7. Bố cục của luận văn
1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Bối cảnh kinh tế Nhật Bản từ 1854 đến 1867
1.2.1.
1.2.1.1. Hoàn cảnh địa lý
Nhật Bản là một quốc đảo nằm ở phía Tây Bắc lòng chảo Thái Bình Dương, là nước có hơn 4000 đảo lớn nhỏ, trong đó có 4 đảo lớn nhất là Honshu (本州), Hokkaido (北海道), Kyushu (九州), và Shikoku (四国) (theo thứ tự từ lớn tới nhỏ). Một trong những điều kiện địa lý có ảnh hưởng quan trọng đến sự hình thành và phát triển văn hóa Nhật Bản là nước Nhật nằm cách rời đại lục Trung Hoa bởi một eo biển khá rộng khoảng 700km và có nhiều sóng lớn. Nước ở gần Nhật nhất là Triều Tiên mà cũng cách Nhật Bản khoảng 180km, tức gấp 3 lần eo biển Dover giữa Anh và Pháp.
Tính chất đảo không chỉ tạo nên một hoàn cảnh địa lý đặc thù trong sự phát triển của nước Nhật, nó tạo nên vị thế cô lập làm cho việc giao lưu khó khăn những lại thuận lợi trong việc giữ gìn độc lập. Ngày xưa, do kỹ thuật đóng tàu còn thô sơ nên việc di chuyển giữa Nhật Bản và các nước khó khăn do đó khoảng cách giữa Nhật và đại lục càng có ý nghĩa trong sự hình thành, phát triển văn hóa Nhật Bản. Dẫn theo lời của Giáo sư Đào Trinh Nhất trong tác phẩm Nhật Bản Duy tân 30 năm của ông trình bày về phong thổ của Nhật Bản, “Nhật Bản hiệp liền nhiều cù lao lớn
nhỏ liền khít nhau mà thành một nước ở riêng hẳn ngoài biển, cách biệt đại lục vừa chừng, không quá xa mà cũng không gần quá. Nước Nhật chiếm được địa lợi đó rất hay...bên ngoài là biển rộng sóng to, nhờ có sóng gió làm bức thành ngăn cản ngoại địch nên mỗi năm họ chỉ phải lo giữ gìn đất nước trong 6 tháng mà thôi. Còn 6 tháng kia đã có sóng gió giữ giùm, họ được yên tâm lo việc sinh tồn và giáo hóa trong nước... ” từ đó cho thấy địa lý là một sức mạnh tự nhiên góp phần vào tạo nên
sự phát triển đất nước mặt trời mọc khi hội đủ cả 3 yếu tố thiên thời – địa lợi – nhân hòa (Đào Trinh Nhất, 2015, trang 45-46).
Sự chia cắt địa lý làm cho việc quản lý đất nước khó khăn do có sự tồn tại của hàng trăm vương quốc lớn nhỏ với những luật lệ riêng, nhưng nhờ đó mà Nhật Bản đã hình thành nên tính tự trị của chính quyền địa phương. Về mặt khí hậu thì Nhật Bản rất thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp dù Nhật Bản có hơn ¾ lãnh thổ là núi, 73% là diện tích tự nhiên trong cả nước. Cũng như nhiều nước ở châu Á khác vị thế xã hội Nhật Bản nghề nông là nghề quan trọng. Bên cạnh đó, do vị trí lãnh thổ nằm ở nơi tiếp xúc giữa 4 lục địa Á – Âu, Bắc Mỹ, Thái Bình Dương và biển Philippines; còn các quần đảo của Nhật Bản hình thành do các đợt vận động tạo sơn nên Nhật Bản còn phải hứng chịu nhiều thiên tai như động đất, núi lửa, sóng thần. Chính vì những khó khăn do thiên nhiên mang đến đã hình thành nên tính cách con người Nhật Bản đoàn kết, có trách nhiệm xây dựng cộng đồng, không ngừng vươn lên, sáng tạo để tìm ra cách ứng phó với thiên tai cũng như sự tham gia tự nguyện vào việc xây dựng và bảo vệ cộng đồng.
Như vậy, yếu tố phong thổ đã tác động rất lớn đến quá trình phát triển của xã hội, hình thành nên cách quản lý xã hội cộng đồng khép kín đoàn kết và phẩm cách của con người Nhật Bản với tinh thần trách nhiệm, cần cù, nhẫn nại và không lùi bước trước khó khăn, nghịch cảnh và thiên tai.
