đến nay, việc thiết lập FTA với các nền kinh tế to lớn và năng động bậc nhất trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc đã mang đến nhiều cơ hội lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Từ năm 2004 đến 2010, kim ngạch hai chiều Việt Nam với các đối tác ASEAN và Đông Á đã tăng từ 32 tỷ USD lên 82 tỷ USD, tức là tăng gần 270%. Mức tăng trưởng hàng năm đạt 28%. Trong đó, tỷ trọng thương mại của các nước đối tác trong khu vực ASEAN và Đông Á là 53% trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam, nếu tính thêm 3 đối tác là Úc, Niuzilân và Ấn Độ trong ASEAN+6 thì con số này là 56%. Quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các quốc gia Đông Á còn tăng trưởng với tốc độ cao. Có thể nói, tham gia vào FTA với ASEAN, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Úc, Niuzilân, nước ta có cơ hội tiếp cận thuận lợi và khai thác thị trường khổng lồ chiếm hơn 50%
dân số và GDP thế giới, mở ra nhiều tiềm năng xuất khẩu.
Ngoài ra mức thuế trung bình nhờ cam kết FTA đã giảm từ 8,1%
xuống 4%. Các mặt hàng có lợi nhất là dệt may, giày dép, hóa chất, điện và điện tử. Với thị trường Úc và Niuzilân, mặc dù là thị trường có mức bảo hộ bằng thuế quan tương đối thấp nhưng khoảng 14% xuất khẩu của Việt Nam (chủ yếu là hàng may mặc, giày dép, một số sản phẩm kim loại) đang chịu mức thuế từ 7- 100% sẽ được giảm thiểu đáng kể từ 2013. Các thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc về cơ bản đã không áp dụng thuế nhập khẩu đối với các hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.
2.3.2.2.Nhược điểm
Bên cạnh các cơ hội nhận được khi hội nhập kinh tế thì Việt Nam cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức,sự cạnh tranh gay gắt với mặt hàng xuất khẩu của nước ngoài,chịu nhiều áp lực về các tiêu chuẩn kĩ thuật,môi trường,chất lượng… Hoạt động xuất khẩu dễ bị tổn thương trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều biến động, đặc biệt là các nhóm xuất khẩu dựa vào lợi thế về điều kiện tự nhiên và lao động rẻ như nông sản, thủy sản, dệt may, da giày, đồ gỗ…
Các thành quả gia nhập WTO chưa được như mong muốn. Nguyên nhân sâu xa là cơ thể kinh tế nước ta vẫn còn yếu kém, chưa thể hấp thụ, chuyển hoá những cơ hội thành hiện thực, trong khi chưa giải quyết hết khó khăn do hội nhập mang đến. Nguyên do là năng lực cạnh tranh của hàng hoá nước ta ở cả 3 cấp quốc gia, ngành hàng, doanh nghiệp còn kém, nên giá thành sản phẩm còn cao, phẩm cấp thấp so với chuẩn quốc tế, chất lượng phục vụ thiếu chuyên nghiệp. Chưa có chính sách ổn định lâu dài, hệ thống pháp lý đồng bộ để phát huy mọi nguồn lực trong nước, khuyến khích các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Do vậy, việc thực hiện cam kết mở cửa thị trường khi gia nhập WTO đã dẫn đến tình trạng rất nhiều doanh nghiệp thua ngay trên sân nhà.