Phân loại chi NSNN

Một phần của tài liệu QUẢN lý CHI NGÂN SÁCH NHÀ nước QUA KHO bạc NHÀ nước tại TỈNH SÊKON (Trang 23 - 26)

CHƯƠNG 1 QUẢN LÝ CHI NSNN VÀ VAI TRÒ CỦA KBNN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1 Tổng quan về chi NSNN

1.1.2.4. Phân loại chi NSNN

Phân loại chi NSNN có vai trò quan trọng trong việc phục vụ quá trình hoạch định chính sách và phân bổ NS giữa các lĩnh vực, đảm bảo trách nhiệm của cơ quan NN trong quản lý NS. Nó giúp quá trình phân tích kinh tế và quản lý thực hiện NS hàng ngày được thuận lợi cũng như định hướng chi ngân sách trong tương lai. Tuỳ thuộc vào các mục tiêu khác nhau mà chi ngân sách có nhiều cách phân loại.

* Phân loại theo ngành kinh tế quốc dân:

Đây là cách phân loại dựa vào chức năng của Chính phủ đối với nền kinh tế - xã hội thể hiện qua 20 ngành kinh tế quốc dân như : Nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ điện, thuỷ lợi, công nghiệp khai thác mỏ, công nghiệp chế biến gỗ, xây dựng, khách sạn nhà hàng và du lịch, giao thông vận tải, kho bãi và thông tin liên lạc, tài chính, tín dụng, khoa học và công nghệ, quản lý NN và an ninh quốc phòng, giáo dục và đào tạo, y tế và các hoạt động xã hội, hoạt động văn hoá…

* Phân loại chi theo nội dung kinh tế của các khoản chi:

Căn cứ vào nội dung kinh tế của các khoản chi mà chi NSNN có thể chia ra thành các nhóm, tiểu nhóm, mục, tiểu mục chi NS.

Theo cách phân loại này thì các khoản chi được chia thành: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác.

12

Chi thường xuyên là những khoản chi có thời hạn tác động ngắn thường dưới một năm: Nhìn chung đây là khoản chi chủ yếu phục vụ cho chức năng quản lý và điều hành xã hội một cách thường xuyên của NN như : Quốc phòng, an ninh, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, hoạt động của Đảng nhân dân cách mạng Lào.

Thuộc loại chi thường xuyên gồm có các nhóm, mục chi sau đây:

- Chi thanh toán cho cá nhân như tiền lương, tiền công, phụ cấp, học bổng sinh viên; tiền thường, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn…

- Chi nghiệp vụ chuyên môn, các khoản chi về hàng hoá, dịch vụ tại các cơ quan NN như: điện nước, vệ sinh môi trường, vật tư văn phòng, dịch vụ thông tin, tuyên truyền, liên lạc, hội nghị, công tác phí, chi phí nghiệp vụ chuyên môn của từng ngành như: in ấn chỉ, đồng phục, trang phục…

- Chi mua sắm sửa chữa: Các khoản chi mua đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện làm việc, sửa chữa lớn tài sản cố định và xây dựng nhỏ.

- Chi khác gồm: Những khoản chi thường xuyên không xếp vào các nhóm trên.

Các khoản chi đầu tư phát triển là những khoản chi có thời hạn tác động dài thường trên một năm, hình thành nên những tài sản vật chất có khả năng tạo được nguồn thu, trực tiếp làm tăng cơ sở vật chất củađất nước.

Các khoản chi đầu tư phát triển bao gồm:

Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội không hoặc chậm có khả năng thu hồi vốn như: các công trình giao thông, điện lực, bưu chính viễn thông, các công trình văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi công công..; chi mua hàng hoá, vật tư dự trữ của NN; đầu tư hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp cần thiết phải có sự tham gia của NN; chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án của NN.

13

Các khoản chi khác bao gồm những khoản chi còn lại không được xếp vào hai nhóm chi kể trên bao gồm như: chi trả nợ gốc và lãi, chi bổ sung cho các ngân sách cấp dưới; chi chuyển nguồn từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau.

Việc phân loại các khoản chi thành chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển là rất cần thiết trong quản lý NSNN. Nó cho phép đánh giá, so sánh các khoản chi thường xuyên phải bỏ ra cho các hoạt động quản lý kinh tế - xã hội của NN làm cơ sở để xác định được hiệu quả hoạt động của các đơn vị. Sự khác biệt trong kỹ thuật quản lý giữa chi thường xuyên và chi đầu tư cũng là một lý do giải thích cho sự cần thiết của việc phận loại này. Trong chi đầu tư phát triển, kỹ thuật lựa chọn các dự án phải dựa trên việc phân tích đánh giá chi phí và lợi ích trong dài hạn, điều này hoàn toàn khác với cách đánh giá các khoản chi thường xuyên có tính chất ngắn hạn. Nếu một quốc gia muốn tăng trưởng trong dài hạn thì cần ưu tiên chi NSNN cho các chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội. Cách phân loại này cung cấp các thông tin cần thiết để NN phân bổ cũng như quản lý NS cho các hoạt động đầu tư đó. Nó còn đáp ứng cho mục đích thống kê tài chính của Chính phủ, đồng thời giúp cho việc kiểm soát tuân thủ các tiêu chuẩn định mức chi tiêu của NN cũng như phân tích kinh tế đảm bảo cân đối giữa các nhóm, mục chi.

* Phân loại theo tổ chức hành chính:

Phân loại theo tổ chức bộ máy hành chính NN là cần thiết để xác định rõ trách nhiệm quản lý chi công cộng cho từng bộ, ngành, cơ quan, đơn vị và cũng cần thiết cho quản lý thực hiện NS hàng ngày, ví dụ: giao dịch thu, chi qua kho bạc NN. Theo cách phân loại này chi NS được phân loại theo các bộ, cục, sở, ban hoặc cơ quan đơn vị thụ hưởng NSNN theo cấp quản lý: trung ương, tỉnh, huyện hay bản. Chi NS còn được phân loại theo đơn vị dự toán các cấp bao gồm: cấp I, cấp II, cấp III nhằm làm rõ trách nhiệm từng cấp trong quản lý NS nói chung và kế toán, kiểm toán và quyết toán NSNN nói riêng.

14

Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị trực tiếp nhận dự toán NS hàng năm do Thủ tướng Chính phủ giao. Đơn vị dự toán cấp I thực hiện phân bổ, giao dự toán NS cho đơn vị cấp dưới trực thuộc, chịu trách nhiệm trước NN về tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán NS của đơn vị mình và công tác kế toán quyết toán của đơn vị cấp dưới trực thuộc.

Đơn vị dự toán cấp II là đơn vị cấp dưới đơn vị dự toán cấp I, được đơn vị dự toán cấp I giao dự toán và phân bổ dự toán được giao cho đơn vị dự toán cấp III (trường hợp được uỷ quyền của đơn vị dự toán cấp I), chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác kế toán và quyết toán NS của đơn vị mình và công tác kế toán, quyết toán của các đơn vị dự toán cấp dưới.

Đơn vị dự toán cấp III là đơn vị trực tiếp sử dụng NS, được đơn vị dự toán cấp I hoặc cấp II giao dự toán NS, có trách nhiệm tổ chức, thực hiện công tác kế toán và quyết toán NS của đơn vị mình, và đơn vị sử dụng NS trực thuộc (nếu có).

Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán.

Một phần của tài liệu QUẢN lý CHI NGÂN SÁCH NHÀ nước QUA KHO bạc NHÀ nước tại TỈNH SÊKON (Trang 23 - 26)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(110 trang)