1.2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội Nhật Bản cuối thời phong kiến
Thời Edo (1603 – 1868) là thời kỳ phát triển cuối cùng và cao nhất của chế độ phong kiến Nhật Bản, tình hình kinh tế – xã hội có những bước phát triển nhất định. Nền công nghiệp phát triển kéo theo sự phát triển của giao thông, thương mại trong cả nước. Tuy nhiên đến thế kỷ XVIII tình trạng túng quẫn về tài chính của chính quyền Mạc phủ đã gây nên những biến động về kinh tế – xã hội, ảnh hưởng đến các giai tầng trong xã hội đặc biệt là giai cấp nông dân. Tuy nhiên nhờ có các đạo luật cấm mua bán ruộng đất, cấm chia nhỏ ruộng đất nên tình trạng phân hóa nông thôn đã giảm bớt, tạo điều kiện cho các cơ sở thủ công nghiệp được duy trì.
Chính sách “Đóng cửa” đã tạo điều kiện để Nhật Bản đẩy mạnh trao đổi, buôn bán trong nước nhằm củng cố sức mạnh của nền kinh tế từ bên trong và chuẩn bị
nội lực để đối phó với các biến động bên ngoài. Nhưng sự phát triển mạnh mẽ của các nước chủ nghĩa tư bản phương Tây và dưới áp lực của Mỹ, chính quyền Mạc phủ đành phải đồng ý “Mở cửa” vào năm 1854, sau đó những hiệp ước bất bình đẳng lần lượt được ký với các nước Anh, Pháp, Nga làm cho Nhật Bản rơi vào tình trạng không kiểm soát được, gây ra bất ổn đối với nền kinh tế trong nước.
Điều này làm bộc lộ rõ những hạn chế của nền kinh tế trước yêu cầu cấp thiết phải tiến hành canh tân đất nước, trước những áp lực nội tại và sự va chạm sức mạnh của các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phương Tây.
1.2.1.3. Những mầm móng của tư bản chủ nghĩa
Sự phát triển mạnh mẽ của đẳng cấp công thương cùng với nền kinh tế hàng hóa và nền sản xuất mang tính chuyên môn hóa đã làm nảy sinh mầm mống tư bản chủ nghĩa ở Nhật Bản. Vào cuối thời Edo, sau khi thương mại quốc tế được nối lại bằng chính sách “Mở cửa” năm 1854 thì nền kinh tế Nhật Bản đã từng bước bị tiền tệ hóa, thị trường hóa một cách nhanh chóng. Nông nghiệp tự cung tự cấp trở thành nền nông nghiệp bị thương mại hóa, thương nhân ngày càng gia tăng sự giàu có và thế lực. Song song đó là tình trạng chiếm ruộng đất của các phú nông để tiến hành các hình thức kinh doanh mới, người nông dân nghèo bị mất đất canh tác khiến họ rời bỏ ruộng đất để tham gia vào các hoạt động thủ công nghiệp hay lên thành thị kiếm công ăn việc làm. Cùng với đó là sự phát đạt của các công trường thủ công làm cho nhu cầu sử dụng lao động làm thuê ngày càng phổ biến. Đây chính là những điều kiện cơ bản nhất báo hiệu sự nảy mầm của chủ nghĩa tư bản trong kinh tế Nhật Bản trước công cuộc Minh Trị Duy tân.
1.2.1.4. Nông nghiệp là ngành chủ đạo
Cơ cấu kinh tế thời Edo có ba ngành độc lập là nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp. Trong đó nông nghiệp là ngành chủ đạo, ngành sản xuất căn bản của xã hội phong kiến châu Á nói chung và Nhật Bản nói riêng. Nhưng nông nghiệp ở Nhật Bản lúc này có sự chuyển biến từ tự cung tự cấp sang nền sản xuất hàng hóa giản đơn,
chính sách phát triển kinh tế của Nhật Bản là coi nông nghiệp là trung tâm của hoạt động kinh tế nên đã ban hành nhiều chính sách để tăng năng suất nông nghiệp.
Biểu đồ 1.1: Chỉ số tăng trưởng nông nghiệp (1600 – 1872)
Chú thích
Màu đỏ: đất canh tác;
Màu nâu: dân số (triệu người);
Màu xanh lá: đầu ra sản phẩm nông
nghiệp.
Nguồn: (Michael Smitka, 2009, trang 8)
Biểu đồ 1.2: Đo lường năng suất nông nghiệp (1600 – 1872)
Chú thích
Màu đỏ: sản lượng bình quân/ người;
Màu xanh dương: diện tích đất canh
tác/ người;
Màu xanh lá: sản lượng bình quân/
đơn vị đất đai.
Nguồn: (Michael Smitka, 2009, trang 8) Như vậy sự phát triển kinh tế thời Edo đã tạo tiền đề quan trọng đóng góp cho sự nghiệp CNH – HĐH của Nhật Bản gồm những điểm như: nền chính trị thống nhất và ổn định; phát triển nông nghiệp cả về diện tích lẫn sản lượng; ngành giao thông vận tải được nhìn nhận là huyết mạch giao thương của cả nước; sự phát triển của thương mại, tài chính và tầng lớp thương nhân giàu có; sự ra đời của các
phương thức sản xuất mới; bên cạnh các chính sách về kinh tế chính quyền còn tích cực mở trường học nên ngành giáo dục cũng phát triển với tỷ lệ người biết chữ cao.
Chiến lược phát triển kinh tế thời Minh Trị (1868 - 1912)
1.2.2.
Sau khi giành lại được quyền kiểm soát đất nước từ tay chính quyền Mạc phủ, chính phủ Minh Trị đã đề ra cho mình một chiến lược phát triển và công nghiệp hóa đất nước nhằm: (1) phòng thủ đất nước, chống xâm lăng của các nước phương Tây; và (2) HĐH Nhật Bản. Giới lãnh đạo Minh Trị đã nhận thức được tình hình đất nước và khu vực lúc đó, buộc họ phải cải cách nhanh chóng.
Thứ nhất, đến giữa thế kỷ XIX Nhật Bản vẫn còn là nước phong kiến với nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu.
Thứ hai, sự tiếp xúc với phương Tây tuy ngắn ngủi nhưng cũng đã gây ra
những ấn tượng khá sâu sắc và đủ làm cho giới lãnh đạo Nhật Bản hiểu ra rằng các cường quốc phương Tây với sức mạnh kinh tế và quân sự hơn hẳn so với phương Đông, đã và đang chứng tỏ ưu thế bằng cách chinh phục và thôn tính phương Đông.
Thứ ba, trong nước những phần tử chống đối chính phủ mới thuộc tầng lớp võ
sĩ bất mãn ở một số lãnh địa do bị tước quyền lợi kinh tế và chính trị vẫn còn mạnh. Chính phủ Minh Trị cho rằng sự yếu kém về quân sự, sự lạc hậu về kinh tế và sự bất ổn định về chính trị có thể rất dễ làm cho Nhật Bản trở thành miếng mồi ngon của các cường quốc phương Tây. Vì thế không còn cách nào khác là Nhật Bản cần nhanh chóng áp dụng các phương pháp phương Tây vào chiến tranh và vào công nghiệp để làm cho Nhật Bản lớn mạnh về kinh tế, cũng như giữ vững nền độc lập của mình trước các cường quốc phương Tây.
Như vậy ngay từ đầu, CNH ở Nhật Bản đã đưa ra 2 mục tiêu chiến lược gắn bó chặt chẽ với nhau: HĐH quân sự và phát triển kinh tế với quyết tâm cao xây dựng một Nhật Bản Phú quốc cường binh không bị lệ thuộc vào phương Tây.
Tiểu kết chương 1
Ở chương này chúng tôi đã trình bày các vấn đề liên quan đến CNH từ khái niệm theo các quan niệm khác nhau của các nhà nghiên cứu đến nội dung và tính tất yếu khách quan mà bất cứ quốc gia nào cũng sẽ tiến hành CNH ở quốc gia của mình trong bối cảnh nền kinh tế thị trường. Và các mô hình CNH mà các nước CNH đã thực hiện thành công.
Cùng với đó là các vấn đề thực tiễn tại Nhật Bản, chính hoàn cảnh địa lý tạo nên sự phát triển của quốc đảo Nhật Bản. Và tổng quan về bối cảnh kinh tế - xã hội cuối thời phong kiến (1854 – 1868) đã có sự xuất hiện của các phương thức sản xuất mới, chính sách đóng cửa giúp Nhật Bản đẩy mạnh trao đổi, buôn bán trong nước nhằm củng cố sức mạnh của nền kinh tế từ bên trong và chuẩn bị nội lực để đối phó với các nước phương Tây. Và chiến lược phát triển kinh tế thời Minh Trị là phải phòng thủ đất nước, chống xâm lăng của các thế lực phương Tây; đồng thời đẩy mạnh phát triển kinh tế với phương châm Phú quốc cường binh thông qua quá trình
CHƯƠNG 2
NHỮNG TIỀN ĐỀ CHO CÔNG NGHIỆP HÓA NHẬT BẢN THỜI MINH TRỊ (GIAI ĐOẠN 1868 – 1885)
Để đạt được mục tiêu CNH thì bước chuẩn bị tiền đề là một bước cơ bản và mang tính quyết định sự thành công của quá trình thực hiện mục tiêu CNH Nhật Bản lúc này. Ba tiền đề quyết định sự thành công cho quá trình CNH đó chính là: (1) Thể chế; (2) Vốn; và (3) Nguồn nhân lực.
2.1. THỂ CHẾ
Sau khi lật đổ chính quyền Mạc phủ, xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ còn chưa ổn định. Do đó muốn phát triển kinh tế mà cụ thể là thực hiện mục tiêu CNH thì trước hết phải ổn định được đất nước hay nói cách khác là tình hình chính trị trong nước phải được đảm bảo. Việc này được tiến hành đồng thời bằng các hoạt động cải tổ bộ máy chính quyền; thực hiện Bản tịch phụng hoàn và Phế Han lập Ken; tiến hành
tạo dựng lực lượng quân đội của chính phủ; và xây dựng một trật tự xã hội mới thay thế cho xã hội phong kiến bị lật đổ.
Tổ chức lại bộ máy chính quyền và xây dựng luật pháp 2.1.1.
Chính phủ Minh Trị được tổ chức theo hình thức Thái chính quan (太政官), đứng đầu là hoàng thân Arisugawa no Miya. Dưới là một cơ quan có tên gọi là Gijo (議定), dưới Gijo là Sanyo (参与); năm 1885 Sanyo được thay thế bằng Sangi (参議). Hai cơ quan đứng đầu chính phủ Minh Trị trong thời kỳ đầu là Gijo và Sanyo thì số người xuất thân ở các Han Tây Nam Satsuma, Choshu, Tosa và Hizen lúc nào cũng chiếm tỷ lệ khá cao. Có hai nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là:
(1) Các Han này là những địa phương có công lớn trong việc lật đổ chính quyền Mạc phủ nên sau khi chính quyền Minh Trị được thành lập họ được ban thưởng những chức vụ cao trong chính phủ.
(2) Do mới thành lập nên chính quyền Minh Trị rất cần những quan chức có kiến thức sâu rộng để quản lý đất nước, đặc biệt là những người đã từng đi du học về cách thức tổ chức bộ máy hành chính, về kinh tế, chính trị hay quân sự ở các nước phương Tây. Và có rất nhiều người ở Han Tây Nam đáp ứng được điều này. Han Tây Nam Satsuma, Choshu, Tosa và Hizen là những Han đầu tiên trong cả nước tiến hành cải cách kinh tế, quân sự, chính trị và đã thành công rực rỡ. Những Han này đã đưa ra những chính sách CNH hết sức thiết thực và có hiệu quả.
Chính vì thế để thực hiện phương châm Phú quốc cường binh, tiến hành CNH đất nước chính quyền Minh Trị non trẻ rất cần những kinh nghiệm quý báu từ các Han này. Vì vậy mà những người ở Han Tây Nam dễ dàng thâm nhập vào chính phủ và dần dần nắm giữ những chức vụ quan trọng. Chính những Han Tây Nam đã đưa ra những kiểu mẫu đầu tiên giúp chính quyền mới xây dựng Nhà nước cũng như tiến hành cải cách trên tất cả các lĩnh vực.
Sơ đồ 2.1: Bộ máy tổ chức chính quyền Minh Trị
Th ái C hí nh Q uan Hoàng thân
Arisugawa no Miya Đứng đầu Thái Chính Quan là Hoàng thân Arisugawa no Miya.
Gijo
Gồm 10 thành viên là những quý tộc triều đình đã ủng hộ Thiên Hoàng chống lại Mạc Phủ và những Daimyo dẫn đầu trong phong trào “đảo Mạc” là Satsuma, Choshu, Tosa và Hizen.
Có vai trò như những người đứng đầu các cơ quan đầu não của chính quyền Minh Trị.
Sanyo (Sangi)
`Gồm 19 thành viên lúc đầu sau đó tăng lên 102 người, trong đó có 50 người xuất thân từ quý tộc triều đình, 53 người xuất thân từ các Han ở địa phương.
Tháng 8 năm 1885, Sanyo được thay thế bằng Sangi. Họ có vai trò rất lớn và trở thành những người ban hành và kiểm soát các chính sách của quốc gia trên mọi lĩnh vực.
Nguồn: Tác giả tổng hợp. Chính vì hiểu được chính phủ muốn cai quản được đất nước thì bộ máy chính quyền phải mạnh bên cạnh việc tổ chức lại bộ máy quan chức bao gồm những người có năng lực, có học thức và phải được nhân dân kính trọng, nể sợ; họ được giao
quyền lực lớn hơn, được hưởng lương cao hơn và đồng thời cũng phải gánh chịu những trách nhiệm nặng nề trước công việc mình làm; vào tháng 4 năm 1868 Thiên Hoàng Minh Trị cho công bố Năm điều thề nguyện được coi là cương lĩnh cho công cuộc Duy tân xây dựng nước Nhật Phú quốc cường binh, là cơ sở pháp lý để tiến
hành hàng loạt cải cách trên tất cả lĩnh vực của đời sống xã hội Nhật Bản, đánh dấu sự chuẩn bị về mặt tư tưởng cho việc xây dựng chính quyền mới cũng như kế hoạch hành động trong thời gian tới.